Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Ông Trần Viết Lưu
Ông Trần Viết Lưu

Từ “gánh nặng” đến “nguồn lực”

- Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ rất nhanh. Theo ông, liệu xã hội đã nhìn nhận đúng và đầy đủ khi nói về già hóa dân số?

- Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011 và được dự báo sẽ chuyển sang giai đoạn dân số già trong khoảng hơn một thập niên tới. Quá trình này diễn ra với tốc độ cao hơn nhiều quốc gia phát triển, trong khi mức sinh đang liên tục giảm xuống dưới mức sinh thay thế.

Già hóa dân số là xu hướng tất yếu khi đời sống kinh tế phát triển, chất lượng chăm sóc sức khỏe được nâng lên và tuổi thọ của người dân ngày càng cao. Xét ở góc độ đó, đây là thành quả của quá trình phát triển chứ không phải là một hiện tượng tiêu cực.

Điều đáng quan tâm là trong nhận thức của xã hội hiện nay, già hóa dân số vẫn thường được gắn với những áp lực về chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội hay gánh nặng ngân sách. Đó là những vấn đề có thật, nhưng nếu chỉ nhìn từ góc độ này thì chưa đầy đủ.

Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới xác định: Cần thích ứng với già hóa dân số, phát huy vai trò của người cao tuổi, đồng thời coi dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển bền vững. Tinh thần đó cũng thống nhất với quan điểm xuyên suốt của Đảng về phát huy nguồn lực con người - yếu tố được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh là nguồn lực quan trọng nhất, là trung tâm của chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Người cao tuổi không chỉ là đối tượng cần được chăm sóc, mà còn là một nguồn lực quan trọng của đất nước. Rất nhiều người sau tuổi nghỉ hưu vẫn tiếp tục lao động, sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, tham gia công tác xã hội hay đảm nhiệm nhiều công việc ở địa phương. Họ tích lũy được vốn sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, uy tín và những giá trị mà các thế hệ trẻ khó có thể có được trong thời gian ngắn.

Vì vậy, theo tôi, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách nhìn. Khi coi người cao tuổi là một nguồn lực, chúng ta sẽ có cách xây dựng chính sách khác, cách tổ chức xã hội khác và cả cách ứng xử trong gia đình cũng sẽ khác.

- Từ thực tiễn của Hội Người cao tuổi Việt Nam, xin ông đánh giá tiềm lực của người cao tuổi hiện nay?

- Hiện nay, Việt Nam có hơn 17 triệu người cao tuổi. Đây không chỉ là một nhóm dân số đông đảo mà còn là nguồn lực rất lớn về tri thức, kinh nghiệm và vốn xã hội.

Qua thực tiễn hoạt động của Hội, chúng tôi nhận thấy rất nhiều người cao tuổi vẫn đang trực tiếp tham gia phát triển kinh tế. Có người làm kinh tế hộ gia đình, có người điều hành doanh nghiệp, hợp tác xã, trang trại; nhiều người tiếp tục làm chuyên gia, tư vấn, truyền nghề sau khi nghỉ hưu. Ở cơ sở, người cao tuổi còn tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường, hòa giải, giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa và các phong trào của địa phương.

Điều đáng quý là những đóng góp ấy không chỉ đến từ năng lực chuyên môn, mà còn từ uy tín và kinh nghiệm sống. Trong nhiều cộng đồng, người cao tuổi chính là cầu nối giữa các thế hệ, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố sự đoàn kết và tạo đồng thuận trong xã hội.

Một giá trị khác rất lớn nhưng ít được nhắc đến: Vai trò của người cao tuổi trong gia đình. Hàng triệu ông bà đang hỗ trợ chăm sóc cháu, quán xuyến việc nhà để con cái yên tâm lao động. Những đóng góp ấy rất khó đo đếm bằng các chỉ số kinh tế, nhưng lại góp phần giảm đáng kể áp lực cho nhiều gia đình trẻ và tạo điều kiện để lực lượng lao động chính toàn tâm phát triển sự nghiệp. Họ chăm sóc cháu, giữ gìn nếp nhà, truyền lại kinh nghiệm sống và trở thành chỗ dựa tinh thần cho con cháu.

