Nhà tôi vừa bán lứa lợn con để đong thóc. Nắng lên, vườn bưởi bắt đầu bị sâu bệnh thì chị Thanh dắt một anh chàng về ra mắt. Anh này nghe nói là người trên vùng thượng lưu sông Bôi, người ngắn ngủn, mình mẩy, tay, chân như được tạc vội từ một cục thịt. Được cái khuôn mặt to, nước da ngăm đen và rất ít nói. Tay rót trà vào cái chén da lươn, bố tôi lòng trĩu nặng, giấu con gái cái hơi thở dài của bộ não đang thiếu nhiều thứ oxy. Mẹ tôi dưới bếp thổi lửa mà chốc chốc lại nghển cổ lên ngóng sợ có cái chén nào trên ấy lại vỡ. Năm gian nhà ngói bền bỉ chống chịu hai mươi năm mưa, bão giờ võng xuống như sắp sập trong làn khói thuốc lá của cha tôi.
Tôi rón rén đến ngồi cạnh bậu cửa, chưa biết làm thế nào để phá băng bầu không khí đang đặc quánh thuốc lá, ngay cả tiếng con cá quả quẫy ngoài ao hình như cũng vọng đến tai tôi. Mắt tôi lơ đãng nhìn ra vườn, đắm chìm vào những suy tư dưới nắng xuân vàng óng trên những cành bưởi. Cứ thế này, khéo lát nữa cha tôi sẽ lấy cớ đi cho đám lợn ăn, đi thăm mấy đõ ong, rồi không khéo mọi chuyện lại chả đâu vào đâu như mấy lần chị Thanh dẫn bạn trai là mấy anh chàng ở thành phố về. Bỗng, anh bạn trai của chị Thanh bật phắt dậy, cả nhà đều tròn mắt nhìn vào phía chàng “Sọ Dừa”. Anh ấy chỉ kịp nói vội với bố tôi rồi chân đất lao bổ ra vườn:
- Bố… là con cày.
Bố tôi chưa kịp há hốc miệng thì đã thấy đôi chân ngẳn ngủn của anh “Sọ Dừa” băng qua những gốc bưởi với cành gỗ xoan trên tay. Cả nhà ngớ ra, “sao lại nói cái câu ấy vào lúc này?”. Buổi “ra mắt” biến thành cuộc rượt đuổi. Cha tôi mấy bữa nay căm lũ cày cáo nên đã kiếm được cây gậy, tôi cán chổi tre dài, mẹ tôi cầm con dao quắm đi nương, tất cả vừa chạy vừa hô hoán chỉ chỏ. Con cày chạy nhanh như tên, đám gà nhớn nhác chui vào hết các đống củi, góc chuồng bò, không dám ló mặt ra. Con gà giống quý cuối cùng của cha tôi đã bị con cày lôi biến vào bụi tre rậm rạp, chỉ còn mấy cọng lông lơ phơ dính quanh bàn chân anh “Sọ Dừa” đang tứa máu vì gai cào. Cha tôi thấy thế buông một câu:
- Về thôi các con.
Nghe câu hiệu lệnh thu quân kiểu “vơ đũa cả nắm”, đôi má chị Thanh tôi đỏ ửng, quay đi cưởi tủm một cái. Thoát cái, hai anh chị đã làm thịt xong con gà mái tơ, chặt xếp bằng hai đĩa đặt lên mâm cơm. Từ sau bữa ấy, anh “Sọ Dừa” hay qua lại, tự dưng cái vườn bưởi chả cần phun thuốc cũng hết sâu bệnh. Hóa ra, anh làm cái cách rất thổ dân là bắt cóc một loài kiến đến cắn rệp, cái mà các nhà sinh học gọi là thiên địch. Con cày rồi cũng sa bẫy, cả nhà được bữa thịt thú rừng làm vui lòng các bác họ bên nội. Hôm tát ao nhà tôi, cái món lòng cá chấm rau đồ mà anh tự tay chế biến được các cậu bên ngoại khen lấy khen để là món ăn đậm đà bản sắc. Mỗi lần chị Thanh từ ngoài thành phố về, anh ta lại rón rén đến. Khi thì anh ngó cái cây, khi thì anh trèo hái hoa đu đủ đực để làm món đồ, khi thì lại thấy anh “Sọ Dừa”mò xuống ao bắt con chai, con cua. Hình như anh sợ nếu không lân la như thế thì lấy đâu ra chữ nghĩa mà ngồi thưa chuyện với bố tôi thì phải.
