Xác nhận hỗ trợ tiền thuê nhà cho gần 2,7 triệu lao động

Tính đến ngày 25/7, cơ quan bảo hiểm xã hội đã xác nhận hồ sơ về chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho gần 2,7 triệu người lao động.
Chế biến hàng xuất khẩu tại Công ty cổ phần Saigon Food (Ảnh: nhandan.vn).
Chế biến hàng xuất khẩu tại Công ty cổ phần Saigon Food (Ảnh: nhandan.vn).

Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, liên quan đến chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động, tính đến ngày 25/7/2022, cơ quan này đã xác nhận cho gần 2,7 triệu lao động.

Cụ thể, xác nhận theo Mẫu số 02 Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động (sau đây gọi tắt là Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg), đối với người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp với mức hỗ trợ là 500.000 đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng, tại 61 tỉnh, thành phố, đã xác nhận cho 32.980 đơn vị với 2.543.345 lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Việc xác nhận theo Mẫu số 03 Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg đối với người lao động quay trở lại thị trường lao động với mức hỗ trợ là 1.000.000 đồng/người/tháng, thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng, tại 50 tỉnh, thành phố, cơ quan bảo hiểm xã hội đã xác nhận cho 9.634 đơn vị với 151.848 lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Theo đánh giá, tiến độ giải ngân gói 6.600 tỷ đồng hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động của Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg vẫn rất chậm.

Thống kê của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội cho thấy, tính đến ngày 4/7, các tỉnh, thành phố, đã tiếp nhận hồ sơ của 13.880 doanh nghiệp để hỗ trợ cho 558.024 lao động với kinh phí hỗ trợ hơn 357 tỷ đồng tại 45 địa phương.

Các địa phương đã phê duyệt cho 280.954 lao động với tổng kinh phí là 209 tỷ đồng tại 38 địa phương. Đã có 15 địa phương giải ngân cho 13.541 lao động với kinh phí là hơn 70 tỷ đồng. Như vậy, so với kinh phí của cả gói hỗ trợ, tỷ lệ này còn rất thấp, hơn 1%.

Đồng thời, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã phối hợp chặt chẽ Bảo hiểm xã hội Việt Nam để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai. Bộ Công an cũng đã chỉ đạo các lực lượng chức năng ở địa phương hướng dẫn, cập nhật cơ sở dữ liệu để tránh việc trùng lặp. Hiện nay, các cơ quan và địa phương đã đồng loạt triển khai vấn đề này.

Thời hạn chậm nhất là ngày 15/8/2022 phải hoàn thành việc hỗ trợ này.

Do sự chậm chễ này, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo đẩy nhanh hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.

Cụ thể, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính và các cơ quan, địa phương liên quan khẩn trương kiểm tra, xác định nguyên nhân, có giải pháp đẩy nhanh việc hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.

Trước đó, ngày 3/7, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Khái ký ban hành Quyết định số 791/QĐ-TTg về nguyên tắc hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg.

Theo đó, Ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương 100% kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg.

Trường hợp kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chính sách vượt quá số nhu cầu kinh phí mà từng địa phương đã rà soát, báo cáo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; địa phương phải sử dụng ngân sách địa phương và các nguồn lực hợp pháp theo quy định để chi trả cho người lao động theo đối tượng và mức hỗ trợ quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg.

Trường hợp cân đối ngân sách địa phương khó khăn không đủ nguồn lực để thực hiện, địa phương báo cáo Bộ Tài chính tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp các cơ quan liên quan kiểm tra cụ thể việc bố trí, chi trả kinh phí hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động theo Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg.

Đồng thời, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, tổng hợp, báo cáo số liệu (đối tượng, nhu cầu kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chính sách) của các địa phương bảo đảm không vượt quá 6.600 tỷ đồng nguồn lực của ngân sách Trung ương đã được quyết định tại Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/1/2022 của Quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội và Nghị quyết số 521/NQ-UBTVQH15 ngày 14/6/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc bổ sung dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2021; phân bổ, sử dụng nguồn tăng thu, cắt giảm, tiết kiệm chi và kinh phí còn lại của ngân sách Trung ương năm 2021.

Bộ Tài chính căn cứ quy định tại Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và nguyên tắc hỗ trợ quy định tại Quyết định này để xem xét, hỗ trợ kịp thời từ ngân sách trung ương cho từng địa phương.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ theo đúng khoản 5 Điều 13 Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; chịu trách nhiệm toàn diện về số liệu báo cáo (đối tượng, kinh phí, ngân sách nhà nước thực hiện chính sách) của địa phương và bảo đảm chính xác chi trả đúng đối tượng và chế độ quy định.

Có thể bạn quan tâm

Các tổ bầu cử trên địa bàn phường Hoàn Kiếm hoàn tất việc trang trí khu vực bỏ phiếu, bảo đảm trang nghiêm, đúng quy định. (Ảnh ĐẠI LONG)

Ngành bảo hiểm xã hội nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân trước ngày bầu cử

Các đơn vị trực thuộc, bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, nâng cao chất lượng phục vụ người tham gia và thụ hưởng chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian diễn ra bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Hoạt động nghiệp vụ tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Chuyển đổi số (Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

Chỉ số hài lòng với phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 tăng hơn 2%

Chỉ số hài lòng chung của tổ chức, cá nhân đối với sự phục vụ của cơ quan bảo hiểm xã hội năm 2025 đạt 89,50%, tăng 2,03% so với năm 2024. Con số này cho thấy sự cải thiện về chất lượng phục vụ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như phản ánh hiệu quả của công tác cải cách hành chính, chuyển đổi số.

Lao động tại Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2. (Ảnh minh họa nhandan.vn)

Sổ bảo hiểm xã hội điện tử đủ thông tin như bản giấy, tích hợp tài khoản VNelD mức độ 2

Sổ bảo hiểm xã hội bản điện tử được tạo lập từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm theo mã số bảo hiểm xã hội duy nhất. Sổ được lưu trữ, cập nhật thường xuyên tại kho quản lý dữ liệu điện tử của người tham gia và được tích hợp với tài khoản VNelD mức độ 2, tài khoản VssID, chứa thông tin đầy đủ như sổ bảo hiểm xã hội bản giấy.

Sản xuất các sản phẩm dệt nhuộm tại Công ty TNHH Dệt nhuộm Jasan Việt Nam tại Khu công nghiệp Phố Nối B, tỉnh Hưng Yên. (Ảnh minh họa ÐĂNG DUY)

Đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính về bảo hiểm xã hội trong năm 2026

Kế hoạch cải cách hành chính năm 2026 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của hệ thống bảo hiểm xã hội.

Chụp X-quang tại Bệnh viện Bạch Mai.

Bảo hiểm xã hội Việt Nam phản hồi về việc giám định và thanh toán dịch vụ kỹ thuật hình ảnh

Việc hiểu hoặc áp dụng quy định theo hướng yêu cầu bác sĩ, kỹ thuật viên “chờ đủ thời gian” mới tiếp tục thực hiện ca dịch vụ kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trong khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa phù hợp bản chất của hướng dẫn y tế chuyên môn. Điều này có thể ảnh hưởng đến thời gian, quyền lợi của người bệnh bảo hiểm y tế.