Kinh tế bạc - Một cách tiếp cận mới

- Trên thế giới, nhiều quốc gia đang coi “Kinh tế bạc” - Silver Economy như một giải pháp quan trọng để ứng phó với già hóa dân số. Trong điều kiện của nước ta, tiềm năng của nền kinh tế này cần được phát huy ra sao?

- Khái niệm Silver Economy hiện được nhắc đến khá nhiều, nhưng nếu chỉ hiểu đây là thị trường cung cấp sản phẩm hay dịch vụ cho người cao tuổi thì vẫn chưa đầy đủ.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Silver Economy không đơn thuần là thị trường hàng hóa, dịch vụ dành cho người cao tuổi, mà là toàn bộ các hoạt động kinh tế được tạo ra từ nhu cầu, sức mua, kinh nghiệm và khả năng tiếp tục đóng góp của nhóm dân số này. Theo tôi, điều cốt lõi của Silver Economy là thay đổi cách nhìn về người cao tuổi. Họ không chỉ là người sử dụng dịch vụ, mà còn là chủ thể tham gia tạo ra giá trị kinh tế.

Điều này đòi hỏi hệ thống chính sách phải thay đổi theo hướng linh hoạt hơn. Chẳng hạn, tạo cơ hội để người cao tuổi tiếp tục làm việc ở những lĩnh vực phù hợp; khuyến khích họ tham gia tư vấn, đào tạo, truyền nghề, nghiên cứu khoa học hoặc phát triển kinh tế gia đình. Đồng thời, cần phát triển mạnh các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, chăm sóc dài hạn, nhà ở thân thiện, công nghệ hỗ trợ, tài chính, bảo hiểm, du lịch và các hoạt động văn hóa dành cho người cao tuổi.

Xin được nhấn mạnh về tầm mức của việc Luật Người cao tuổi dành riêng một chương quy định về việc phát huy vai trò của người cao tuổi. Bên cạnh các chính sách bảo trợ, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm đời sống, Luật cũng khẳng định: Người cao tuổi có quyền tiếp tục lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, truyền nghề, tham gia hoạt động kinh tế, văn hóa, giáo dục và đóng góp vào sự phát triển của cộng đồng theo khả năng của mình.

screenshot-2.png

- Như vậy, phát triển Silver Economy không chỉ là câu chuyện của doanh nghiệp, mà còn là câu chuyện của cả hệ thống chính sách?

- Đúng vậy. Silver Economy không thể phát triển nếu chỉ trông chờ vào doanh nghiệp hay thị trường. Đây là quá trình đòi hỏi sự phối hợp của Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và chính bản thân người cao tuổi.

Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách về an sinh xã hội, việc làm, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và tạo môi trường thuận lợi để các dịch vụ dành cho người cao tuổi phát triển. Doanh nghiệp cần nhìn thấy cơ hội từ một nhóm khách hàng mới với nguồn tri thức và kinh nghiệm có thể tiếp tục tạo ra giá trị.

Một lĩnh vực rất quan trọng là phát triển nguồn nhân lực chăm sóc người cao tuổi. Khi quy mô dân số già tăng nhanh, nhu cầu về điều dưỡng, phục hồi chức năng, chăm sóc tại nhà và chăm sóc dài hạn cũng sẽ tăng mạnh. Đây vừa là yêu cầu của hệ thống an sinh, vừa mở ra một ngành dịch vụ có nhiều tiềm năng trong tương lai.

Bên cạnh đó, cần quan tâm hơn đến chuyển đổi số và cơ hội học tập suốt đời giúp người cao tuổi duy trì cuộc sống độc lập, nâng cao chất lượng sống và tiếp tục đóng góp cho cộng đồng.

Theo tôi, thành công của Silver Economy không nên chỉ được đo bằng quy mô thị trường hay doanh thu của các ngành dịch vụ. Điều quan trọng hơn, nền kinh tế ấy phải giúp người cao tuổi sống khỏe hơn, chủ động hơn và có nhiều cơ hội tiếp tục cống hiến. Đó cũng là thước đo của một xã hội phát triển bền vững và bao trùm.

- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của ông!

Nếu làm tốt, kinh tế bạc sẽ không chỉ nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi mà còn mở ra một thị trường mới, tạo thêm việc làm và động lực tăng trưởng cho nền kinh tế.

Có thể bạn quan tâm

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi.