Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Ông Trần Viết Lưu
Ông Trần Viết Lưu

Từ “gánh nặng” đến “nguồn lực”

- Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ rất nhanh. Theo ông, liệu xã hội đã nhìn nhận đúng và đầy đủ khi nói về già hóa dân số?

- Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và được dự báo sẽ chuyển sang giai đoạn dân số già trong khoảng hơn một thập niên tới. Quá trình này diễn ra với tốc độ cao hơn nhiều quốc gia phát triển, trong khi mức sinh đang liên tục giảm xuống dưới mức sinh thay thế.

Già hóa dân số là xu hướng tất yếu khi đời sống kinh tế phát triển, chất lượng chăm sóc sức khỏe được nâng lên và tuổi thọ của người dân ngày càng cao. Xét ở góc độ đó, đây là thành quả của quá trình phát triển chứ không phải là một hiện tượng tiêu cực.

Điều đáng quan tâm là trong nhận thức của xã hội hiện nay, già hóa dân số vẫn thường được gắn với những áp lực về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội hay gánh nặng ngân sách. Đó là những vấn đề có thật, nhưng nếu chỉ nhìn từ góc độ này thì chưa đầy đủ.

Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới xác định: Cần thích ứng với già hóa dân số, phát huy vai trò của người cao tuổi, đồng thời coi dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững. Tinh thần đó cũng thống nhất với quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát huy nguồn lực con người - yếu tố được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh là nguồn lực quan trọng nhất, là trung tâm của chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc, mà còn là một nguồn lực quan trọng của đất nước. Rất nhiều người sau tuổi nghỉ hưu vẫn tiếp tục lao động, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, tham gia công tác xã hội hay đảm nhiệm nhiều công việc ở địa phương. Họ tích lũy được vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, uy tín và những giá trị mà các thế hệ trẻ khó có thể có được trong thời gian ngắn.

Vì vậy, theo tôi, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách nhìn. Khi coi người cao tuổi là một nguồn lực, chúng ta sẽ có cách xây dựng chính sách khác, cách tổ chức xã hội khác và cả cách ứng xử trong gia đình cũng sẽ khác.

- Từ thực tiễn của Hội Người cao tuổi Việt Nam, xin ông đánh giá tiềm lực của người cao tuổi hiện nay?

- Hiện nay, Việt Nam có hơn 17 triệu người cao tuổi. Đây không chỉ là một nhóm dân số đông đảo mà còn là nguồn lực rất lớn về tri thức, kinh nghiệm và vốn xã hội.

Qua thực tiễn hoạt động của Hội, chúng tôi nhận thấy rất nhiều người cao tuổi vẫn đang trực tiếp tham gia phát triển kinh tế. Có người làm kinh tế hộ gia đình, có người điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại; nhiều người tiếp tục làm chuyên gia, tư vấn, truyền nghề sau khi nghỉ hưu. Ở cơ sở, người cao tuổi còn tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, hòa giải, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa và các phong trào của địa phương.

Điều đáng quý là những đóng góp ấy không chỉ đến từ năng lực chuyên môn, mà còn từ uy tín và kinh nghiệm sống. Trong nhiều cộng đồng, người cao tuổi chính là cầu nối giữa các thế hệ, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố sự đoàn kết và tạo đồng thuận trong xã hội.

Một giá trị khác rất lớn nhưng ít được nhắc đến: Vai trò của người cao tuổi trong gia đình. Hàng triệu ông bà đang hỗ trợ chăm sóc cháu, quán xuyến việc nhà để con cái yên tâm lao động. Những đóng góp ấy rất khó đo đếm bằng các chỉ số kinh tế, nhưng lại góp phần giảm đáng kể áp lực cho nhiều gia đình trẻ và tạo điều kiện để lực lượng lao động chính toàn tâm phát triển sự nghiệp. Họ chăm sóc cháu, giữ gìn nếp nhà, truyền lại kinh nghiệm sống và trở thành chỗ dựa tinh thần cho con cháu.

