Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Châu thổ Cửu Long.
Châu thổ Cửu Long.
img-20260609-143009.jpg

Ông Phạm Thành Ngại, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp:

Đưa Đồng Tháp trở thành trung tâm nông nghiệp, du lịch sinh thái

Theo Quy hoạch tỉnh Đồng Tháp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh phấn đấu đến năm 2030 trở thành tỉnh có tốc độ công nghiệp phát triển nhanh, theo hướng hiện đại... Tỉnh xây dựng văn hóa và con người Đồng Tháp phát triển toàn diện; đời sống người dân được nâng cao, văn hóa - xã hội tiến bộ, quốc phòng - an ninh bảo đảm, tạo tiền đề đến năm 2045, trở thành trung tâm nông nghiệp hiện đại và du lịch sinh thái của vùng, là địa phương dẫn đầu cả nước trong một số lĩnh vực nông nghiệp, phát triển công nghiệp tiên tiến, là nơi đáng sống, người dân có cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc.

Quy hoạch tỉnh xác định 5 vùng kinh tế-xã hội gồm: vùng kinh tế-xã hội trung tâm dọc sông Tiền; vùng kinh tế-xã hội nam sông Tiền và bắc sông Hậu; vùng kinh tế nông nghiệp sinh thái Đồng Tháp Mười; vùng kinh tế biển; vùng kinh tế-xã hội biên giới.

Đồng thời, tỉnh hình thành 5 hành lang kinh tế trọng điểm, gồm: hành lang kinh tế trung tâm (dọc theo tuyến cao tốc và Quốc lộ 1); hành lang kinh tế ven biển phía đông (dọc theo tuyến đường bộ ven biển và Quốc lộ 50); hành lang kinh tế dọc sông Tiền (từ biên giới đến cửa biển); hành lang kinh tế nội địa kết nối vùng Đồng Tháp Mười (dọc theo Quốc lộ N1, N2, Quốc lộ 30); hành lang kinh tế dọc sông Hậu.

Trong giai đoạn 2026-2030, Đồng Tháp tiếp tục phát triển, mở rộng và hoàn thiện hệ thống đô thị, phấn đấu hình thành 48 đô thị gồm: 6 đô thị trung tâm, 19 đô thị mới và 23 khu vực đô thị hóa tại các xã. Đến năm 2030, tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh dự tính đạt khoảng 50%.

Chúng tôi quyết tâm thực hiện mục tiêu: Đối với sản xuất, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái, hiện đại, hiệu quả và bền vững; quy hoạch lại từng vùng trồng, khắc phục nhanh những hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra; đẩy mạnh hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng; góp phần đưa Đồng Tháp trở thành trung tâm nông nghiệp sinh thái, đổi mới sáng tạo của vùng. Muốn vậy, tỉnh xác định, ngoài phục vụ sản xuất nông nghiệp, tài nguyên nước còn trở thành nguồn lực quan trọng cho phát triển công nghiệp, đô thị, dịch vụ và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân...

Để thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững, tỉnh sẽ tập trung vào ba nhóm giải pháp trọng tâm. Thứ nhất là hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông liên vùng, hạ tầng logistics và hạ tầng số. Thứ hai là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thu hút các ngành kinh tế mới. Thứ ba là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, nêu cao truyền thống năng động, sáng tạo và đồng hành cùng doanh nghiệp.

Đồng Tháp sở hữu hệ sinh thái sông nước đặc trưng cùng nguồn tài nguyên nước mặt dồi dào từ sông Tiền. Đây là lợi thế chiến lược trong bối cảnh nhiều khu vực của Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với nguy cơ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn ngày càng gia tăng.

img-20260609-143317.jpg

Ông Hồ Văn Mừng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang:

Phát triển An Giang hiện đại, xanh, số và bền vững

Sau khi hoàn tất sắp xếp đơn vị hành chính, diện mạo địa lý của An Giang đã thay đổi hoàn toàn. Với quy mô gần 9.900 km², tỉnh đầu nguồn này đang sở hữu một cấu trúc không gian cực kỳ đa dạng và hiếm có: hội tụ đầy đủ cả đồng bằng, biên giới, đô thị và cả biển, đảo. Sự chuyển mình này đồng nghĩa với việc mô hình tăng trưởng cũ - vốn dựa chủ yếu vào nông nghiệp truyền thống và co cụm nội địa - buộc phải nhường chỗ cho tư duy liên kết vùng toàn diện.

Để hiện thực hóa khát vọng trở thành cực tăng trưởng năng động của cả nước, An Giang xác định tinh thần xuyên suốt: Phát triển hiện đại, xanh, số và bền vững. Địa phương sẽ lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực cốt lõi; lấy người dân làm trung tâm phục vụ và doanh nghiệp làm trung tâm phát triển.

Nhằm biến các tiềm năng trên thành động lực thực chất, tỉnh An Giang ưu tiên 5 nhóm lĩnh vực trọng điểm thu hút dòng vốn đầu tư, bao gồm: Hạ tầng chiến lược (giao thông, logistics, đô thị); Công nghiệp chế biến sâu và phát triển năng lượng sạch; Thương mại dịch vụ và kinh tế cửa khẩu kết nối tiểu vùng Mê Công; Du lịch chất lượng cao, phát huy bản sắc văn hóa sông nước; Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái tuần hoàn.

