Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Nghịch lý từ nguồn xả thải trôi nổi

Tại hiện trường giải phóng mặt bằng Dự án Vành đai 2,5 (Hà Nội), ông Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó Giám đốc Công ty cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu cho biết: Do chi phí xử lý, vận chuyển và ý thức chấp hành pháp luật của một số chủ nguồn thải còn hạn chế, vẫn tồn tại tình trạng đổ thải tràn lan tại các khu đất trống, ven sông, bãi bồi hoặc các khu vực ngoại thành. Điều này vừa gây ô nhiễm môi trường, vừa khiến các doanh nghiệp đầu tư bài bản vào công nghệ tái chế như Toàn Cầu không có đủ nguồn nguyên liệu đầu vào để khai thác hết công suất dây chuyền.

Trên thực tế, dù lượng phế thải xây dựng phát sinh rất lớn, nhưng không phải toàn bộ lượng chất thải này được đưa đến các cơ sở xử lý được cấp phép. Nhiều chủ đầu tư, nhà thầu xây dựng chưa chủ động ký kết hợp đồng thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải với các đơn vị được cấp phép. Không ít trường hợp chỉ quan tâm đến chi phí thấp mà lựa chọn các đơn vị vận chuyển không đủ điều kiện hoặc không kiểm soát được điểm đổ thải cuối cùng. “Điều này tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp hoạt động đúng quy định với các hoạt động xử lý tự phát”, ông Tuấn nhấn mạnh.

Để đầu tư vào công nghệ xử lý chất thải xây dựng, doanh nghiệp đầu tư hàng trăm tỷ đồng nhưng thu hồi vốn rất khó khăn do thiếu hụt nguồn chất thải đầu vào còn trôi nổi, chưa được đưa vào hệ thống quản lý. Đây là nghịch lý rất lớn của ngành tái chế chất thải xây dựng hiện nay.

Ngay từ khi Hà Nội có chủ trương xã hội hóa xử lý phế thải xây dựng, Công ty cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu đã quyết định đầu tư dây chuyền, máy móc hiện đại của châu Âu, trong đó có máy nghiền RUBBLE MASTER của Đức, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường cao, độ ồn thấp, bụi phát sinh thấp, phù hợp với điều kiện thi công trong khu vực đô thị. Quy trình xử lý được vận hành khép kín từ phá dỡ công trình, tiếp nhận chất thải rắn xây dựng, phân loại, thu gom đến nghiền sàng, tách kim loại, xử lý bụi, phun nước giảm bụi và tái chế thành vật liệu có thể sử dụng lại. Với thiết bị nhỏ gọn, có thể đưa vào gần công trình, phế thải bê-tông, gạch vỡ được nghiền ngay hoặc đưa về điểm xử lý, qua đó giảm vận chuyển lòng vòng, giảm bụi, giảm tiếng ồn và giảm áp lực cho bãi chôn lấp. Thêm nữa, việc sử dụng thiết bị có khả năng dập bụi, phun nước, tách sắt thép, nghiền sàng ra vật liệu tái sử dụng là bước tiến quan trọng trong sản xuất vật liệu xây dựng theo hướng xanh và tuần hoàn.

Trong thời gian gần đây, khi Hà Nội triển khai nhiều dự án hạ tầng, phá dỡ, chỉnh trang đô thị, Toàn Cầu đã tăng cường máy nghiền, tổ chức thêm ca kíp, nâng cao năng lực tiếp nhận và xử lý để đáp ứng lượng phế thải tăng cao. Đây là hướng đi phù hợp với kinh tế tuần hoàn: chất thải của công trình cũ trở thành nguồn nguyên liệu cho công trình mới. “Là đơn vị tiên phong trong lĩnh vực còn mới mẻ này, hoạt động tái chế rác thải xây dựng của công ty còn góp phần giảm ô nhiễm do phế thải xây dựng, hạn chế tình trạng đổ trộm, cải thiện cảnh quan đô thị, đồng thời tạo việc làm cho người lao động”, ông Tuấn cho biết.

Xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và hành lang pháp lý

Để khuyến khích doanh nghiệp tham gia tái chế vật liệu xây dựng, ông Nguyễn Ngọc Tuấn kiến nghị: “Cần hoàn thiện hành lang pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật cho vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng. Khi sản phẩm tái chế có tiêu chuẩn rõ ràng, được phép sử dụng trong các hạng mục cụ thể như san lấp, nền đường, đường công vụ, lát nền, kè, hạ tầng kỹ thuật, thị trường đầu ra sẽ ổn định hơn. Tiếp đó, cần có cơ chế bắt buộc hoặc khuyến khích các dự án đầu tư công, dự án hạ tầng sử dụng một tỷ lệ vật liệu tái chế phù hợp. Nhà nước có thể đưa tiêu chí sử dụng vật liệu tái chế vào hồ sơ mời thầu, thiết kế, dự toán, nghiệm thu, từ đó tạo thị trường cho sản phẩm tái chế”.

Ngoài ra, theo ông Tuấn, cơ quan chức năng cần ban hành đơn giá dịch vụ xử lý chất thải rắn xây dựng hợp lý, minh bạch. Doanh nghiệp đầu tư dây chuyền hiện đại phải chịu chi phí lớn về máy móc, mặt bằng, nhân lực, môi trường, quan trắc, vận hành. Nếu đơn giá xử lý quá thấp hoặc đầu ra không ổn định, doanh nghiệp rất khó duy trì hoạt động. Bên cạnh đó, thành phố cần kiểm soát chặt tình trạng đổ trộm phế thải xây dựng.

Một đề xuất khác, theo ông Tuấn, đó là cần có chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng xanh, thuế, phí môi trường cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ tái chế. Tái chế chất thải xây dựng không chỉ là hoạt động kinh doanh, mà còn là giải pháp bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên và phát triển kinh tế tuần hoàn cho đô thị.

Khi chi phí xử phạt đổ trộm còn thấp hơn nhiều việc xử lý đúng quy định, các doanh nghiệp đầu tư bài bản sẽ bị cạnh tranh không công bằng. Để giải quyết tình trạng này, cần yêu cầu chủ đầu tư chứng minh phương án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trước khi thi công, phá dỡ.

Có thể bạn quan tâm

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.