Kinh tế bạc - Một cách tiếp cận mới

- Trên thế giới, nhiều quốc gia đang coi “Kinh tế bạc” - Silver Economy như một giải pháp quan trọng để ứng phó với già hóa dân số. Trong điều kiện của nước ta, tiềm năng của nền kinh tế này cần được phát huy ra sao?

- Khái niệm Silver Economy hiện được nhắc đến khá nhiều, nhưng nếu chỉ hiểu đây là thị trường cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho người cao tuổi thì vẫn chưa đầy đủ.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Silver Economy không đơn thuần là thị trường hàng hóa, dịch vụ dành cho người cao tuổi, mà là toàn bộ các hoạt động kinh tế được tạo ra từ nhu cầu, sức mua, kinh nghiệm và khả năng tiếp tục đóng góp của nhóm dân số này. Theo tôi, điều cốt lõi của Silver Economy là thay đổi cách nhìn về người cao tuổi. Họ không chỉ là người sử dụng dịch vụ, mà còn là chủ thể tham gia tạo ra giá trị kinh tế.

Điều này đòi hỏi hệ thống chính sách phải thay đổi theo hướng linh hoạt hơn. Chẳng hạn, tạo cơ hội để người cao tuổi tiếp tục làm việc ở những lĩnh vực phù hợp; khuyến khích họ tham gia tư vấn, đào tạo, truyền nghề, nghiên cứu khoa học hoặc phát triển kinh tế gia đình. Đồng thời, cần phát triển mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn, nhà ở thân thiện, công nghệ hỗ trợ, tài chính, bảo hiểm, du lịch và các hoạt động văn hóa dành cho người cao tuổi.

Xin được nhấn mạnh về tầm mức của việc Luật Người cao tuổi dành riêng một chương quy định về việc phát huy vai trò của người cao tuổi. Bên cạnh các chính sách bảo trợ, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm đời sống, Luật cũng khẳng định: Người cao tuổi có quyền tiếp tục lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, truyền nghề, tham gia hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng theo khả năng của mình.

screenshot-2.png

- Như vậy, phát triển Silver Economy không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp, mà còn là câu chuyện của cả hệ thống chính sách?

- Đúng vậy. Silver Economy không thể phát triển nếu chỉ trông chờ vào doanh nghiệp hay thị trường. Đây là quá trình đòi hỏi sự phối hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và chính bản thân người cao tuổi.

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội, việc làm, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường thuận lợi để các dịch vụ dành cho người cao tuổi phát triển. Doanh nghiệp cần nhìn thấy cơ hội từ một nhóm khách hàng mới với nguồn tri thức và kinh nghiệm có thể tiếp tục tạo ra giá trị.

Một lĩnh vực rất quan trọng là phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Khi quy mô dân số già tăng nhanh, nhu cầu về điều dưỡng, phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà và chăm sóc dài hạn cũng sẽ tăng mạnh. Đây vừa là yêu cầu của hệ thống an sinh, vừa mở ra một ngành dịch vụ có nhiều tiềm năng trong tương lai.

Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến chuyển đổi số và cơ hội học tập suốt đời giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống độc lập, nâng cao chất lượng sống và tiếp tục đóng góp cho cộng đồng.

Theo tôi, thành công của Silver Economy không nên chỉ được đo bằng quy mô thị trường hay doanh thu của các ngành dịch vụ. Điều quan trọng hơn, nền kinh tế ấy phải giúp người cao tuổi sống khỏe hơn, chủ động hơn và có nhiều cơ hội tiếp tục cống hiến. Đó cũng là thước đo của một xã hội phát triển bền vững và bao trùm.

- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của ông!

Nếu làm tốt, kinh tế bạc sẽ không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mà còn mở ra một thị trường mới, tạo thêm việc làm và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Có thể bạn quan tâm

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.