Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.
Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Theo thống kê, Hà Nội hiện đang triển khai giải phóng mặt bằng khoảng 1.428 dự án, gồm 1.281 dự án sử dụng vốn ngân sách và 147 dự án vốn ngoài ngân sách. Trong số này có 27 công trình, dự án lớn, trọng điểm, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô. Tuy nhiên, cùng với tiến độ thi công, tình trạng bụi và chất thải xây dựng tồn đọng sau tháo dỡ đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân sinh sống quanh khu vực công trường.

Người dân buộc phải sống chung với ô nhiễm

Dọc các tuyến phố như dốc Vạn Kiếp, Tam Trinh hay Vành đai 2,5, các công trình đang hối hả triển khai. Song, đi cùng với đòi hỏi về tiến độ là áp lực về xử lý khối chất thải xây dựng khổng lồ. Chỉ sau thời gian ngắn, nhiều góc phố quen thuộc đã biến thành nơi tập kết của hàng nghìn tấn gạch đá, bê-tông chất cao ven đường.

Ông N.V.Q. (64 tuổi), người dân phường Hồng Hà cho biết, việc phá dỡ diễn ra cả ngày lẫn đêm. Vào những ngày nắng nóng, xe cộ qua lại liên tục khiến bụi bay mù mịt. “Bụi rất nhiều, có hôm phủ kín cả khu vực. Trước đây phế thải còn ngổn ngang, nay đã dọn bớt, nhưng chúng tôi vẫn khổ vì bụi”, ông Q nói.

Không chỉ bụi, tiếng ồn từ hoạt động thi công cũng trở thành nỗi ám ảnh với nhiều hộ dân. Tại dự án đường Vành đai 2,5 qua phường Khương Đình, đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, công tác giải phóng mặt bằng đang được đẩy nhanh, kéo theo các hoạt động tháo dỡ công trình, vận chuyển vật liệu diễn ra liên tục. Tiếng máy móc, phương tiện cơ giới kéo dài từ sáng sớm đến tối muộn khiến nhịp sinh hoạt của người dân chung quanh bị đảo lộn.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, khi đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, lượng chất thải xây dựng phát sinh có thời điểm lên tới khoảng 10.000 tấn/ngày. Từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn. Trong khi đó, năng lực tiếp nhận và xử lý hiện mới đạt khoảng 1.670 tấn/ngày, khiến nhiều khu vực tập kết thường xuyên quá tải, tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý môi trường đô thị.

Tại nhiều công trường, xuất hiện “núi” chất thải gồm bê-tông, gạch đá, cốt thép... Đây là những loại vật liệu có trọng lượng lớn, khó phân loại và tốn nhiều thời gian xử lý. Cùng với đó, tình trạng phế thải xây dựng đổ không đúng nơi quy định, đổ trộm ra lòng đường, vỉa hè, các khu đất công, xen kẹt… xảy ra thường xuyên.

Việc phát triển đô thị và bảo vệ môi trường phải được thực hiện song hành. Tuy nhiên, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội chia sẻ: Khó khăn lớn nhất trong công tác xử lý chất thải xây dựng hiện nay nằm ở khía cạnh thể chế và năng lực thực thi. Cụ thể, thành phố vẫn thiếu quy hoạch và bố trí các địa điểm đổ thải, cơ sở xử lý, tái chế; hệ thống định mức, đơn giá và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sau tái chế chưa được hoàn thiện đồng bộ. Chế tài xử lý hành vi đổ thải không đúng quy định còn phân tán giữa xã, phường, thanh tra và cơ quan môi trường.

Ngoài ra, Sở Xây dựng Hà Nội đánh giá: Vướng mắc trong việc tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng là chưa có hệ thống quy định cụ thể, đồng bộ về quản lý, sử dụng và tái chế chất thải rắn xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế tuy đã được ban hành (TCVN 11969:2018, TCVN 13694:2023, TCVN 13946:2024) nhưng chưa bao quát đầy đủ các chủng loại, cơ chế đầu ra. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống định mức và đơn giá thống nhất đối với vật liệu tái chế cũng khiến các công nghệ, giải pháp tái chế khó được áp dụng rộng rãi, đặc biệt trong các dự án đầu tư công.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý chất thải rắn

Trước mắt, để giảm áp lực quá tải trong xử lý chất thải rắn xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đang nghiên cứu phương án triển khai các trạm nghiền tái chế ngay tại công trường. Theo đó, máy nghiền có công suất khoảng 500 tấn/ngày sẽ được bố trí trực tiếp tại khu vực một số dự án nhằm giảm chi phí vận chuyển, đồng thời nâng cao khả năng tái sử dụng vật liệu ngay tại chỗ.

Song song với đó, thành phố cũng đang xúc tiến một số dự án xử lý chất thải rắn xây dựng. Trong đó có dự án lắp đặt trạm trung chuyển tạm thời và hệ thống tái chế bằng phương pháp nghiền tại xã Chương Dương với công suất 700 tấn/ngày; Nhà máy xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Đông Anh với công suất 1.000 tấn/ngày và xử lý 1.000 tấn bùn thải/ngày; khu tiếp nhận, xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Tiến Thắng với công suất 480 tấn/ngày.

Theo nhiều chuyên gia, để giải quyết căn cơ bài toán chất thải rắn xây dựng, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết và tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải này không quá phức tạp. Cùng với đó, cần ban hành quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, xác định trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép; đồng thời yêu cầu chủ nguồn thải chi trả đầy đủ chi phí xử lý theo quy định.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa chất thải xây dựng trở thành tài nguyên, ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết: “Thành phố đang nghiên cứu ba mô hình xử lý gồm xử lý tại chỗ, xử lý tập trung quy mô cấp xã và xử lý tập trung quy mô cấp thành phố. Đây được xem là hướng tiếp cận nhằm giảm tải cho các điểm tập kết, đồng thời nâng cao hiệu quả tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng”.

Cùng với các giải pháp về hạ tầng và công nghệ, Hà Nội cũng đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhằm thúc đẩy tái chế chất thải rắn xây dựng. Trong đó có các quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích sử dụng sản phẩm tái chế; cũng như các tiêu chí, yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng trong thiết kế và thi công công trình.

Một điều nữa, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị khi để xảy ra tình trạng đổ thải sai quy định. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến và chuyển đổi số trong quản lý, giám sát dòng chất thải.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng các nghị quyết dự kiến trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành liên quan cơ chế khuyến khích hoạt động tái chế theo quy định của Luật Thủ đô. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.