Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến
Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Áp lực và tổn thất do thiếu điện

Nhìn lại giai đoạn nắng nóng và hạn hán kỷ lục năm 2023 (từng khiến các hồ thủy điện miền bắc thiếu hụt nguồn nước nghiêm trọng, làm gián đoạn dây chuyền công nghệ, gây tổn thất lớn cho nhiều nhà máy điện) do ảnh hưởng của việc cắt giảm phụ tải bất khả kháng, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt những thách thức chưa từng có.

Đơn cử, Công ty cổ phần Gang thép Cao Bằng (phường Thục Phán, tỉnh Cao Bằng). Với đặc thù dây chuyền có tính liên động cực kỳ cao, việc dừng sản xuất đột ngột không đơn thuần là tạm dừng máy, mà kéo theo hệ lụy dây chuyền nghiêm trọng đến toàn bộ thiết bị. Ông Hoàng Huy Bình, Trưởng phòng Kỹ thuật cơ điện của công ty, cho biết: “Chỉ riêng hai tháng cao điểm năm 2023, việc phải dừng hệ thống lò cao lần lượt là 67 giờ và 51 giờ để phối hợp tiết giảm điện đã khiến công ty thiệt hại sơ bộ 9,19 tỷ đồng. Mỗi ngày dừng sản xuất, công ty vẫn phải gánh khoản chi phí cố định khoảng 600 triệu đồng và tốn thêm 250 triệu đồng/ngày tiền điện phụ trợ để duy trì ủ lò an toàn. Khi nguồn điện bị cắt giảm xuống mức tối thiểu, nhà máy buộc phải dừng hoàn toàn phân xưởng khai tuyển và luyện thép, làm đứt gãy chuỗi cung ứng phôi thép ra thị trường”.

Tại trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, tình trạng thiếu hụt năng lượng vào mùa nắng nóng cũng tạo ra áp lực nặng nề lên khối sản xuất tư nhân. Theo ông Lê Văn Bộ, Cơ sở sản xuất Tố Tâm chay (xã Cổ Đô), để bảo đảm tiến độ các đơn hàng đã ký kết với đối tác, cơ sở này buộc phải liên tục thay ca đổi kíp, cho công nhân hoạt động luân phiên. Sự xáo trộn này khiến chi phí tăng cao, trực tiếp làm tăng giá thành sản phẩm và khiến doanh thu của đơn vị bị ảnh hưởng đáng kể.

Ở thời điểm năm 2023, do tính chất khủng hoảng nguồn cung đột ngột, công tác khắc phục giữa ngành điện và doanh nghiệp chủ yếu mang tính bị động, áp đặt giải pháp tình thế để bảo vệ an toàn cho hệ thống lưới quốc gia. Ngành điện buộc phải ưu tiên giữ dòng cho hoạt động chính trị, cơ quan trọng yếu, bệnh viện và sinh hoạt của nhân dân, trong khi các đối tượng sản xuất công nghiệp bắt buộc phải luân phiên tiết giảm. Việc thiếu kế hoạch phòng ngừa chung (từ cả cơ quan quản lý, ngành điện và doanh nghiệp) đã khiến vấn đề trở nên trầm trọng hơn.

Sẵn sàng kịch bản ứng phó

Để quản trị rủi ro thiếu điện từ sớm, các đơn vị điện lực địa phương sớm xây dựng Phương án cung ứng điện chi tiết cho năm 2026. Tại Cao Bằng, Quyết định số 2376/QĐ-UBND đã chỉ rõ các kịch bản vận hành từ chế độ bình thường, thiếu nguồn cục bộ cho đến chế độ cực kỳ khẩn cấp để sa thải phụ tải điện theo các mức từ 5-50% công suất phân bổ, giúp toàn hệ thống không bị bất ngờ. Ngành điện địa phương tập trung nâng cao độ tin cậy lưới truyền tải qua các Trạm biến áp 110 kV và khai thác tối đa hệ thống SCADA (giám sát và thu thập dữ liệu) để đóng cắt thiết bị trung thế từ xa, giúp cô lập nhanh sự cố.

Sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị cung ứng điện được thực hiện theo cơ chế “đối tác đồng hành”, nhằm giảm tới mức thấp nhất tổn thất cho kinh tế địa phương. Ông Vũ Xuân Linh, Giám đốc Công ty Điện lực Cao Bằng cho biết: Đơn vị lập phương thức vận hành hằng tuần, báo cáo Sở Công thương trước 16 giờ thứ sáu. Lịch ngừng, giảm điện được cập nhật chính xác trên hệ thống quản lý và tự động nhắn tin đến người đại diện doanh nghiệp để chủ động sắp xếp lại lịch sản xuất.

Ở góc độ quản lý, theo ông Phạm Xuân Tùng, Giám đốc Sở Công thương Cao Bằng, ngành công thương liên tục đôn đốc, giám sát việc cấp điện để bảo đảm tính công bằng, công khai, đồng thời hỗ trợ tháo gỡ các thủ tục cho doanh nghiệp phát triển nguồn năng lượng tại chỗ. Thay vì những đợt cắt điện đột ngột gây sốc như ba năm trước, cơ chế cảnh báo sớm hiện nay giúp mối quan hệ giữa bên bán điện và bên mua điện minh bạch hơn.

Trong khi đó, doanh nghiệp cũng “không còn thụ động chờ đợi thông báo cắt giảm điện mà đã xây dựng sẵn kịch bản điều hành phụ tải theo ba cấp độ”. Ở cấp độ phối hợp thấp, công ty triệt để dịch chuyển biểu đồ phụ tải: Đẩy tối đa công suất của lò luyện thép và quạt cao áp vào khung giờ thấp điểm ban đêm; Chủ động dừng hoặc giảm tải các dây chuyền phụ trợ vào giờ cao điểm cực đoan từ 17 giờ 30 phút đến 22 giờ 30 phút để chuyển sang bảo dưỡng. Ở cấp độ khẩn cấp, doanh nghiệp sẵn sàng cô lập phụ tải không thiết yếu, kích hoạt hệ thống máy phát điện diesel dự phòng tại chỗ để bảo vệ an toàn thiết bị cốt lõi - ông Hoàng Huy Bình cho biết.

Các doanh nghiệp hiện cũng hướng mạnh đến giải pháp tự chủ năng lượng xanh tại chỗ. Như ông Lê Văn Bộ bộc bạch: Các đơn vị sản xuất thật sự mong muốn cơ quan chức năng ban hành chính sách thông thoáng, để sớm có cơ chế tiếp cận nguồn điện tái tạo phù hợp. Việc dịch chuyển từ tư duy ứng phó tình thế sang chủ động thay đổi phương thức vận hành công nghệ, tự gánh vác một phần nguồn cung chính là “chìa khóa” giúp nền sản xuất trong nước thích ứng hiệu quả và giữ vững tốc độ tăng trưởng, trước thực trạng thiếu hụt năng lượng ngày một phức tạp.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ

Cơ quan quản lý và Ngành điện: Chủ động lập kịch bản sa thải phụ tải từ sớm (5% - 50%); áp dụng công nghệ SCADA cô lập nhanh sự cố; lập phương thức vận hành hằng tuần, thông báo để đồng hành cùng doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sản xuất: Dịch chuyển dây chuyền công suất lớn sang giờ thấp điểm ban đêm; tiết giảm phụ tải giờ cao điểm (17 giờ 30 phút - 22 giờ 30 phút) để bảo dưỡng; sẵn sàng kích hoạt máy phát dự phòng và tự chủ năng lượng xanh tại chỗ.

Có thể bạn quan tâm

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.