Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt
Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Bài toán phát triển trong 5 năm tới

Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/2025 chỉ rõ: “Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng”. Mục tiêu cốt lõi là hệ thống năng lượng phải an toàn, ổn định, có dự phòng tin cậy, chuyển dịch theo hướng xanh, phát thải thấp, vận hành thông minh trên nền tảng số và bảo đảm chi phí hợp lý, minh bạch. Theo đó, từ nay đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện cần đạt khoảng 183.000-236.000 MW, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25-30%, công suất dự phòng tối thiểu 15%.

Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh Quy hoạch điện VIII (Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023) để cập nhật các yêu cầu mới, nhằm “cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10,0%/năm trong giai đoạn 2026 2030, khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2031-2050”.

Theo báo cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), tính đến 22/6/2026, hệ thống điện cả nước có 93.839 MW công suất đặt nguồn điện, trong đó 91.707 MW đã vận hành thương mại (COD). Như vậy, ngay ở phương án thấp theo Nghị quyết số 70-NQ/TW và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, chỉ còn chưa đầy 5 năm, hệ thống cần bổ sung khoảng 90.000 MW công suất đặt nguồn điện - gấp khoảng hai lần so với hiện tại.

Cần những cuộc “đại phẫu” chiến lược

Bản Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII đã cơ bản cập nhật các yêu cầu, mục tiêu chiến lược mới về phát triển kinh tế-xã hội, qua đó bổ sung nhiều dự án nguồn điện mới, xanh, sạch và bền vững hơn. Song, thực tế những tháng đầu năm 2026 đã nổi lên nhiều thách thức đan xen từ cả bên ngoài và bên trong hệ thống cung cấp năng lượng. Đáng kể là áp lực vận hành khi nguồn điện “nền” - thủy điện, nhiệt điện than, dầu, khí, vốn mang tính ổn định cao - còn khó khăn, trong khi các nguồn điện tái tạo (điện gió, điện mặt trời) đã chiếm khoảng 30% công suất đặt nguồn điện nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chủ yếu chưa lắp đặt hệ thống lưu trữ điện năng (BESS) đi kèm, nên không thể bảo đảm cung cấp điện liên tục 24/7, hay ổn định trong mọi thời điểm của năm.

Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, sẽ thực hiện lộ trình chuyển đổi cơ cấu năng lượng, phấn đấu giảm mức nhập khẩu ròng năng lượng từ 42% năm 2025 xuống 30% vào năm 2030, đồng thời tiếp tục rà soát Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để báo cáo cấp có thẩm quyền nếu cần thay đổi về cơ cấu nguồn điện hay tiến độ.

Theo nhiều chuyên gia, ngành năng lượng Việt Nam đã đến lúc cần một cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học hơn, không chỉ dừng ở việc xử lý các dự án chậm tiến độ do vướng giải phóng mặt bằng hay thủ tục đầu tư. Hạ tầng nguồn điện cần được xem xét lại trên cơ sở nhu cầu thực của nền kinh tế, gắn với các động lực tăng trưởng mới như công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, và hiệu quả năng lượng. Trong đó, cần nghiên cứu bổ sung nguồn điện thay thế cho các dạng nhiên liệu truyền thống đang nổi lên trong giao thông vận tải như xe điện, tàu điện, đồng thời tính toán khoa học “cường độ sử dụng năng lượng” cho từng ngành, lĩnh vực để tránh lãng phí trong cả đầu tư nguồn điện, lưới điện và sử dụng điện.

Theo Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) Nguyễn Anh Tuấn, để đáp ứng tăng trưởng GDP “hai con số” và vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia, trong giai đoạn 2026-2030, mỗi năm hệ thống cần được bổ sung khoảng 6.000-7.000 MW công suất đặt nguồn điện nền. Thế nhưng, tổng công suất nguồn điện nền bổ sung trong năm 2026 dự tính chỉ khoảng 1.400 MW từ Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch (từ nay đến tháng 7 có thể đưa vào vận hành một tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch, và đến cuối năm dự tính có thêm tổ máy thứ hai).

Cũng theo VEA, nhờ các thiết bị tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng điện, hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng kinh tế đã giảm xuống còn khoảng 1,1-1,2. Song với mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số”, nhu cầu điện vẫn phải tăng ở mức 12-16%. Mức tăng phụ tải ghi nhận trong các đợt nắng nóng cao điểm cuối tháng 5/2026 cho thấy hệ thống sẽ tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, nếu các dự án nguồn điện không được cải thiện trong những năm tới.

