Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI
Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Bước ngoặt của lịch sử nhân khẩu học

Già hóa dân số không còn là xu hướng của riêng các nước phát triển, mà đã trở thành đặc điểm nổi bật của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học trên phạm vi toàn cầu. Theo Liên hợp quốc, năm 2024 người từ 65 tuổi trở lên chiếm khoảng 10% dân số thế giới; đến năm 2050, tỷ lệ này dự tính tăng lên khoảng 16%, tương đương cứ sáu người thì có một người từ 65 tuổi trở lên. Đáng chú ý, phần lớn sự gia tăng này sẽ diễn ra tại các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình, nơi quá trình già hóa diễn ra nhanh hơn trong khi nguồn lực chuẩn bị còn hạn chế.

Cùng với đó, tuổi thọ trung bình của dân số thế giới đã tăng từ khoảng 65 tuổi năm 1995 lên 73,3 tuổi vào năm 2024 và dự tính đạt khoảng 77,4 tuổi trong giai đoạn 2050-2055, trong khi hơn 60% dân số toàn cầu hiện sống ở các quốc gia có mức sinh dưới ngưỡng thay thế. Hệ quả: Cơ cấu dân số thế giới đang chuyển dịch mạnh theo hướng tỷ trọng người cao tuổi ngày càng tăng, lực lượng trong độ tuổi lao động dần thu hẹp và ngày càng nhiều quốc gia chuyển từ dân số trẻ sang dân số già. Điều này không chỉ tác động đến tăng trưởng kinh tế, thị trường lao động và hệ thống an sinh xã hội, mà còn đặt ra yêu cầu phải thiết kế lại nhiều chính sách phát triển vốn được xây dựng trong bối cảnh dân số trẻ.

Ngày càng nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế chuyển từ tư duy “ứng phó với già hóa dân số” sang “thích ứng và phát triển cùng già hóa dân số”. Đây không đơn thuần là sự thay đổi về chính sách, mà là sự thay đổi trong cách nhìn nhận về con người và vai trò của người cao tuổi trong phát triển.

Từ cách tiếp cận đó, mục tiêu của phát triển cũng được mở rộng. Điều quan trọng không chỉ là giúp con người sống lâu hơn, mà là sống khỏe mạnh hơn, độc lập hơn và tiếp tục tạo ra giá trị lâu hơn. Chính sự thay đổi này đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy phát triển hiện đại: từ cách tiếp cận “gánh nặng - phụ thuộc” sang “nguồn lực - tham gia”; từ chính sách an sinh tách biệt theo nhóm tuổi sang chính sách phát triển vốn con người xuyên suốt vòng đời. Trong cấu trúc tư duy mới đó, già hóa dân số không còn là một áp lực cần ứng phó, mà trở thành một biến số cần được thiết kế chính sách để chuyển hóa thành động lực phát triển.

Chuyển dịch tư duy cũng mở ra những cơ hội mới cho nền kinh tế. Khi người cao tuổi được tạo điều kiện để tiếp tục tham gia đời sống kinh tế và xã hội, đồng thời nhu cầu của một xã hội có nhiều người sống lâu hơn ngày càng gia tăng, nhiều ngành nghề, sản phẩm và dịch vụ mới được hình thành. Đây chính là nền tảng cho sự phát triển của “kinh tế bạc” (silver economy) - một xu hướng sẽ ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu.

Từ đây, nền tảng của tăng trưởng kinh tế cũng đang phát sinh những khái niệm mới. Khi mức sinh giảm, lực lượng lao động không còn tăng nhanh và tuổi thọ ngày càng cao, lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia sẽ không còn chủ yếu dựa vào quy mô dân số, mà phụ thuộc ngày càng nhiều vào chất lượng của mỗi con người.

Đó là lý do “nguồn vốn con người” trở thành một khái niệm trung tâm trong tư duy phát triển hiện đại. Khác với các nguồn lực truyền thống, nguồn vốn con người được hình thành từ sức khỏe, tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng tiếp tục sáng tạo, thích ứng và cống hiến trong suốt cuộc đời. Đầu tư cho con người, vì thế, không chỉ nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống, mà còn là đầu tư cho năng suất lao động, sức cạnh tranh và tăng trưởng bền vững của quốc gia.

Chính vì vậy, nhiều tổ chức quốc tế đều nhất quán nhấn mạnh yêu cầu đầu tư cho con người theo cách tiếp cận vòng đời - từ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dinh dưỡng, việc làm đến học tập suốt đời - để mỗi người có thể phát huy tối đa năng lực của mình ở mọi giai đoạn của cuộc sống.

Việt Nam trước cơ hội chuyển mình

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nếu nhiều quốc gia phát triển có hàng trăm năm để chuyển từ xã hội có dân số trẻ sang xã hội có dân số già, thì Việt Nam chỉ có khoảng hơn hai thập kỷ để chuẩn bị cho quá trình này.

