Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.
Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Theo thống kê, Hà Nội hiện đang triển khai giải phóng mặt bằng khoảng 1.428 dự án, gồm 1.281 dự án sử dụng vốn ngân sách và 147 dự án vốn ngoài ngân sách. Trong số này có 27 công trình, dự án lớn, trọng điểm, góp phần tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô. Tuy nhiên, cùng với tiến độ thi công, tình trạng bụi và chất thải xây dựng tồn đọng sau tháo dỡ đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân sinh sống quanh khu vực công trường.

Người dân buộc phải sống chung với ô nhiễm

Dọc các tuyến phố như dốc Vạn Kiếp, Tam Trinh hay Vành đai 2,5, các công trình đang hối hả triển khai. Song, đi cùng với đòi hỏi về tiến độ là áp lực về xử lý khối chất thải xây dựng khổng lồ. Chỉ sau thời gian ngắn, nhiều góc phố quen thuộc đã biến thành nơi tập kết của hàng nghìn tấn gạch đá, bê-tông chất cao ven đường.

Ông N.V.Q. (64 tuổi), người dân phường Hồng Hà cho biết, việc phá dỡ diễn ra cả ngày lẫn đêm. Vào những ngày nắng nóng, xe cộ qua lại liên tục khiến bụi bay mù mịt. “Bụi rất nhiều, có hôm phủ kín cả khu vực. Trước đây phế thải còn ngổn ngang, nay đã dọn bớt, nhưng chúng tôi vẫn khổ vì bụi”, ông Q nói.

Không chỉ bụi, tiếng ồn từ hoạt động thi công cũng trở thành nỗi ám ảnh với nhiều hộ dân. Tại dự án đường Vành đai 2,5 qua phường Khương Đình, đoạn Nguyễn Trãi - Đầm Hồng, công tác giải phóng mặt bằng đang được đẩy nhanh, kéo theo các hoạt động tháo dỡ công trình, vận chuyển vật liệu diễn ra liên tục. Tiếng máy móc, phương tiện cơ giới kéo dài từ sáng sớm đến tối muộn khiến nhịp sinh hoạt của người dân chung quanh bị đảo lộn.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, khi đồng loạt triển khai các dự án trọng điểm, lượng chất thải xây dựng phát sinh có thời điểm lên tới khoảng 10.000 tấn/ngày. Từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn. Trong khi đó, năng lực tiếp nhận và xử lý hiện mới đạt khoảng 1.670 tấn/ngày, khiến nhiều khu vực tập kết thường xuyên quá tải, tạo áp lực lớn đối với công tác quản lý môi trường đô thị.

Tại nhiều công trường, xuất hiện “núi” chất thải gồm bê-tông, gạch đá, cốt thép... Đây là những loại vật liệu có trọng lượng lớn, khó phân loại và tốn nhiều thời gian xử lý. Cùng với đó, tình trạng phế thải xây dựng đổ không đúng nơi quy định, đổ trộm ra lòng đường, vỉa hè, các khu đất công, xen kẹt… xảy ra thường xuyên.

Việc phát triển đô thị và bảo vệ môi trường phải được thực hiện song hành. Tuy nhiên, đại diện Sở Xây dựng Hà Nội chia sẻ: Khó khăn lớn nhất trong công tác xử lý chất thải xây dựng hiện nay nằm ở khía cạnh thể chế và năng lực thực thi. Cụ thể, thành phố vẫn thiếu quy hoạch và bố trí các địa điểm đổ thải, cơ sở xử lý, tái chế; hệ thống định mức, đơn giá và quy chuẩn kỹ thuật đối với sản phẩm sau tái chế chưa được hoàn thiện đồng bộ. Chế tài xử lý hành vi đổ thải không đúng quy định còn phân tán giữa xã, phường, thanh tra và cơ quan môi trường.

Ngoài ra, Sở Xây dựng Hà Nội đánh giá: Vướng mắc trong việc tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng là chưa có hệ thống quy định cụ thể, đồng bộ về quản lý, sử dụng và tái chế chất thải rắn xây dựng. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế tuy đã được ban hành (TCVN 11969:2018, TCVN 13694:2023, TCVN 13946:2024) nhưng chưa bao quát đầy đủ các chủng loại, cơ chế đầu ra. Bên cạnh đó, việc thiếu hệ thống định mức và đơn giá thống nhất đối với vật liệu tái chế cũng khiến các công nghệ, giải pháp tái chế khó được áp dụng rộng rãi, đặc biệt trong các dự án đầu tư công.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý chất thải rắn

Trước mắt, để giảm áp lực quá tải trong xử lý chất thải rắn xây dựng, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội đang nghiên cứu phương án triển khai các trạm nghiền tái chế ngay tại công trường. Theo đó, máy nghiền có công suất khoảng 500 tấn/ngày sẽ được bố trí trực tiếp tại khu vực một số dự án nhằm giảm chi phí vận chuyển, đồng thời nâng cao khả năng tái sử dụng vật liệu ngay tại chỗ.

Song song với đó, thành phố cũng đang xúc tiến một số dự án xử lý chất thải rắn xây dựng. Trong đó có dự án lắp đặt trạm trung chuyển tạm thời và hệ thống tái chế bằng phương pháp nghiền tại xã Chương Dương với công suất 700 tấn/ngày; Nhà máy xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Đông Anh với công suất 1.000 tấn/ngày và xử lý 1.000 tấn bùn thải/ngày; khu tiếp nhận, xử lý, tái chế chất thải rắn xây dựng tại xã Tiến Thắng với công suất 480 tấn/ngày.

Theo nhiều chuyên gia, để giải quyết căn cơ bài toán chất thải rắn xây dựng, trước hết địa phương cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết và tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý loại chất thải này không quá phức tạp. Cùng với đó, cần ban hành quy định bắt buộc phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, xác định trách nhiệm chuyển giao cho các đơn vị xử lý được cấp phép; đồng thời yêu cầu chủ nguồn thải chi trả đầy đủ chi phí xử lý theo quy định.

Để hiện thực hóa mục tiêu đưa chất thải xây dựng trở thành tài nguyên, ông Nguyễn Văn Quý, Trưởng phòng Quản lý chất thải rắn, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết: “Thành phố đang nghiên cứu ba mô hình xử lý gồm xử lý tại chỗ, xử lý tập trung quy mô cấp xã và xử lý tập trung quy mô cấp thành phố. Đây được xem là hướng tiếp cận nhằm giảm tải cho các điểm tập kết, đồng thời nâng cao hiệu quả tái chế, tái sử dụng phế thải xây dựng”.

Cùng với các giải pháp về hạ tầng và công nghệ, Hà Nội cũng đang xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý nhằm thúc đẩy tái chế chất thải rắn xây dựng. Trong đó có các quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng, cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích sử dụng sản phẩm tái chế; cũng như các tiêu chí, yêu cầu sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải rắn xây dựng trong thiết kế và thi công công trình.

Một điều nữa, cần tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, gắn trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, đơn vị khi để xảy ra tình trạng đổ thải sai quy định. Bên cạnh đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến và chuyển đổi số trong quản lý, giám sát dòng chất thải.

Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng các nghị quyết dự kiến trình Hội đồng nhân dân thành phố ban hành liên quan cơ chế khuyến khích hoạt động tái chế theo quy định của Luật Thủ đô. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực tái chế chất thải xây dựng.

Có thể bạn quan tâm

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.