Biến số trên hành trình đưa 90.000 MW về đích

Thực tế triển khai cho thấy: Nhiều nhóm dự án nguồn điện đang chậm tiến độ và khó mời gọi nhà đầu tư, dù ở những phân khúc khác nhau.

Với điện gió ngoài khơi, Quy hoạch đặt mục tiêu giai đoạn 2030-2035 đưa vào vận hành khoảng 6.000-17.032 MW. VEA nhận định: Với thực trạng hiện nay, khi chưa có bất kỳ dự án điện gió ngoài khơi nào hoàn tất đầy đủ thủ tục pháp lý để triển khai đầu tư xây dựng, nếu cơ chế pháp lý tiếp tục chậm hoàn thiện, mục tiêu 6.000 MW vào năm 2030 sẽ đứng trước thách thức rất lớn, bởi để hoàn thành một dự án điện gió ngoài khơi phải mất ít nhất từ sáu đến tám năm.

Với nhiệt điện than và nhiệt điện LNG, hai nguồn được thiết kế lần lượt khoảng 31 GW và 22,5 GW, chiếm tỷ lệ khoảng 22-30% công suất toàn hệ thống. Tuy nhiên, nhiều dự án đang trong tình trạng “giậm chân tại chỗ”, thậm chí khó mời gọi nhà đầu tư. Theo Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng sạch và tăng trưởng xanh Hà Đăng Sơn, nhiều dự án (chủ yếu của khu vực tư nhân), sau khi khởi công lại gặp vướng mắc liên quan hợp đồng mua bán điện (PPA) hay các chứng minh từ phía nhà đầu tư về điều kiện, khả năng vay vốn ngân hàng...

Theo Bản Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII, lượng vốn cần để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nguồn điện đến năm 2030 là 118,2 tỷ USD, tương ứng khoảng 20 tỷ USD/năm. Các định hướng huy động vốn đã khá mở, từ khuyến khích tư nhân tham gia, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, đến tăng cường sử dụng các cam kết hỗ trợ quốc tế như JETP (Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng), AZEC, tín dụng xanh, tín dụng khí hậu, trái phiếu xanh. Tuy nhiên, theo ông Hà Đăng Sơn, qua thực tế triển khai JETP , “các dự án có thể tiếp nhận được nguồn vốn JETP là rất ít. Vì thế, cần phải có cách tiếp cận khác thay vì trông chờ vào các nguồn vốn như JETP trong ngắn hạn”.

Giai đoạn từ nay đến năm 2030, Việt Nam vẫn phải dựa vào nguồn lực nội tại, trên cơ sở tính toán kỹ tiềm năng nhiên liệu chủ động nước) cùng các hợp đồng nhập khẩu nhiên liệu dài hạn. Với các nhà máy điện than mới và những nhà máy cần cải tạo thay thế (như Nhiệt điện Phả Lại), cần tính đến công nghệ đốt than “trên siêu tới hạn” và bổ sung công nghệ lưu trữ carbon, giảm phát thải để bảo đảm tiêu chuẩn môi trường.

Thế nhưng, để có sự tham gia đóng góp nguồn lực của các thành phần kinh tế, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, vẫn cần ngay cơ chế phát triển điện mặt trời mái nhà kèm công nghệ lưu trữ (BESS). Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu: Phấn đấu hằng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình trên cả nước lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; Phấn đấu tổng công suất phát triển đạt 20% công suất lắp đặt điện mặt trời mái nhà trong kế hoạch phát triển điện mặt trời mái nhà, giai đoạn 2026 2030 của các tỉnh/thành phố.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần khai thác tối đa tiềm năng tiết kiệm năng lượng như một “nguồn năng lượng đầu tiên” và “ít tốn kém nhất” cho mục tiêu phát triển bền vững, giúp duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.

Như các chuyên gia Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam khẳng định: Việc sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực cần được xem là nhiệm vụ cấp bách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, củng cố niềm tin của nhà đầu tư, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và tạo nền tảng pháp lý cho quá trình chuyển dịch năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tốc độ hoàn thiện thể chế, suy cho cùng, mới là biến số quyết định liệu 90.000 MW còn thiếu có kịp về đích, hay sẽ tiếp tục là con số nằm trên quy hoạch.

Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng báo cáo Thủ tướng: “Công suất phụ tải cao nhất miền bắc có thể chịu đựng được hiện khoảng 31 GW, thời điểm 27/5/2026 đã lên tới 30 GW. Nếu chạm 31 GW là không còn dự phòng cả về công suất và điện lượng, đây là vấn đề rất khó khăn”.

Có thể bạn quan tâm

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Nâng bước thanh niên kiến tạo kỷ nguyên Xanh

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh lần thứ XIII và nhiều diễn đàn về thanh niên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm luôn nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, tinh thần tiên phong và trách nhiệm của tuổi trẻ đối với những nhiệm vụ chiến lược của đất nước. Vì thế, trên hành trình hiện thực hóa mục tiêu Net Zero, thanh niên không chỉ là lực lượng tham gia, mà còn phải trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi. 

Trên hành trình hướng đến mục tiêu xanh, thanh niên đang từng bước trở thành chủ thể trực tiếp của phát triển.Ảnh: AGriS

THẾ HỆ NET ZERO - lực lượng quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia

Chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững không còn là những lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành điều kiện để mỗi quốc gia duy trì sức cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động. Trong cuộc đua ấy, quốc gia nào chuẩn bị tốt hơn nguồn nhân lực cho nền kinh tế xanh sẽ có lợi thế cạnh tranh trong nhiều thập niên tới.

Với lợi thế công nghệ, thanh niên ngày nay hoàn toàn có thể tham gia hiện đại hóa nông nghiệp. Ảnh: TTXVN

Hiện thực hóa khát vọng bằng hành động

LTS - Từ những chiến dịch tình nguyện vì môi trường, các dự án khởi nghiệp xanh đến những sáng kiến công nghệ phục vụ cộng đồng, thanh niên Việt Nam đang ngày càng hiện diện rõ nét trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”. Đằng sau những chuyển động ấy là vai trò kết nối, dẫn dắt của tổ chức Đoàn cùng tinh thần dấn thân của một thế hệ trẻ sẵn sàng biến khát vọng cống hiến thành những hành động cụ thể. Góc nhìn từ cán bộ Đoàn và các bạn trẻ tiêu biểu cho thấy: Net Zero không còn là một mục tiêu vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa từ chính những việc làm gần gũi mỗi ngày.

Dự án Hải Lưu Ngược đã kết hợp truyền thông văn hóa với công nghệ thực tế tăng cường để tuyên truyền bảo vệ môi trường.

Bền vững bắt đầu từ ý tưởng, thực thi

Hành trình chuyển dịch xanh của một quốc gia không thể đơm hoa kết trái, nếu chỉ dừng lại ở những tiếng hô hào hay các bản đề xuất nằm trên giấy. Phát triển bền vững đòi hỏi tư duy hành động thực chất, được bảo chứng bằng năng lực thực thi bài bản.

Những cánh đồng mía bất tận khiến Trần Nguyễn Huy Ninh ngỡ ngàng, thay đổi hoàn toàn cái nhìn về nông nghiệp hiện đại. Ảnh: AgriS

Hãy hình dung về một nền nông nghiệp rất khác!

Tôi sinh ra trong một gia đình làm nông nghiệp truyền thống tại Đà Lạt, vì vậy hình ảnh đầu tiên trong ký ức tôi về nghề nông là những buổi sáng bắt đầu từ rất sớm, những mùa vụ phụ thuộc nhiều vào thời tiết và nỗi lo thường trực về giá cả, sâu bệnh, năng suất…

Hiện nay, không ít cơ hội đang mở ra để các bạn trẻ tiếp cận những nguồn vốn cho các ý tưởng xanh. Trong ảnh: Hội thảo “Kết nối những nhà đổi mới nổi bật cho các hành động bền vững” (P4G) do Mạng lưới Thanh niên Hành động vì Khí hậu YNet Việt Nam, Đại học Công nghệ Đan Mạch (DTU) tổ chức.

Đứng chân trên bản đồ nghề nghiệp mới

Khi các doanh nghiệp phải thay đổi để đáp ứng những tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường toàn cầu, một “bản đồ nghề nghiệp” mới cũng dần hình thành. Với thanh niên, đó là cơ hội để khởi nghiệp, để đổi mới sáng tạo và trực tiếp góp phần hiện thực hóa mục tiêu Net Zero của đất nước.

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.