“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC
TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

- Trước dự báo về Siêu El Niño sắp tới, ông nhìn nhận như thế nào về khả năng đáp ứng của hệ thống điện của Việt Nam?

- Cuối tháng 5 vừa qua, hệ thống điện quốc gia ghi nhận công suất đỉnh lên đến khoảng 58.000 MW, tăng 5,6% so với kỷ lục năm 2025. Dự tính con số này sẽ còn lên cao nữa trong giai đoạn nắng nóng đỉnh điểm giữa hè. Một số nghiên cứu và số liệu thực tế cho thấy ở các nước nhiệt đới, nhu cầu điện trong các đợt El Niño mạnh có thể tăng khoảng 2-5% so với năm bình thường. Công suất đỉnh (peak load) thường tăng mạnh hơn điện năng tiêu thụ, có thể tăng 5-10% trong những ngày nắng nóng cực đoan.

Tuy nhiên, bài toán bảo đảm cung ứng điện của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một mùa khô hay một mùa hè. Tình hình khí hậu sẽ còn diễn biến rất phức tạp trong thời gian tới, do đó ngành điện Việt Nam cần phải có sự chuẩn bị tốt để chủ động đối phó.
- Hiện tốc độ gia tăng công suất khả dụng thực tế chưa hoàn toàn theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế, cần hóa giải thực tế này như thế nào, thưa ông?

- Trong khoảng 5-7 năm trở lại đây, công suất nguồn điện của Việt Nam tăng trưởng nhanh. Đặc biệt, giai đoạn 2019-2021 chứng kiến sự bùng nổ của điện mặt trời và điện gió, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường năng lượng tái tạo phát triển nhanh nhất khu vực.

Tuy nhiên, phần lớn công suất mới đến từ các nguồn phụ thuộc thời tiết nên sản lượng phát điện biến động liên tục, khó điều chỉnh theo nhu cầu phụ tải. Trong khi đó, nhiều dự án nhiệt điện khí, nhiệt điện than triển khai chậm hơn kế hoạch do vướng mắc về thủ tục, vốn đầu tư hoặc nguồn nhiên liệu. Vì vậy, tốc độ gia tăng công suất khả dụng thực tế chưa hoàn toàn theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, nhu cầu điện tiếp tục tăng mạnh. Điện năng ngày càng trở thành đầu vào thiết yếu của nền kinh tế, trong khi việc xây dựng một nhà máy điện mới thường cần nhiều năm chuẩn bị và đầu tư. Điều đó đòi hỏi công tác dự báo phụ tải và quy hoạch nguồn điện phải đi trước một bước.

Việc hoàn thành đường dây 500 kV mạch 3 trong năm 2024 đã góp phần tăng cường khả năng truyền tải điện giữa các vùng miền và nâng cao độ tin cậy của hệ hống điện quốc gia. Tuy nhiên, truyền tải chỉ là một phần của lời giải. Nếu nhu cầu điện tiếp tục tăng trưởng cao trong nhiều năm tới thì phát triển nguồn điện mới vẫn là nhiệm vụ quyết định.

5b.jpg
Nhà máy Thủy điện Bản Chát. Ảnh: Ngọc Hà

-Thưa ông, một cơ cấu điện thế nào là hợp lý đối với Việt Nam, nhất là xét trong bối cảnh biến đổi khí hậu và biến động địa chính trị đang gây nên những hệ lụy nặng nề trên toàn cầu?

- Đúng là biến đổi khí hậu đang làm gia tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan khiến cho nhu cầu tăng cao trong khi sản lượng điện có thể bị suy giảm mạnh. Thêm vào đó, biến động địa chính trị có thể tác động trực tiếp đến giá nhiên liệu và chi phí sản xuất điện.

Chính vì vậy, yêu cầu quan trọng đối với ngành điện Việt Nam là xây dựng cơ cấu nguồn điện đa dạng và cân bằng, tránh phụ thuộc quá mức vào bất kỳ loại hình phát điện nào.

Hiện nay, các nguồn nhiệt điện than và khí có ưu điểm là công suất ổn định, có thể điều chỉnh theo nhu cầu phụ tải, nhưng phụ thuộc đáng kể vào thị trường nhiên liệu toàn cầu. Giai đoạn 2022-2023 cho thấy giá than và khí có thể tăng mạnh, kéo theo chi phí sản xuất điện tăng cao và tạo áp lực cho nền kinh tế. Việc quy hoạch hiện nay của chúng ta dựa quá nhiều vào điện khí LNG (gần 20 GW) cũng là rủi ro khá lớn trong bối cảnh địa chính trị hiện tại.

