“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC
TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

- Trước dự báo về Siêu El Niño sắp tới, ông nhìn nhận như thế nào về khả năng đáp ứng của hệ thống điện của Việt Nam?

- Cuối tháng 5 vừa qua, hệ thống điện quốc gia ghi nhận công suất đỉnh lên đến khoảng 58.000 MW, tăng 5,6% so với kỷ lục năm 2025. Dự tính con số này sẽ còn lên cao nữa trong giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm giữa hè. Một số nghiên cứu và số liệu thực tế cho thấy ở các nước nhiệt đới, nhu cầu điện trong các đợt El Niño mạnh có thể tăng khoảng 2-5% so với năm bình thường. Công suất đỉnh (peak load) thường tăng mạnh hơn điện năng tiêu thụ, có thể tăng 5-10% trong những ngày nắng nóng cực đoan.

Tuy nhiên, bài toán bảo đảm cung ứng điện của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một mùa khô hay một mùa hè. Tình hình khí hậu sẽ còn diễn biến rất phức tạp trong thời gian tới, do đó ngành điện Việt Nam cần phải có sự chuẩn bị tốt để chủ động đối phó.
- Hiện tốc độ gia tăng công suất khả dụng thực tế chưa hoàn toàn theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, cần hóa giải thực tế này như thế nào, thưa ông?

- Trong khoảng 5-7 năm trở lại đây, công suất nguồn điện của Việt Nam tăng trưởng nhanh. Đặc biệt, giai đoạn 2019-2021 chứng kiến sự bùng nổ của điện mặt trời và điện gió, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường năng lượng tái tạo phát triển nhanh nhất khu vực.

Tuy nhiên, phần lớn công suất mới đến từ các nguồn phụ thuộc thời tiết nên sản lượng phát điện biến động liên tục, khó điều chỉnh theo nhu cầu phụ tải. Trong khi đó, nhiều dự án nhiệt điện khí, nhiệt điện than triển khai chậm hơn kế hoạch do vướng mắc về thủ tục, vốn đầu tư hoặc nguồn nhiên liệu. Vì vậy, tốc độ gia tăng công suất khả dụng thực tế chưa hoàn toàn theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhu cầu điện tiếp tục tăng mạnh. Điện năng ngày càng trở thành đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, trong khi việc xây dựng một nhà máy điện mới thường cần nhiều năm chuẩn bị và đầu tư. Điều đó đòi hỏi công tác dự báo phụ tải và quy hoạch nguồn điện phải đi trước một bước.

Việc hoàn thành đường dây 500 kV mạch 3 trong năm 2024 đã góp phần tăng cường khả năng truyền tải điện giữa các vùng miền và nâng cao độ tin cậy của hệ hống điện quốc gia. Tuy nhiên, truyền tải chỉ là một phần của lời giải. Nếu nhu cầu điện tiếp tục tăng trưởng cao trong nhiều năm tới thì phát triển nguồn điện mới vẫn là nhiệm vụ quyết định.

5b.jpg
Nhà máy Thủy điện Bản Chát. Ảnh: Ngọc Hà

-Thưa ông, một cơ cấu điện thế nào là hợp lý đối với Việt Nam, nhất là xét trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biến động địa chính trị đang gây nên những hệ lụy nặng nề trên toàn cầu?

- Đúng là biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan khiến cho nhu cầu tăng cao trong khi sản lượng điện có thể bị suy giảm mạnh. Thêm vào đó, biến động địa chính trị có thể tác động trực tiếp đến giá nhiên liệu và chi phí sản xuất điện.

Chính vì vậy, yêu cầu quan trọng đối với ngành điện Việt Nam là xây dựng cơ cấu nguồn điện đa dạng và cân bằng, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ loại hình phát điện nào.

Hiện nay, các nguồn nhiệt điện than và khí có ưu điểm là công suất ổn định, có thể điều chỉnh theo nhu cầu phụ tải, nhưng phụ thuộc đáng kể vào thị trường nhiên liệu toàn cầu. Giai đoạn 2022-2023 cho thấy giá than và khí có thể tăng mạnh, kéo theo chi phí sản xuất điện tăng cao và tạo áp lực cho nền kinh tế. Việc quy hoạch hiện nay của chúng ta dựa quá nhiều vào điện khí LNG (gần 20 GW) cũng là rủi ro khá lớn trong bối cảnh địa chính trị hiện tại.