*
Sấm đã vang phía cuối trời, còn gần tháng nữa là mùa ngâu. Thế mà, cứ hết lần này, lần khác anh “Sọ Dừa” đến chơi, nhà tôi chưa thấy tin tức, hơi hướm gì bên nhà giai. Hai bên gia đình đợi nhau, lại như thể ngóng chờ sẽ có một cái biến nào đấy để thúc đẩy đám cưới nhanh hơn. Giờ thấy anh “Sọ Dừa” cứ lặp đi, lặp lại những “trò quen” thì thấy anh như người… lạ. Có hôm bực quá, giữa mâm cơm chiều thứ sáu bố tôi bảo:
- Không biết vì cái gì mà nhà ông trên kia không xuống rước quách con Thanh đi. Nhà này chỉ cần con Vân về sau bố cho chàng nào ở rể là được.
Đêm ấy, hình như bố mẹ tôi lại giận nhau, ba lần sinh nở chỉ giữ được mỗi chị ấy, sao mẹ tôi không chạnh lòng chứ. Sau này chả biết bố tôi đánh tiếng nhờ ai làm mai làm mối, lên bày đường đi, nước bước cho nhà trai. Các cụ biết lý số bói toán trong làng bảo, mệnh của chị Thanh là cha mẹ không được thăm nom, đón rước trước và trong lễ cưới. Ngày chị lên xe hoa, vườn bưởi đã lúc lỉu quả, cha tôi mặt vuông chữ điền, râu quai nón, ăn to nói lớn là vậy mà lúc đón dâu cũng chạy ra một góc vườn để chùi nước mắt. Tôi chạy theo cha, cha bảo ngày xưa chôn cất mấy đứa con đỏ hỏn vừa lọt lòng, cha cũng chưa hề rơi nước mắt như hôm nay. Cha đuổi tôi quay vào, tôi nhìn lên phía trên đầu cha có cái tổ chim sẻ vừa mới kết cỏ mới tinh.
*
Tôi bước vào căn nhà nhỏ nằm bên một khe suối, căn nhà bé quá so với mấy cặp vợ chồng đang sống trong đó. Nhà anh rể tôi là dân ngụ cư nên không có nhiều đất. Những ngày trong tuần, chị tôi đi học trên thành phố, anh “Sọ Dừa” ngày đi làm thuê, tối tha thẩn hết các nhà hàng xóm rồi đêm khuya mới về nằm ở cái giường gỗ xoan gai ngay đầu hồi. Mâm cơm đón bố vợ của anh cũng bình dị như mọi ngày ngoại trừ mấy con cá suối, con gà choai vừa bắt từ trên đồi. Bao năm sống trong mái nhà tôi, hôm nay nhìn chị Thanh như một người xa lạ ở cái làng này. Rượu trên tay cha tôi mãi vẫn còn nguyên lưng chén, hình như men rừng thơm nồng làm ông nghẹn, mà lại như vì rượu ngọt quá. Ngấm cái men ấy rồi, nhìn vẻ mặt cha tôi bỗng tươi hẳn lên.
Lúc về qua con suối, nơi rác rưởi vẫn còn nổi lềnh phềnh, dấu tích sau một trận mưa lụt, cha tôi nhặt một hòn cuội bỏ vào túi áo. Tôi đang định hỏi thì đã thấy anh “Sọ Dừa” lao xuống con suối cạn vớt thêm mấy viên sỏi khác đẹp hơn rồi bảo cha tôi mang về bỏ vào chậu cây cảnh. Cha tôi lôi tay anh lên:
- Thôi con, bố chỉ lấy một hòn cuội này về ghi lại cái ngày hôm nay, ngày mà bố lần đầu lên nhà con để làm kỷ niệm. Sau này về mà chăm vườn cho bố, không có mày đám cày, cáo rồi sâu, rệp lại phá vườn thì sao. Cứ về, đất đấy, nguồn nước ấy, chỉ sợ hai đứa mày không có sức làm thôi con ạ.
Anh rể vốn đã ít nói, giờ chả biết nói gì cứ đứng ngây người ra như người bắt được vàng, hai bàn tay buông những viên cuội rơi tõm xuống dòng suối đang chảy lững lờ về phía có ngôi làng tôi. Cái giây phút bên bờ suối ấy, cả nhà tôi lại lặng im như buổi ra mắt đầu tiên. Lần này thì không hy vọng có con cày nào chạy qua rồi. Thế nên, tôi kéo tay bố bảo:
- Thế bố không để dành cho con rể út đến ở rể à?
- Ờ (bố tôi cười), cứ là rể hiền như anh rể con thì bố cho ở rể tất. Con rể là con trai của bố mà!