Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt
Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Bài toán phát triển trong 5 năm tới

Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, được Bộ Chính trị ban hành ngày 20/8/2025 chỉ rõ: “Phát triển nguồn cung và hạ tầng năng lượng, bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng”. Mục tiêu cốt lõi là hệ thống năng lượng phải an toàn, ổn định, có dự phòng tin cậy, chuyển dịch theo hướng xanh, phát thải thấp, vận hành thông minh trên nền tảng số và bảo đảm chi phí hợp lý, minh bạch. Theo đó, từ nay đến năm 2030, tổng công suất các nguồn điện cần đạt khoảng 183.000-236.000 MW, tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp khoảng 25-30%, công suất dự phòng tối thiểu 15%.

Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ đã điều chỉnh Quy hoạch điện VIII (Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023) để cập nhật các yêu cầu mới, nhằm “cung cấp đủ nhu cầu điện trong nước, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân khoảng 10,0%/năm trong giai đoạn 2026 2030, khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2031-2050”.

Theo báo cáo của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), tính đến 22/6/2026, hệ thống điện cả nước có 93.839 MW công suất đặt nguồn điện, trong đó 91.707 MW đã vận hành thương mại (COD). Như vậy, ngay ở phương án thấp theo Nghị quyết số 70-NQ/TW và Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, chỉ còn chưa đầy 5 năm, hệ thống cần bổ sung khoảng 90.000 MW công suất đặt nguồn điện - gấp khoảng hai lần so với hiện tại.

Cần những cuộc “đại phẫu” chiến lược

Bản Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII đã cơ bản cập nhật các yêu cầu, mục tiêu chiến lược mới về phát triển kinh tế-xã hội, qua đó bổ sung nhiều dự án nguồn điện mới, xanh, sạch và bền vững hơn. Song, thực tế những tháng đầu năm 2026 đã nổi lên nhiều thách thức đan xen từ cả bên ngoài và bên trong hệ thống cung cấp năng lượng. Đáng kể là áp lực vận hành khi nguồn điện “nền” - thủy điện, nhiệt điện than, dầu, khí, vốn mang tính ổn định cao - còn khó khăn, trong khi các nguồn điện tái tạo (điện gió, điện mặt trời) đã chiếm khoảng 30% công suất đặt nguồn điện nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chủ yếu chưa lắp đặt hệ thống lưu trữ điện năng (BESS) đi kèm, nên không thể bảo đảm cung cấp điện liên tục 24/7, hay ổn định trong mọi thời điểm của năm.

Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Sinh Nhật Tân cho biết, sẽ thực hiện lộ trình chuyển đổi cơ cấu năng lượng, phấn đấu giảm mức nhập khẩu ròng năng lượng từ 42% năm 2025 xuống 30% vào năm 2030, đồng thời tiếp tục rà soát Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để báo cáo cấp có thẩm quyền nếu cần thay đổi về cơ cấu nguồn điện hay tiến độ.

Theo nhiều chuyên gia, ngành năng lượng Việt Nam đã đến lúc cần một cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học hơn, không chỉ dừng ở việc xử lý các dự án chậm tiến độ do vướng giải phóng mặt bằng hay thủ tục đầu tư. Hạ tầng nguồn điện cần được xem xét lại trên cơ sở nhu cầu thực của nền kinh tế, gắn với các động lực tăng trưởng mới như công nghiệp công nghệ cao, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, và hiệu quả năng lượng. Trong đó, cần nghiên cứu bổ sung nguồn điện thay thế cho các dạng nhiên liệu truyền thống đang nổi lên trong giao thông vận tải như xe điện, tàu điện, đồng thời tính toán khoa học “cường độ sử dụng năng lượng” cho từng ngành, lĩnh vực để tránh lãng phí trong cả đầu tư nguồn điện, lưới điện và sử dụng điện.

Theo Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (VEA) Nguyễn Anh Tuấn, để đáp ứng tăng trưởng GDP “hai con số” và vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia, trong giai đoạn 2026-2030, mỗi năm hệ thống cần được bổ sung khoảng 6.000-7.000 MW công suất đặt nguồn điện nền. Thế nhưng, tổng công suất nguồn điện nền bổ sung trong năm 2026 dự tính chỉ khoảng 1.400 MW từ Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch (từ nay đến tháng 7 có thể đưa vào vận hành một tổ máy của Nhà máy Nhiệt điện Quảng Trạch, và đến cuối năm dự tính có thêm tổ máy thứ hai).

