Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.
TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

- Thưa ông, hiện nay việc phá dỡ công trình xây dựng là vấn đề lớn ở các đô thị, chất thải xây dựng đã và đang được xử lý như thế nào?

- Theo các nghiên cứu, hiện nay chất thải xây dựng (còn gọi là xà bần) chiếm khoảng 10-12% tổng lượng chất thải đô thị trên phạm vi cả nước; riêng tại các đô thị lớn có tốc độ đô thị hóa và xây dựng cao, tỷ lệ này có thể đạt 20-25%. Theo báo cáo của Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, năm 2025 tổng khối lượng chất thải phát sinh trên toàn quốc khoảng 72.315 tấn/ngày; trong đó, khu vực đô thị khoảng 39.153 tấn/ngày (chiếm tỷ lệ 54%). Trong vòng bốn năm, từ năm 2022 đến 2025, khối lượng chất thải tăng khoảng 10%, trung bình 2,5%/năm.

Nguồn phát sinh chất thải xây dựng chủ yếu đến từ hoạt động phá dỡ công trình cũ; hoạt động giải phóng mặt bằng phục vụ các dự án phát triển đô thị, giao thông và hạ tầng kỹ thuật; xây dựng mới các công trình dân dụng, công nghiệp; cùng với các hoạt động sửa chữa, bảo trì công trình trong quá trình sử dụng.

Thành phần của chất thải xây dựng bao gồm đất đào, cát, bùn và vật liệu san nền; bê-tông, bê-tông cốt thép, gạch, ngói và các vật liệu xây truyền thống từ các công trình bị phá dỡ; nhựa đường từ các công trình giao thông; kim loại như thép, nhôm, đồng; gỗ, kính, nhựa, cao su và các vật liệu hoàn thiện khác. Trong đó, đất đào, bê-tông, gạch và vật liệu xây dựng thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về khối lượng, trong khi thép và các kim loại tuy chiếm tỷ lệ nhỏ hơn nhưng có giá trị kinh tế tái chế cao.

Phần lớn chất thải được xử lý theo phương thức truyền thống là vận chuyển đến các bãi đổ thải gây ra việc quá tải ở các bãi chôn lấp hoặc sử dụng làm vật liệu san lấp, có giá trị thấp. Tỷ lệ tái sử dụng, tái chế còn ở mức thấp, dẫn đến sự lãng phí một tài nguyên vật liệu lớn, gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên thiên nhiên và làm mất đi cơ hội giảm phát thải khí nhà kính.

- Từ góc nhìn của chuyên gia, xin ông phân tích về những vướng mắc đang cản trở quá trình thu hút đầu tư vào lĩnh vực tái chế phế thải xây dựng?

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, đã quy định rõ đất, đá và chất thải rắn phát sinh từ hoạt động xây dựng được tái sử dụng làm vật liệu xây dựng hoặc san lấp mặt bằng theo quy định. Hay tại mục 5 của Nghị quyết số 09/NQ-CP ngày 3/2/2019 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 1/2019 đã thống nhất chỉ đạo về phương án giao đầu mối quản lý nhà nước về chất thải rắn: Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) là cơ quan đầu mối, thống nhất quản lý nhà nước về chất thải rắn; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm toàn diện về vấn đề rác thải và xử lý rác thải trên địa bàn.

Kể từ ngày 1/7, Nghị định số 209/2026/NĐ-CP về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý vật liệu xây dựng có hiệu lực. Nghị định này sẽ thay thế hoàn toàn cho Nghị định số 09/2021/NĐ-CP trước đây nhằm tạo hành lang pháp lý toàn diện hơn trong việc kiểm soát vật liệu xây dựng đầu vào, đồng thời thúc đẩy các chính sách ưu đãi, khuyến khích sử dụng vật liệu xanh và tái chế.

Tuy nhiên, việc đưa phế thải xây dựng vào chuỗi tái chế tuần hoàn trên thực tế vẫn đang đối mặt với nhiều nút thắt: Một là, thiếu hành lang kỹ thuật. Hiện nay chúng ta chưa có các bộ tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia cụ thể để phân loại, chứng nhận chất lượng cho cốt liệu tái chế (như bê-tông nghiền, gạch vỡ) gây ra tâm lý e ngại cho các chủ đầu tư, tư vấn thiết kế và nhà thầu không dám đưa vật liệu tái chế vào các công trình có vốn từ ngân sách (đầu tư công) vì sợ sai phạm hoặc không được nghiệm thu.

Hai là, giá trị kinh tế không cao. Chất thải xây dựng thường có giá trị thương mại sau tái chế thấp, chi phí vận chuyển và chi phí cho bãi tập kết chất thải lớn, dẫn đến giá thành sử dụng vật liệu tái chế lớn hơn so sử dụng vật liệu xây dựng tự nhiên. Ba là, người dân chưa có thói quen phân loại tại nguồn.

5-2.jpg
Viện Vật liệu xây dựng đẩy mạnh nghiên cứu các loại vật liệu thân thiện môi trường. Ảnh: VĂN HỌC

- Như vậy, đâu là giải pháp hướng tới quản lý, biến phế thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, thưa ông?

- Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý. Phải chuyển đổi sang “tư duy xanh” trong quản lý, sản xuất, tiêu thụ vật liệu xây dựng. Hiện nay, phần lớn chất thải xây dựng vẫn được quản lý như chất thải cần vận chuyển và chôn lấp. Trong khi đó, nhiều quốc gia đã chuyển sang coi đây là tài nguyên vật liệu thứ cấp của đô thị. Vì vậy, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng quản lý vòng đời vật liệu xây dựng, quy định trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu và đơn vị phá dỡ trong việc thu hồi, phân loại và tái sử dụng vật liệu. Các chương trình cải tạo đô thị, giải phóng mặt bằng và phá dỡ công trình cần được lồng ghép yêu cầu về kinh tế tuần hoàn ngay từ giai đoạn chuẩn bị dự án.

Thứ hai, bắt buộc phân loại vật liệu ngay từ khâu phá dỡ. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả tái chế phụ thuộc rất lớn vào công tác phân loại tại nguồn. Cần chuyển từ phương thức “đập bỏ đồng loạt” sang phương thức “tháo dỡ có chọn lọc”, trong đó bê-tông, thép, gạch, gỗ, kính và các vật liệu khác được tách riêng trước khi vận chuyển. Việc phân loại tại nguồn không chỉ nâng cao chất lượng vật liệu tái chế mà còn làm giảm đáng kể chi phí xử lý về sau.

Thứ ba, xây dựng thị trường vật liệu xây dựng tái chế, vật liệu xanh. Một trong những nguyên nhân khiến chất thải xây dựng chưa được tái chế hiệu quả là thiếu đầu ra cho sản phẩm tái chế. Do đó cần ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với vật liệu tái chế; chính sách ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế, áp dụng cơ chế mua sắm xanh, yêu cầu một tỷ lệ nhất định vật liệu tái chế trong các dự án sử dụng vốn ngân sách.

Thứ tư, hình thành hạ tầng tái chế chất thải xây dựng. Nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng cường công tác quản lý chất lượng, cần hình thành các trung tâm tái chế chất thải xây dựng tập trung, thực hiện các công đoạn nghiền bê-tông thành cốt liệu tái chế; tái chế nhựa đường; tái chế gạch, kim loại và vật liệu xây dựng khác. Thúc đẩy áp dụng công nghệ nghiền tại chỗ.

Thứ năm, ứng dụng công nghệ số trong quản lý phế thải xây dựng đô thị. Các công nghệ như BIM, GIS, và trí tuệ nhân tạo có thể được sử dụng để dự báo khối lượng vật liệu phát sinh từ các dự án phá dỡ, theo dõi dòng vật liệu tái chế và kết nối cung-cầu trên thị trường vật liệu thứ cấp.

Thứ sáu, tăng cường chế tài xử lý vi phạm và kiểm soát đổ thải trái phép. Hoàn thiện hệ thống chế tài đối với các hành vi đổ chất thải không đúng nơi quy định, không thực hiện phân loại chất thải xây dựng tại nguồn, vận chuyển chất thải không đúng quy trình hoặc gây ô nhiễm môi trường trong quá trình xử lý. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong giám sát hoạt động vận chuyển, xử lý chất thải xây dựng. Bên cạnh các biện pháp xử phạt hành chính, cần nghiên cứu áp dụng cơ chế buộc khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại môi trường và công khai thông tin vi phạm nhằm nâng cao tính răn đe.

- Không ít ý kiến cho rằng, Nhà nước có thể nghiên cứu áp dụng cơ chế tín chỉ carbon đối với vật liệu tái chế nhằm ghi nhận giá trị giảm phát thải, tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp. Theo ông, làm sao để tạo động lực cho doanh nghiệp, khi họ tham gia thị trường tín chỉ carbon?

- Đây là một đề xuất có cơ sở khoa học trong bối cảnh nhu cầu vật liệu ngày càng lớn, tài nguyên thiên nhiên dần suy giảm và yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng cao. Chất thải xây dựng nếu được tái chế, tái sử dụng thay vì chôn lấp không chỉ giảm áp lực lên quỹ đất, giảm ô nhiễm môi trường mà còn góp phần tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, giảm tiêu hao năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Vì vậy, việc nghiên cứu cơ chế ghi nhận lượng phát thải được cắt giảm từ hoạt động tái chế chất thải xây dựng, sản xuất vật liệu tái chế dưới dạng tín chỉ carbon là hướng đi cần được quan tâm, từ đó từng bước tích hợp vào thị trường carbon trong nước. Nguồn thu từ tín chỉ carbon sẽ tạo thêm động lực kinh tế cho doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ tái chế, góp phần hình thành thị trường vật liệu xây dựng tái chế và thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng cần tiếp tục đổi mới công nghệ, thiết bị... nâng cao chất lượng, giảm giá thành sản phẩm, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm vật liệu xây dựng xanh, vật liệu xây dựng tái chế.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Chỉ khi chi phí vi phạm lớn hơn chi phí tuân thủ thì các chính sách về tái chế, kinh tế tuần hoàn và quản lý chất thải xây dựng mới có thể phát huy hiệu quả trong thực tiễn".

Có thể bạn quan tâm

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.