Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.
Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Theo thống kê, Hà Nội hiện đang triển khai giải phóng mặt bằng khoảng 1.428 dự án, gồm 1.281 dự án sử dụng vốn ngân sách và 147 dự án vốn ngoài ngân sách. Trong số này có 27 công trình, dự án lớn, trọng điểm, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô. Tuy nhiên, cùng với tiến độ thi công, tình trạng bụi và chất thải xây dựng tồn đọng sau tháo dỡ đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân sinh sống quanh khu vực công trường.

Người dân buộc phải sống chung với ô nhiễm

Dọc các tuyến phố như dốc Vạn Kiếp, Tam Trinh hay Vành đai 2,5, các công trình đang hối hả triển khai. Song, đi cùng với đòi hỏi về tiến độ là áp lực về xử lý khối chất thải xây dựng khổng lồ. Chỉ sau thời gian ngắn, nhiều góc phố quen thuộc đã biến thành nơi tập kết của hàng nghìn tấn gạch đá, bê-tông chất cao ven đường.

Ông N.V.Q. (64 tuổi), người dân phường Hồng Hà cho biết, việc phá dỡ diễn ra cả ngày lẫn đêm. Vào những ngày nắng nóng, xe cộ qua lại liên tục khiến bụi bay mù mịt. “Bụi rất nhiều, có hôm phủ kín cả khu vực. Trước đây phế thải còn ngổn ngang, nay đã dọn bớt, nhưng chúng tôi vẫn khổ vì bụi”, ông Q nói.

Không chỉ bụi, tiếng ồn từ hoạt động thi công cũng trở thành nỗi ám ảnh với nhiều hộ dân. Tại dự án đường Vành đai 2,5 qua phường Khương Đình, đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, công tác giải phóng mặt bằng đang được đẩy nhanh, kéo theo các hoạt động tháo dỡ công trình, vận chuyển vật liệu diễn ra liên tục. Tiếng máy móc, phương tiện cơ giới kéo dài từ sáng sớm đến tối muộn khiến nhịp sinh hoạt của người dân chung quanh bị đảo lộn.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, khi đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, lượng chất thải xây dựng phát sinh có thời điểm lên tới khoảng 10.000 tấn/ngày. Từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn. Trong khi đó, năng lực tiếp nhận và xử lý hiện mới đạt khoảng 1.670 tấn/ngày, khiến nhiều khu vực tập kết thường xuyên quá tải, tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý môi trường đô thị.

Tại nhiều công trường, xuất hiện “núi” chất thải gồm bê-tông, gạch đá, cốt thép... Đây là những loại vật liệu có trọng lượng lớn, khó phân loại và tốn nhiều thời gian xử lý. Cùng với đó, tình trạng phế thải xây dựng đổ không đúng nơi quy định, đổ trộm ra lòng đường, vỉa hè, các khu đất công, xen kẹt… xảy ra thường xuyên.

Việc phát triển đô thị và bảo vệ môi trường phải được thực hiện song hành. Tuy nhiên, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội chia sẻ: Khó khăn lớn nhất trong công tác xử lý chất thải xây dựng hiện nay nằm ở khía cạnh thể chế và năng lực thực thi. Cụ thể, thành phố vẫn thiếu quy hoạch và bố trí các địa điểm đổ thải, cơ sở xử lý, tái chế; hệ thống định mức, đơn giá và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sau tái chế chưa được hoàn thiện đồng bộ. Chế tài xử lý hành vi đổ thải không đúng quy định còn phân tán giữa xã, phường, thanh tra và cơ quan môi trường.

Ngoài ra, Sở Xây dựng Hà Nội đánh giá: Vướng mắc trong việc tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng là chưa có hệ thống quy định cụ thể, đồng bộ về quản lý, sử dụng và tái chế chất thải rắn xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế tuy đã được ban hành (TCVN 11969:2018, TCVN 13694:2023, TCVN 13946:2024) nhưng chưa bao quát đầy đủ các chủng loại, cơ chế đầu ra. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống định mức và đơn giá thống nhất đối với vật liệu tái chế cũng khiến các công nghệ, giải pháp tái chế khó được áp dụng rộng rãi, đặc biệt trong các dự án đầu tư công.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý chất thải rắn

Trước mắt, để giảm áp lực quá tải trong xử lý chất thải rắn xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đang nghiên cứu phương án triển khai các trạm nghiền tái chế ngay tại công trường. Theo đó, máy nghiền có công suất khoảng 500 tấn/ngày sẽ được bố trí trực tiếp tại khu vực một số dự án nhằm giảm chi phí vận chuyển, đồng thời nâng cao khả năng tái sử dụng vật liệu ngay tại chỗ.

Song song với đó, thành phố cũng đang xúc tiến một số dự án xử lý chất thải rắn xây dựng. Trong đó có dự án lắp đặt trạm trung chuyển tạm thời và hệ thống tái chế bằng phương pháp nghiền tại xã Chương Dương với công suất 700 tấn/ngày; Nhà máy xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Đông Anh với công suất 1.000 tấn/ngày và xử lý 1.000 tấn bùn thải/ngày; khu tiếp nhận, xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Tiến Thắng với công suất 480 tấn/ngày.

Theo nhiều chuyên gia, để giải quyết căn cơ bài toán chất thải rắn xây dựng, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết và tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải này không quá phức tạp. Cùng với đó, cần ban hành quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, xác định trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép; đồng thời yêu cầu chủ nguồn thải chi trả đầy đủ chi phí xử lý theo quy định.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa chất thải xây dựng trở thành tài nguyên, ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết: “Thành phố đang nghiên cứu ba mô hình xử lý gồm xử lý tại chỗ, xử lý tập trung quy mô cấp xã và xử lý tập trung quy mô cấp thành phố. Đây được xem là hướng tiếp cận nhằm giảm tải cho các điểm tập kết, đồng thời nâng cao hiệu quả tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng”.

Cùng với các giải pháp về hạ tầng và công nghệ, Hà Nội cũng đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhằm thúc đẩy tái chế chất thải rắn xây dựng. Trong đó có các quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích sử dụng sản phẩm tái chế; cũng như các tiêu chí, yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng trong thiết kế và thi công công trình.

Một điều nữa, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị khi để xảy ra tình trạng đổ thải sai quy định. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến và chuyển đổi số trong quản lý, giám sát dòng chất thải.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng các nghị quyết dự kiến trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành liên quan cơ chế khuyến khích hoạt động tái chế theo quy định của Luật Thủ đô. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng.

Có thể bạn quan tâm

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.