Những bước đi đột phá trong tư duy tổ chức không gian đã sớm mang lại tín hiệu lạc quan. Ngay trong quý I/2026, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của An Giang đạt tới 7,8%, vươn lên dẫn đầu toàn khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tại, dòng vốn dịch chuyển về tỉnh đầu nguồn này đang tăng tốc mạnh mẽ với 1.493 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký vượt mốc 226.000 tỷ đồng. Những con số biết nói này là minh chứng cho thấy liên kết vùng không còn là một khái niệm nằm trên định hướng, mà đã bước đầu tạo lập được giá trị thực chất.

Tỉnh đưa ra thông điệp cam kết đầy mạnh mẽ và cầu thị trước cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước: “Chúng tôi luôn xác định: Thành công của doanh nghiệp là thành công của tỉnh. Hiệu quả của nhà đầu tư là động lực tăng trưởng của địa phương. Niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp là nền tảng phát triển bền vững của An Giang”.

Bằng việc kiên định cải cách thủ tục hành chính, chuẩn bị sẵn sàng quỹ đất sạch, nguồn nhân lực chất lượng cao và duy trì một “chính quyền đồng hành”, An Giang đang tự tin kiến tạo không gian phát triển rộng lớn hơn.

Điều quan trọng nhất mà Quy hoạch tỉnh An Giang thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, mở ra chính là kiến tạo không gian phát triển mới - rộng hơn, mở hơn, liên kết hơn và hiệu quả hơn theo hướng tổ chức các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và các trục động lực chiến lược.

anh-1-ca-mau.jpg

Ông Lữ Quang Ngời, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau:

Thúc đẩy mô hình kinh tế gắn với bảo tồn bản sắc văn hóa

Tôi xin chia sẻ thẳng thắn về hai bài toán lớn dưới góc nhìn điều hành của chính quyền địa phương: Thứ nhất, về bài toán giải quyết xung đột giữa biến đổi khí hậu và mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững. Phải nhìn nhận thực tế rằng, Cà Mau là một trong những địa phương chịu tổn thương nặng nề nhất bởi thiên tai, sạt lở bờ sông, bờ biển và xâm nhập mặn. Đối với chúng tôi, thích ứng không còn là giải pháp tình thế, mà đã trở thành tư duy chủ đạo trong điều hành kinh tế. Để giải bài toán nan giải này, Cà Mau lựa chọn con đường chủ động, biến thách thức thành thời cơ thông qua ba trụ cột cốt lõi: Một là, lấy đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm chìa khóa. Cà Mau đang đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để dự báo, giám sát tài nguyên, nguồn nước trên môi trường điện tử. Hai là, cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng bền vững, thích ứng chủ động. Chúng tôi kiên trì hoàn thiện và nhân rộng các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để vừa tăng năng suất, vừa kiểm soát nghiêm ngặt tác động môi trường, bảo đảm chất lượng, trọng tâm là mặt hàng tôm. Đồng thời, thúc đẩy chuỗi liên kết giá trị, phát triển các giống lúa chịu mặn, thích ứng tốt với thời tiết cực đoan. Ba là, bảo vệ bằng được “lá phổi xanh” thông qua việc quản lý rừng nghiêm ngặt, thúc đẩy mô hình kinh tế, sản xuất dưới tán rừng gắn liền với du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học. Kinh tế phát triển phải dựa trên nền tảng một môi trường sinh thái an toàn.

Vấn đề đặt ra thứ hai, về mô hình tăng trưởng phù hợp trước làn sóng đầu tư hạ tầng gắn liền với bảo tồn bản sắc văn hóa sông nước.

Từ ngày 1/7/2025, tỉnh Cà Mau mới (sau khi hợp nhất tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau) đi vào hoạt động với một không gian, tiềm lực và vận hội phát triển lịch sử. Làn sóng đổ bộ của các “siêu dự án” hạ tầng, năng lượng, cảng biển chính là động lực mạnh mẽ để chúng tôi bứt phá. Cà Mau tập trung phát triển mạnh mẽ công nghiệp chế biến thủy sản công suất lớn, kết hợp năng lượng sạch và logistics hiện đại dựa trên lợi thế ba mặt giáp biển.

Song song đó, hạ tầng giao thông mở tới đâu, không gian kinh tế du lịch sẽ được đánh thức tới đó. Nhưng chúng tôi không phát triển đô thị hay du lịch theo kiểu bê-tông hóa đại trà. Cà Mau chọn tập trung vào các sản phẩm du lịch mang chiều sâu văn hóa địa phương: Du lịch sinh thái U Minh Hạ, Đầm Thị Tường, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, du lịch trải nghiệm dưới tán rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, nghề làm muối truyền thống, kết hợp các sự kiện lớn như Festival tôm, Ngày hội cua.
Bản sắc sông nước, lối sống hào sảng, gắn bó với thiên nhiên của người dân Cà Mau-Bạc Liêu chính là “mỏ neo” định vị thương hiệu du lịch, mang lại sinh kế bền vững cho người dân.

Tăng trưởng không thể đánh đổi bằng sự xói mòn về văn hóa và bản sắc. Mô hình tăng trưởng phù hợp nhất mà Cà Mau hướng tới là “Phát triển toàn diện, xanh hóa công nghiệp và du lịch sinh thái bền vững”.

Có thể bạn quan tâm

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?