Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM
Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

1Buổi sáng đưa con đến trường. Buổi trưa tranh thủ ghé bệnh viện lấy thuốc cho mẹ. Chiều họp với đối tác. Tối lại gọi điện hướng dẫn bố cài một ứng dụng trên điện thoại, rồi quay sang tâm sự, dạy con học. Ở đâu đó trong nhịp sống hối hả của các đô thị, không ít người thuộc thế hệ 7X, 8X đang sống những ngày như thế.

“Tôi nghĩ chúng ta vẫn chưa hình dung hết mình đang đứng trước một thay đổi lớn đến mức nào”, nhà văn Đặng Hoàng Giang mở đầu cuộc trò chuyện.

Nếu trước đây, tuổi già chỉ là vài năm cuối đời thì giờ đây, nhiều người có thể sống thêm hai, thậm chí ba thập kỷ, chặng cuối bỗng thành một chặng đường đủ dài để tiếp tục học tập, làm việc, cống hiến và tận hưởng cuộc sống. “Khi tuổi thọ thay đổi, toàn bộ cấu trúc của cuộc đời cũng thay đổi theo”, nhận xét ấy của ông khiến tôi nghĩ nhiều hơn đến những gia đình quanh mình. Ngày càng có nhiều mái nhà có bốn thế hệ cùng hiện diện. Những người ngoài 80 tuổi vẫn còn đủ minh mẫn để nhìn thấy cháu lập gia đình, rồi đón chắt chào đời. Từ đây, gia đình Việt Nam bắt đầu bước vào một trạng thái chưa từng có tiền lệ.

Nhà văn Đặng Hoàng Giang nhìn nhận, xã hội có xu hướng coi già hóa dân số như một vấn đề của người cao tuổi. Nhưng những tác động đầu tiên và rõ rệt nhất lại đang diễn ra ở thế hệ trung niên - những người cùng lúc phải gánh nhiều vai trò nhất trong gia đình. Trong nghiên cứu xã hội học, đó được gọi là “thế hệ sandwich” - lớp người bị “kẹp” giữa hai đầu trách nhiệm. Nhưng ở Việt Nam, áp lực ấy còn mang một sắc thái rất riêng. Bởi từ bao đời nay, chăm sóc cha mẹ khi về già không chỉ là bổn phận, mà còn là một chuẩn mực đạo đức. Người Việt lớn lên cùng quan niệm “trẻ cậy cha, già cậy con”.

Cha mẹ dành cả đời vun vén cho con cái, và đến lượt mình, con cái sẽ phụng dưỡng cha mẹ khi tuổi già.

Mô hình ấy từng vận hành rất tự nhiên trong một xã hội mà tuổi thọ ngắn hơn, gia đình nhiều thế hệ sống gần nhau và nhịp sống chậm hơn. Nhưng hôm nay, hoàn cảnh đã đổi thay. Con cái đi học, đi làm ở những thành phố khác, thậm chí ở những quốc gia khác. Gia đình hạt nhân dần thay thế gia đình nhiều thế hệ. Cha mẹ sống lâu hơn, khỏe mạnh hơn nhưng cũng cần được đồng hành trong một khoảng thời gian dài hơn. Những quy ước cũ, vì thế, bắt đầu đứng trước những câu hỏi mới.

Trong nhiều gia đình Việt Nam, khi cha mẹ bước vào tuổi già, con cái thường mặc nhiên trở thành người đưa ra quyết định. Với mong muốn bảo vệ, nhiều người bắt đầu sắp xếp thay cha mẹ từ chuyện ăn uống, khám bệnh đến các khoản chi tiêu, thậm chí cả việc gặp gỡ bạn bè hay đi đâu, làm gì. Tất cả đều xuất phát từ tình thương.

Nhưng nhà văn Đặng Hoàng Giang đặt ra một câu hỏi khác: “Liệu yêu thương có đồng nghĩa với việc quyết định thay?”. Ông kể rằng trong nhiều cuộc trò chuyện với người cao tuổi, điều khiến họ buồn không hẳn là bệnh tật. Điều họ sợ hơn là cảm giác mình dần trở thành một người không còn được lắng nghe. Mọi người vẫn hỏi han, vẫn chăm sóc, nhưng ít ai hỏi họ muốn gì.