Đặc biệt, thực tế đó còn diễn ra trong bối cảnh Việt Nam đồng thời chuyển đổi số, đô thị hóa, hội nhập quốc tế và thay đổi mạnh mẽ về mô hình gia đình. Quy mô hộ gia đình ngày càng nhỏ, nhu cầu chăm sóc sức khỏe và chăm sóc dài hạn tăng nhanh, trong khi lực lượng lao động bắt đầu chịu tác động của mức sinh thấp. Những thay đổi đó đòi hỏi các chính sách không chỉ thích ứng với già hóa dân số mà còn phải chuẩn bị cho một xã hội có tuổi thọ ngày càng cao.

Tuy nhiên, chính việc bước vào giai đoạn già hóa sau nhiều quốc gia khác cũng mang lại cho Việt Nam một lợi thế quan trọng. Là nước đi sau, Việt Nam có điều kiện kế thừa kinh nghiệm quốc tế, tiếp cận nhanh các mô hình, công nghệ và chính sách đã được kiểm chứng, từ chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, y tế từ xa đến chăm sóc tích hợp và chăm sóc dài hạn dựa vào cộng đồng. Đây là cơ hội để rút ngắn quá trình thích ứng, hạn chế những chi phí thử nghiệm mà nhiều quốc gia đi trước đã phải trải qua.

Việt Nam cũng có những lợi thế riêng. Chúng ta vẫn còn “cửa sổ cơ hội” để chuẩn bị trước khi bước vào xã hội dân số già; thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe, trình độ học vấn và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước.

Bên cạnh đó là truyền thống gắn kết gia đình, cộng đồng, hệ thống chính sách ngày càng được hoàn thiện và mạng lưới các tổ chức của người cao tuổi rộng khắp. Những nền tảng này tạo điều kiện thuận lợi để phát huy vai trò của người cao tuổi, phát triển các mô hình chăm sóc dựa vào cộng đồng và xây dựng một xã hội thích ứng với già hóa dân số.

Đảng và Nhà nước cũng ngày càng quan tâm lồng ghép yêu cầu thích ứng với già hóa dân số vào các chủ trương, chiến lược và chương trình phát triển, tạo nền tảng để chuyển từ tư duy ứng phó sang chủ động chuẩn bị cho một kỷ nguyên dân số mới.

Chúng ta cần chuẩn bị gì cho kỷ nguyên dân số mới?

Trước hết, cần chuyển mạnh từ tư duy “chăm sóc người cao tuổi” sang xây dựng một xã hội mà mọi người đều có thể già đi một cách khỏe mạnh, chủ động và có quyền tự chủ. Đầu tư cho sức khỏe, giáo dục, dinh dưỡng, học tập suốt đời và việc làm cần được thực hiện từ sớm, ngay từ khi mỗi người còn trẻ, để chuẩn bị cho một tuổi già khỏe mạnh, độc lập và tiếp tục cống hiến.

Cùng với đó, hệ thống y tế và an sinh xã hội cần được đổi mới theo hướng lấy chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc tích hợp, chăm sóc dài hạn và chăm sóc dựa vào cộng đồng làm nền tảng; đồng thời phát triển các dịch vụ, công nghệ và mô hình hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của một xã hội có tuổi thọ ngày càng cao.

Một ưu tiên quan trọng khác là tạo dựng môi trường thuận lợi để người cao tuổi tiếp tục tham gia đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng theo khả năng và nguyện vọng của mình. Điều này đòi hỏi phải xóa bỏ định kiến về tuổi tác, bảo đảm quyền của người cao tuổi, thúc đẩy học tập suốt đời, việc làm phù hợp, tình nguyện, khởi nghiệp và phát huy vai trò của người cao tuổi trong gia đình và cộng đồng.

Thích ứng với già hóa dân số cũng cần được đặt trong mối quan hệ gắn kết giữa các thế hệ. Một xã hội thân thiện với người cao tuổi cũng là xã hội thân thiện với trẻ em, người khuyết tật và mọi nhóm dân cư. Tăng cường đoàn kết liên thế hệ, phát huy trách nhiệm của gia đình, cộng đồng, Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội sẽ là nền tảng để xây dựng một xã hội bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau.

Sau cùng, cần coi già hóa dân số là một động lực thúc đẩy đổi mới mô hình phát triển. Khi người cao tuổi được trao cơ hội tiếp tục học tập, làm việc, sáng tạo và cống hiến, đồng thời hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ và công nghệ cho xã hội già được hình thành, già hóa dân số sẽ không chỉ tạo ra những yêu cầu mới về chính sách mà còn mở ra những động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Thích ứng với già hóa dân số không phải là chuẩn bị cho một nhóm người cao tuổi, chủ yếu dưới góc độ an sinh xã hội, gắn với những lo ngại về chi phí chăm sóc sức khỏe, lương hưu và gánh nặng phụ thuộc, mà là chuẩn bị cho tương lai của toàn xã hội. Điều đó đòi hỏi một cách tiếp cận toàn diện, lấy con người làm trung tâm và đầu tư cho nguồn vốn con người trong suốt vòng đời.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.