Ở chiều ngược lại, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy ngay cả những hệ thống điện thành công nhất cũng không nên phụ thuộc vào một loại nguồn điện duy nhất. Nước Pháp là một thí dụ điển hình. Trong nhiều thập kỷ, điện hạt nhân cung cấp khoảng 70-80% sản lượng điện của quốc gia này, giúp duy trì nguồn điện ổn định với chi phí cạnh tranh và mức phát thải thấp. Tuy nhiên, năm 2022, hàng loạt lò phản ứng hạt nhân phải tạm dừng để kiểm tra hiện tượng ăn mòn ứng suất trong hệ thống đường ống. Cùng thời điểm đó, nắng nóng kéo dài khiến nhiệt độ nước tại nhiều con sông tăng cao, ảnh hưởng đến khả năng làm mát của các tổ máy. Có thời điểm công suất khả dụng của các nhà máy điện hạt nhân chỉ còn 40% công suất đặt. Bài học từ Pháp cho thấy không có loại hình phát điện nào hoàn toàn miễn nhiễm trước các rủi ro khách quan.

Theo quan điểm của tôi, cơ cấu nguồn điện hợp lý cho Việt Nam trong dài hạn cần bao gồm thủy điện, năng lượng tái tạo, nhiệt điện và điện hạt nhân. Trong đó, thủy điện đóng vai trò nguồn điện linh hoạt; năng lượng tái tạo tận dụng lợi thế tài nguyên tự nhiên; nhiệt điện bảo đảm nguồn điện nền trong giai đoạn chuyển tiếp; còn điện hạt nhân cần được xác định là một trụ cột chiến lược của hệ thống điện tương lai.

Việc Việt Nam chưa thể triển khai chương trình điện hạt nhân như kế hoạch trước đây là điều đáng tiếc. Nếu các dự án được thực hiện đúng tiến độ, hệ thống điện quốc gia hiện nay đã có thêm một nguồn điện nền ổn định, quy mô lớn và ít phụ thuộc vào biến động nhiên liệu quốc tế. Việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân chắc chắn sẽ khó khăn hơn trước, nhưng nếu tiếp tục trì hoãn, chúng ta có thể bỏ lỡ thêm một cơ hội quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.

Tuy vậy, trước mắt, chúng ta vẫn cần thúc đẩy tiến độ của các nhà máy nhiệt điện có trong quy hoạch để giải quyết bài toán thiếu điện cấp bách. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ lưu trữ năng lượng đang mở ra nhiều triển vọng mới. Giá thành pin lưu trữ đã giảm đáng kể, giúp nâng cao tính ổn định của điện gió và điện mặt trời. Vì vậy, cần sớm có cơ chế phù hợp để khuyến khích phát triển các dự án năng lượng tái tạo đi kèm hệ thống lưu trữ, nhằm mục đích tăng cường sự ổn định cho hệ thống.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, thị trường năng lượng thế giới biến động khó lường, việc xây dựng một hệ thống điện an toàn, ổn định và bền vững đang trở thành yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển của đất nước"- TS Đỗ Minh Thắng

- Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hai con số, phát triển điện năng cần phải “đi trước” như thế nào, thưa ông?

- Bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế trước hết là một bài toán kinh tế-kỹ thuật. Một nhà máy điện không thể được xây dựng trong vài tháng. Nếu chờ đến khi thiếu điện mới triển khai dự án thì khi công trình hoàn thành, nền kinh tế có thể đã phải trả giá bằng nhiều năm tăng trưởng bị ảnh hưởng. Do đó, quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bên cạnh đó, nhu cầu vốn cho phát triển điện lực trong thời gian tới là rất lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước. Muốn huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý. Nhà đầu tư chỉ sẵn sàng bỏ vốn khi họ nhìn thấy khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận tương xứng với mức độ rủi ro.

Điều này đòi hỏi môi trường chính sách phải ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao. Trên thực tế, nguồn vốn cho các dự án năng lượng không hề thiếu. Vấn đề quan trọng là làm sao giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư, bởi chi phí huy động vốn phụ thuộc rất lớn vào mức độ rủi ro của dự án.

Ngoài việc phát triển nguồn điện, cần nhìn nhận ngành điện trong tổng thể chiến lược năng lượng quốc gia. Xu hướng điện hóa giao thông sẽ làm nhu cầu điện cho sạc pin tăng mạnh trong tương lai. Đồng thời, hệ thống pin xe điện cũng có thể trở thành nguồn lưu trữ phân tán hỗ trợ điều tiết phụ tải.

Trong lĩnh vực xây dựng, tiềm năng tiết kiệm năng lượng vẫn còn rất lớn. Việc hoàn thiện và áp dụng các tiêu chuẩn cách nhiệt cho công trình sẽ góp phần giảm nhu cầu điện, giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của toàn xã hội.

- Xin chân thành cảm ơn ông

Tiến sĩ Đỗ Minh Thắng hiện giữ vị trí Quản lý Kỹ thuật mảng Năng lượng Tái tạo tại Công ty Meteodyn (Pháp), phụ trách các hoạt động liên quan đánh giá tài nguyên gió, phân tích hiệu suất vận hành turbine gió và dự báo sản lượng năng lượng tái tạo

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.