“Chúng ta vẫn quen nói đến chăm sóc người già”, Đặng Hoàng Giang chia sẻ. “Nhưng chăm sóc không có nghĩa là tước đi quyền tự chủ của họ”.

2Cuộc trò chuyện rồi cũng chạm đến một chủ đề vốn nhiều năm nay vẫn gây tranh luận trong xã hội: Viện dưỡng lão.

Ở Việt Nam, không ít người vẫn xem việc đưa cha mẹ vào cơ sở chăm sóc là biểu hiện của... sự bất hiếu. Quan niệm ấy bắt nguồn từ một nền văn hóa coi gia đình là nơi duy nhất người già thuộc về. Nhưng theo Đặng Hoàng Giang, khi cấu trúc gia đình thay đổi, có lẽ cũng cần nhìn nhận vấn đề này theo một cách bình tĩnh và cởi mở hơn.

“Chúng ta thường đặt câu hỏi: Con cái có chăm cha mẹ hay không? Nhưng có lẽ nên đặt thêm một câu hỏi khác: Cha mẹ muốn sống như thế nào?”. Ông nhấn mạnh: Không phải người cao tuổi nào cũng mong sống cùng con cháu. Nhiều người muốn có không gian riêng, muốn duy trì các mối quan hệ bạn bè đồng trang lứa, muốn tiếp tục một nhịp sống độc lập, thay vì trở thành trung tâm của mọi sự chăm sóc.

Từ đây, ông cũng chia sẻ thêm về những mô hình quốc tế mà Việt Nam có thể học hỏi. Bên cạnh viện dưỡng lão truyền thống, viện dưỡng lão đa thế hệ (mô hình chăm sóc sức khỏe hiện đại, nơi người cao tuổi và các bạn trẻ sinh viên, tình nguyện viên chung sống dưới một mái nhà) cũng là một lựa chọn thú vị dành cho những người già không muốn vây quanh bởi... toàn người già.

Tại đây, thế hệ trẻ được hỗ trợ không gian sống miễn phí hoặc giá rẻ. Đổi lại, họ sẽ dành thời gian trò chuyện, hỗ trợ công nghệ và chăm sóc tinh thần cho người già. Mô hình này không chỉ xóa nhòa khoảng cách thế hệ và đẩy lùi sự cô đơn của tuổi già, mà còn tạo nên một cộng đồng năng động. Hoặc, với những người cao tuổi còn sức khỏe (và hơn hết, muốn được già đi trong không gian sống quen thuộc, trong mái nhà thân thương của họ), các dịch vụ chăm sóc tại nhà lại là lựa chọn phù hợp.

Vậy nên, điều quan trọng không nằm ở địa điểm, mà ở việc lựa chọn có xuất phát từ mong muốn của chính người cao tuổi hay không?

3Trong khoảnh khắc ấy, tôi chợt nghĩ đến rất nhiều gia đình Việt Nam. Những cuộc tranh luận về việc bán hay giữ căn nhà cũ, về chuyện có nên ngừng lái xe, có nên chuyển đến sống cùng con, hay đơn giản là hôm nay nên ăn gì..., tất cả đều phản ánh một sự thay đổi lớn hơn nhiều: Tuổi già không còn là một giai đoạn ngắn ngủi để con cháu “chăm cho hết trách nhiệm”, mà là một phần đời dài, nơi mỗi con người vẫn cần được là chính mình.

Sức khỏe, sự đủ đầy, hay chuyện con cháu quần tụ là những điều thường được mong mỏi. Nhưng có lẽ, ai cũng muốn được sống như một con người độc lập, vẫn được yêu thương mà không bị thương hại, được giúp đỡ mà không đánh mất quyền lựa chọn, vẫn được thấy mình còn có ích cho gia đình và xã hội, cho hôm nay và cả ngày mai.

Đôi khi, hiếu thảo không chỉ là giữ cha mẹ ở gần mình, hiếu thảo còn là đủ bao dung để chấp nhận rằng cha mẹ cũng có quyền lựa chọn cuộc sống của họ. Điều đó đòi hỏi không chỉ tình yêu thương, mà còn là sự tôn trọng”.
Nhà văn Đặng Hoàng Giang

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.