Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Châu thổ Cửu Long.
Châu thổ Cửu Long.
img-20260609-143009.jpg

Ông Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp:

Đưa Đồng Tháp trở thành trung tâm nông nghiệp, du lịch sinh thái

Theo Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh phấn đấu đến năm 2030 trở thành tỉnh có tốc độ công nghiệp phát triển nhanh, theo hướng hiện đại... Tỉnh xây dựng văn hóa và con người Đồng Tháp phát triển toàn diện; đời sống người dân được nâng cao, văn hóa - xã hội tiến bộ, quốc phòng - an ninh bảo đảm, tạo tiền đề đến năm 2045, trở thành trung tâm nông nghiệp hiện đại và du lịch sinh thái của vùng, là địa phương dẫn đầu cả nước trong một số lĩnh vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp tiên tiến, là nơi đáng sống, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc.

Quy hoạch tỉnh xác định 5 vùng kinh tế-xã hội gồm: vùng kinh tế-xã hội trung tâm dọc sông Tiền; vùng kinh tế-xã hội nam sông Tiền và bắc sông Hậu; vùng kinh tế nông nghiệp sinh thái Đồng Tháp Mười; vùng kinh tế biển; vùng kinh tế-xã hội biên giới.

Đồng thời, tỉnh hình thành 5 hành lang kinh tế trọng điểm, gồm: hành lang kinh tế trung tâm (dọc theo tuyến cao tốc và Quốc lộ 1); hành lang kinh tế ven biển phía đông (dọc theo tuyến đường bộ ven biển và Quốc lộ 50); hành lang kinh tế dọc sông Tiền (từ biên giới đến cửa biển); hành lang kinh tế nội địa kết nối vùng Đồng Tháp Mười (dọc theo Quốc lộ N1, N2, Quốc lộ 30); hành lang kinh tế dọc sông Hậu.

Trong giai đoạn 2026-2030, Đồng Tháp tiếp tục phát triển, mở rộng và hoàn thiện hệ thống đô thị, phấn đấu hình thành 48 đô thị gồm: 6 đô thị trung tâm, 19 đô thị mới và 23 khu vực đô thị hóa tại các xã. Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh dự tính đạt khoảng 50%.

Chúng tôi quyết tâm thực hiện mục tiêu: Đối với sản xuất, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, hiệu quả và bền vững; quy hoạch lại từng vùng trồng, khắc phục nhanh những hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra; đẩy mạnh hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng; góp phần đưa Đồng Tháp trở thành trung tâm nông nghiệp sinh thái, đổi mới sáng tạo của vùng. Muốn vậy, tỉnh xác định, ngoài phục vụ sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nước còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân...

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, tỉnh sẽ tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất là hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông liên vùng, hạ tầng logistics và hạ tầng số. Thứ hai là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thu hút các ngành kinh tế mới. Thứ ba là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nêu cao truyền thống năng động, sáng tạo và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Đồng Tháp sở hữu hệ sinh thái sông nước đặc trưng cùng nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào từ sông Tiền. Đây là lợi thế chiến lược trong bối cảnh nhiều khu vực của Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng.

img-20260609-143317.jpg

Ông Hồ Văn Mừng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang:

Phát triển An Giang hiện đại, xanh, số và bền vững

Sau khi hoàn tất sắp xếp đơn vị hành chính, diện mạo địa lý của An Giang đã thay đổi hoàn toàn. Với quy mô gần 9.900 km², tỉnh đầu nguồn này đang sở hữu một cấu trúc không gian cực kỳ đa dạng và hiếm có: hội tụ đầy đủ cả đồng bằng, biên giới, đô thị và cả biển, đảo. Sự chuyển mình này đồng nghĩa với việc mô hình tăng trưởng cũ - vốn dựa chủ yếu vào nông nghiệp truyền thống và co cụm nội địa - buộc phải nhường chỗ cho tư duy liên kết vùng toàn diện.

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành cực tăng trưởng năng động của cả nước, An Giang xác định tinh thần xuyên suốt: Phát triển hiện đại, xanh, số và bền vững. Địa phương sẽ lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực cốt lõi; lấy người dân làm trung tâm phục vụ và doanh nghiệp làm trung tâm phát triển.

Nhằm biến các tiềm năng trên thành động lực thực chất, tỉnh An Giang ưu tiên 5 nhóm lĩnh vực trọng điểm thu hút dòng vốn đầu tư, bao gồm: Hạ tầng chiến lược (giao thông, logistics, đô thị); Công nghiệp chế biến sâu và phát triển năng lượng sạch; Thương mại dịch vụ và kinh tế cửa khẩu kết nối tiểu vùng Mê Công; Du lịch chất lượng cao, phát huy bản sắc văn hóa sông nước; Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn.

Những bước đi đột phá trong tư duy tổ chức không gian đã sớm mang lại tín hiệu lạc quan. Ngay trong quý I/2026, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của An Giang đạt tới 7,8%, vươn lên dẫn đầu toàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tại, dòng vốn dịch chuyển về tỉnh đầu nguồn này đang tăng tốc mạnh mẽ với 1.493 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký vượt mốc 226.000 tỷ đồng. Những con số biết nói này là minh chứng cho thấy liên kết vùng không còn là một khái niệm nằm trên định hướng, mà đã bước đầu tạo lập được giá trị thực chất.