Ở chiều ngược lại, kinh nghiệm quốc tế cũng cho thấy ngay cả những hệ thống điện thành công nhất cũng không nên phụ thuộc vào một loại nguồn điện duy nhất. Nước Pháp là một thí dụ điển hình. Trong nhiều thập kỷ, điện hạt nhân cung cấp khoảng 70-80% sản lượng điện của quốc gia này, giúp duy trì nguồn điện ổn định với chi phí cạnh tranh và mức phát thải thấp. Tuy nhiên, năm 2022, hàng loạt lò phản ứng hạt nhân phải tạm dừng để kiểm tra hiện tượng ăn mòn ứng suất trong hệ thống đường ống. Cùng thời điểm đó, nắng nóng kéo dài khiến nhiệt độ nước tại nhiều con sông tăng cao, ảnh hưởng đến khả năng làm mát của các tổ máy. Có thời điểm công suất khả dụng của các nhà máy điện hạt nhân chỉ còn 40% công suất đặt. Bài học từ Pháp cho thấy không có loại hình phát điện nào hoàn toàn miễn nhiễm trước các rủi ro khách quan.

Theo quan điểm của tôi, cơ cấu nguồn điện hợp lý cho Việt Nam trong dài hạn cần bao gồm thủy điện, năng lượng tái tạo, nhiệt điện và điện hạt nhân. Trong đó, thủy điện đóng vai trò nguồn điện linh hoạt; năng lượng tái tạo tận dụng lợi thế tài nguyên tự nhiên; nhiệt điện bảo đảm nguồn điện nền trong giai đoạn chuyển tiếp; còn điện hạt nhân cần được xác định là một trụ cột chiến lược của hệ thống điện tương lai.

Việc Việt Nam chưa thể triển khai chương trình điện hạt nhân như kế hoạch trước đây là điều đáng tiếc. Nếu các dự án được thực hiện đúng tiến độ, hệ thống điện quốc gia hiện nay đã có thêm một nguồn điện nền ổn định, quy mô lớn và ít phụ thuộc vào biến động nhiên liệu quốc tế. Việc tái khởi động chương trình điện hạt nhân chắc chắn sẽ khó khăn hơn trước, nhưng nếu tiếp tục trì hoãn, chúng ta có thể bỏ lỡ thêm một cơ hội quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.

Tuy vậy, trước mắt, chúng ta vẫn cần thúc đẩy tiến độ của các nhà máy nhiệt điện có trong quy hoạch để giải quyết bài toán thiếu điện cấp bách. Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ lưu trữ năng lượng đang mở ra nhiều triển vọng mới. Giá thành pin lưu trữ đã giảm đáng kể, giúp nâng cao tính ổn định của điện gió và điện mặt trời. Vì vậy, cần sớm có cơ chế phù hợp để khuyến khích phát triển các dự án năng lượng tái tạo đi kèm hệ thống lưu trữ, nhằm mục đích tăng cường sự ổn định cho hệ thống.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, thị trường năng lượng thế giới biến động khó lường, việc xây dựng một hệ thống điện an toàn, ổn định và bền vững đang trở thành yêu cầu chiến lược đối với sự phát triển của đất nước"- TS Đỗ Minh Thắng

- Muốn đạt mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hai con số, phát triển điện năng cần phải “đi trước” như thế nào, thưa ông?

- Bảo đảm đủ điện cho nền kinh tế trước hết là một bài toán kinh tế-kỹ thuật. Một nhà máy điện không thể được xây dựng trong vài tháng. Nếu chờ đến khi thiếu điện mới triển khai dự án thì khi công trình hoàn thành, nền kinh tế có thể đã phải trả giá bằng nhiều năm tăng trưởng bị ảnh hưởng. Do đó, quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm là điều kiện tiên quyết để bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Bên cạnh đó, nhu cầu vốn cho phát triển điện lực trong thời gian tới là rất lớn, vượt quá khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước. Muốn huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư quốc tế, cần có cơ chế chia sẻ lợi ích hợp lý. Nhà đầu tư chỉ sẵn sàng bỏ vốn khi họ nhìn thấy khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận tương xứng với mức độ rủi ro.

Điều này đòi hỏi môi trường chính sách phải ổn định, minh bạch và có tính dự báo cao. Trên thực tế, nguồn vốn cho các dự án năng lượng không hề thiếu. Vấn đề quan trọng là làm sao giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư, bởi chi phí huy động vốn phụ thuộc rất lớn vào mức độ rủi ro của dự án.

Ngoài việc phát triển nguồn điện, cần nhìn nhận ngành điện trong tổng thể chiến lược năng lượng quốc gia. Xu hướng điện hóa giao thông sẽ làm nhu cầu điện cho sạc pin tăng mạnh trong tương lai. Đồng thời, hệ thống pin xe điện cũng có thể trở thành nguồn lưu trữ phân tán hỗ trợ điều tiết phụ tải.

Trong lĩnh vực xây dựng, tiềm năng tiết kiệm năng lượng vẫn còn rất lớn. Việc hoàn thiện và áp dụng các tiêu chuẩn cách nhiệt cho công trình sẽ góp phần giảm nhu cầu điện, giảm áp lực đầu tư nguồn điện mới và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng của toàn xã hội.

- Xin chân thành cảm ơn ông

Tiến sĩ Đỗ Minh Thắng hiện giữ vị trí Quản lý Kỹ thuật mảng Năng lượng Tái tạo tại Công ty Meteodyn (Pháp), phụ trách các hoạt động liên quan đánh giá tài nguyên gió, phân tích hiệu suất vận hành turbine gió và dự báo sản lượng năng lượng tái tạo

Có thể bạn quan tâm

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.