“Phù sa mới” cho Đồng bằng sông Cửu Long

ĐBSCL đang đối diện nghịch lý sông rạch dày đặc nhưng mùa khô vẫn thiếu nước sinh hoạt. Khi giải pháp công trình truyền thống dần bộc lộ giới hạn, khoa học dữ liệu và hợp tác quốc tế được kỳ vọng tạo “phù sa mới”, mở lối thích ứng bền vững cho hơn 19 triệu dân vùng châu thổ.

Đo cảm biến IoT năng lượng mặt trời giám sát mực nước, độ mặn ở Cà Mau.
Đo cảm biến IoT năng lượng mặt trời giám sát mực nước, độ mặn ở Cà Mau.

“Cú huých” từ khoa học

Có thời điểm 40-50% diện tích ĐBSCL thiếu nước ngọt; hệ thống cấp nước tập trung chỉ đáp ứng hơn 30% nhu cầu. Khoảng trống hạ tầng buộc người dân khoan giếng tự cứu mình và cứu cây trồng, vật nuôi. Ông Nguyễn Hạnh Phúc, Chủ tịch Hội Cấp nước Đồng bằng sông Cửu Long, cho rằng hạ tầng cấp nước nông thôn còn manh mún, thiếu nguồn lực duy tu. Khi nước mặt không ổn định, nước ngầm trở thành “phao cứu sinh”. Mỗi ngày khoảng 2 triệu m³ bị khai thác, kéo theo sụt lún 0,5-3 cm/năm. Đất lún làm triều cường gia tăng, xâm nhập mặn tiến sâu, tạo vòng xoáy thiếu nước -khoan giếng - lún đất.

Những năm qua, ngân sách Trung ương và địa phương bố trí gần 1.000 tỷ đồng đầu tư các công trình chống hạn, mặn, giữ vai trò chủ đạo trong bảo đảm an ninh nguồn nước. Song song đó, nhiều địa phương mở rộng hợp tác quốc tế để nhận hỗ trợ kỹ thuật, thí điểm mô hình linh hoạt quy mô nhỏ, bổ trợ cho hạ tầng lớn.

Tại xã U Minh (Cà Mau), mô hình đập thép điều tiết mặn - ngọt do GIZ (Cơ quan Hợp tác quốc tế Đức) hỗ trợ được ví như một “tế bào” nhỏ tái tạo mắt xích kiểm soát nước nội đồng. Công trình dạng module lắp ghép, cửa van nâng hạ theo thủy triều và độ mặn: mặn tăng thì đóng giữ nước, triều rút thì mở đón dòng vào ruộng. Ông Nguyễn Thanh Tùng, Phó Chi cục trưởng Thủy lợi tỉnh Cà Mau, đánh giá đập thép phù hợp các ô thủy lợi nhỏ và vừa, nơi cần phản ứng nhanh trước biến động khí hậu nhờ tính linh hoạt và khả năng di dời khi cần.

So với cống bê-tông quy mô trung bình cần vốn lớn và thời gian thi công kéo dài, đập thép nội đồng có chi phí thấp hơn, phù hợp ngân sách cơ sở. Dù không thay thế hoàn toàn hạ tầng lớn, mô hình này có thể xem là “van điều tiết” tại chỗ trong mạng lưới kiểm soát mặn phân tầng. Ông Doãn Việt Công, Trưởng ấp 7, xã Khánh Lâm cho biết, sau một mùa khô vận hành, số hộ phải mua nước hoặc khoan giếng bổ sung giảm rõ rệt. Khi giữ được nước ngọt mặt, áp lực khai thác nước ngầm giảm theo, đồng nghĩa giảm nguy cơ sụt lún.

Chìa khóa bền vững cho tương lai

Những công trình đơn lẻ khó tạo đột phá nếu thiếu một nền tảng dữ liệu đủ mạnh. Trong bối cảnh đó, Dự án Hỗ trợ Kỹ thuật giai đoạn 2 (TC2) giữa JICA (Nhật Bản) và Đại học Cần Thơ (2022-2025) được xây dựng như cầu nối chuyển dữ liệu thành hành động. Dự án không chỉ triển khai 12 mô hình nghiên cứu mà còn phát triển chương trình đào tạo nông nghiệp thông minh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững vùng châu thổ.

Hợp phần trọng điểm là Trung tâm Khai thác dữ liệu phục vụ phát triển bền vững ĐBSCL - “Knowledge Hub”. Trung tâm không dừng ở việc lập và lưu trữ số liệu sụt lún, xâm nhập mặn mà biến bản đồ rủi ro thành khuyến nghị chính sách và hướng dẫn sản xuất. Thông qua tập huấn, cán bộ địa phương được hướng dẫn khai thác dữ liệu trên nền tảng trực tuyến để phục vụ quản lý tài nguyên, môi trường và phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu ứng dụng và hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Tại mô hình số 11, Tiến sĩ Trương Minh Thái, Trưởng khoa Công nghệ Phần mềm, cùng sinh viên phát triển hệ thống cảm biến “made in Cần Thơ” theo hướng mở rộng quy mô. Từ diện tích thử nghiệm 1.000 m², nhóm đang hoàn thiện nguyên mẫu có thể đại diện hàng chục héc-ta. Ở tầm vĩ mô, 12 mô hình của dự án còn là “xưởng đào tạo phù sa mới”. Sinh viên các ngành công nghệ thông tin, nông nghiệp, thủy sản, kinh tế trực tiếp tham gia thiết kế, lắp ráp, xử lý dữ liệu, làm việc cùng chuyên gia Nhật Bản từ TUAT, KIT. PGS, TS Văn Phạm Đăng Trí, Viện trưởng Mekong nhấn mạnh: “Dự án đã đào tạo hàng nghìn sinh viên liên ngành. Khi ra trường, họ sẽ mang tri thức khoa học trở về địa phương, chuyển dữ liệu thành giải pháp cụ thể cho từng lĩnh vực”.

“Dữ liệu chuẩn xác không chỉ phục vụ sản xuất mà còn là nền tảng hợp tác nguồn nước liên quốc gia. Khi có chung hệ thống bằng chứng, quyết định sẽ khách quan và dài hạn hơn. Knowledge Hub vì thế mở ra hướng “thích ứng thông minh”, đặt khoa học - công nghệ và đội ngũ trẻ vào trung tâm chiến lược phát triển bền vững của ĐBSCL”, GS, TS Hitoshi Tanaka, Đại học Tohoku (Nhật Bản), Cố vấn trưởng Dự án TC2 nhận định.

Tiêu điểm: Chủ động ứng phó xâm nhập mặn

Dù xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện chỉ ở ngưỡng trung bình nhiều năm, nhưng đã có thời điểm lấn sâu, tác động rõ rệt đến nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống dân sinh. Trước diễn biến khó lường, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương theo dõi chặt tại các cửa sông trọng yếu, chủ động vận hành hệ thống thủy lợi, lên kịch bản ứng phó nhằm bảo đảm an ninh nguồn nước.

1. Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm

2. Vùng cuối nguồn “khát” nước ngọt