Tỉnh đưa ra thông điệp cam kết đầy mạnh mẽ và cầu thị trước cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước: “Chúng tôi luôn xác định: Thành công của doanh nghiệp là thành công của tỉnh. Hiệu quả của nhà đầu tư là động lực tăng trưởng của địa phương. Niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp là nền tảng phát triển bền vững của An Giang”.

Bằng việc kiên định cải cách thủ tục hành chính, chuẩn bị sẵn sàng quỹ đất sạch, nguồn nhân lực chất lượng cao và duy trì một “chính quyền đồng hành”, An Giang đang tự tin kiến tạo không gian phát triển rộng lớn hơn.

Điều quan trọng nhất mà Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mở ra chính là kiến tạo không gian phát triển mới - rộng hơn, mở hơn, liên kết hơn và hiệu quả hơn theo hướng tổ chức các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và các trục động lực chiến lược.

anh-1-ca-mau.jpg

Ông Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau:

Thúc đẩy mô hình kinh tế gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa

Tôi xin chia sẻ thẳng thắn về hai bài toán lớn dưới góc nhìn điều hành của chính quyền địa phương: Thứ nhất, về bài toán giải quyết xung đột giữa biến đổi khí hậu và mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. Phải nhìn nhận thực tế rằng, Cà Mau là một trong những địa phương chịu tổn thương nặng nề nhất bởi thiên tai, sạt lở bờ sông, bờ biển và xâm nhập mặn. Đối với chúng tôi, thích ứng không còn là giải pháp tình thế, mà đã trở thành tư duy chủ đạo trong điều hành kinh tế. Để giải bài toán nan giải này, Cà Mau lựa chọn con đường chủ động, biến thách thức thành thời cơ thông qua ba trụ cột cốt lõi: Một là, lấy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm chìa khóa. Cà Mau đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để dự báo, giám sát tài nguyên, nguồn nước trên môi trường điện tử. Hai là, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng chủ động. Chúng tôi kiên trì hoàn thiện và nhân rộng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để vừa tăng năng suất, vừa kiểm soát nghiêm ngặt tác động môi trường, bảo đảm chất lượng, trọng tâm là mặt hàng tôm. Đồng thời, thúc đẩy chuỗi liên kết giá trị, phát triển các giống lúa chịu mặn, thích ứng tốt với thời tiết cực đoan. Ba là, bảo vệ bằng được “lá phổi xanh” thông qua việc quản lý rừng nghiêm ngặt, thúc đẩy mô hình kinh tế, sản xuất dưới tán rừng gắn liền với du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học. Kinh tế phát triển phải dựa trên nền tảng một môi trường sinh thái an toàn.

Vấn đề đặt ra thứ hai, về mô hình tăng trưởng phù hợp trước làn sóng đầu tư hạ tầng gắn liền với bảo tồn bản sắc văn hóa sông nước.

Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Cà Mau mới (sau khi hợp nhất tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau) đi vào hoạt động với một không gian, tiềm lực và vận hội phát triển lịch sử. Làn sóng đổ bộ của các “siêu dự án” hạ tầng, năng lượng, cảng biển chính là động lực mạnh mẽ để chúng tôi bứt phá. Cà Mau tập trung phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến thủy sản công suất lớn, kết hợp năng lượng sạch và logistics hiện đại dựa trên lợi thế ba mặt giáp biển.

Song song đó, hạ tầng giao thông mở tới đâu, không gian kinh tế du lịch sẽ được đánh thức tới đó. Nhưng chúng tôi không phát triển đô thị hay du lịch theo kiểu bê-tông hóa đại trà. Cà Mau chọn tập trung vào các sản phẩm du lịch mang chiều sâu văn hóa địa phương: Du lịch sinh thái U Minh Hạ, Đầm Thị Tường, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, du lịch trải nghiệm dưới tán rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nghề làm muối truyền thống, kết hợp các sự kiện lớn như Festival tôm, Ngày hội cua.
Bản sắc sông nước, lối sống hào sảng, gắn bó với thiên nhiên của người dân Cà Mau-Bạc Liêu chính là “mỏ neo” định vị thương hiệu du lịch, mang lại sinh kế bền vững cho người dân.

Tăng trưởng không thể đánh đổi bằng sự xói mòn về văn hóa và bản sắc. Mô hình tăng trưởng phù hợp nhất mà Cà Mau hướng tới là “Phát triển toàn diện, xanh hóa công nghiệp và du lịch sinh thái bền vững”.

Có thể bạn quan tâm

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Cuộc sống của người dân châu Phi luôn phải đối mặt áp lực lớn cả về chính trị và xã hội, thậm chí sự bất bình đẳng do tình trạng “sống dựa” vào vay nợ của các quốc gia ở khu vực này.

Nhận diện vòng xoáy nợ nần trên toàn cầu

Khi đối mặt khủng hoảng cán cân thanh toán, tức không đủ khả năng chi trả cho nhập khẩu hay thanh toán nợ nước ngoài, các quốc gia thường tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc những phương thức xử lý nợ mới.