Cũng theo VEA, nhờ các thiết bị tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng điện, hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng kinh tế đã giảm xuống còn khoảng 1,1-1,2. Song với mục tiêu tăng trưởng GDP “hai con số”, nhu cầu điện vẫn phải tăng ở mức 12-16%. Mức tăng phụ tải ghi nhận trong các đợt nắng nóng cao điểm cuối tháng 5/2026 cho thấy hệ thống sẽ tiếp tục đối mặt nhiều thách thức, nếu các dự án nguồn điện không được cải thiện trong những năm tới.

Biến số trên hành trình đưa 90.000 MW về đích

Thực tế triển khai cho thấy: Nhiều nhóm dự án nguồn điện đang chậm tiến độ và khó mời gọi nhà đầu tư, dù ở những phân khúc khác nhau.

Với điện gió ngoài khơi, Quy hoạch đặt mục tiêu giai đoạn 2030-2035 đưa vào vận hành khoảng 6.000-17.032 MW. VEA nhận định: Với thực trạng hiện nay, khi chưa có bất kỳ dự án điện gió ngoài khơi nào hoàn tất đầy đủ thủ tục pháp lý để triển khai đầu tư xây dựng, nếu cơ chế pháp lý tiếp tục chậm hoàn thiện, mục tiêu 6.000 MW vào năm 2030 sẽ đứng trước thách thức rất lớn, bởi để hoàn thành một dự án điện gió ngoài khơi phải mất ít nhất từ sáu đến tám năm.

Với nhiệt điện than và nhiệt điện LNG, hai nguồn được thiết kế lần lượt khoảng 31 GW và 22,5 GW, chiếm tỷ lệ khoảng 22-30% công suất toàn hệ thống. Tuy nhiên, nhiều dự án đang trong tình trạng “giậm chân tại chỗ”, thậm chí khó mời gọi nhà đầu tư. Theo Giám đốc Trung tâm nghiên cứu năng lượng sạch và tăng trưởng xanh Hà Đăng Sơn, nhiều dự án (chủ yếu của khu vực tư nhân), sau khi khởi công lại gặp vướng mắc liên quan hợp đồng mua bán điện (PPA) hay các chứng minh từ phía nhà đầu tư về điều kiện, khả năng vay vốn ngân hàng...

Theo Bản Điều chỉnh Quy hoạch Điện VIII, lượng vốn cần để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nguồn điện đến năm 2030 là 118,2 tỷ USD, tương ứng khoảng 20 tỷ USD/năm. Các định hướng huy động vốn đã khá mở, từ khuyến khích tư nhân tham gia, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, đến tăng cường sử dụng các cam kết hỗ trợ quốc tế như JETP (Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng), AZEC, tín dụng xanh, tín dụng khí hậu, trái phiếu xanh. Tuy nhiên, theo ông Hà Đăng Sơn, qua thực tế triển khai JETP , “các dự án có thể tiếp nhận được nguồn vốn JETP là rất ít. Vì thế, cần phải có cách tiếp cận khác thay vì trông chờ vào các nguồn vốn như JETP trong ngắn hạn”.

Giai đoạn từ nay đến năm 2030, Việt Nam vẫn phải dựa vào nguồn lực nội tại, trên cơ sở tính toán kỹ tiềm năng nhiên liệu chủ động nước) cùng các hợp đồng nhập khẩu nhiên liệu dài hạn. Với các nhà máy điện than mới và những nhà máy cần cải tạo thay thế (như Nhiệt điện Phả Lại), cần tính đến công nghệ đốt than “trên siêu tới hạn” và bổ sung công nghệ lưu trữ carbon, giảm phát thải để bảo đảm tiêu chuẩn môi trường.

Thế nhưng, để có sự tham gia đóng góp nguồn lực của các thành phần kinh tế, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, vẫn cần ngay cơ chế phát triển điện mặt trời mái nhà kèm công nghệ lưu trữ (BESS). Chỉ thị số 10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đặt mục tiêu: Phấn đấu hằng năm có khoảng 10% cơ quan công sở và 10% hộ gia đình trên cả nước lắp đặt, sử dụng điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ; Phấn đấu tổng công suất phát triển đạt 20% công suất lắp đặt điện mặt trời mái nhà trong kế hoạch phát triển điện mặt trời mái nhà, giai đoạn 2026 2030 của các tỉnh/thành phố.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần khai thác tối đa tiềm năng tiết kiệm năng lượng như một “nguồn năng lượng đầu tiên” và “ít tốn kém nhất” cho mục tiêu phát triển bền vững, giúp duy trì vị thế trong chuỗi cung ứng xanh toàn cầu.

Như các chuyên gia Hội đồng khoa học Tạp chí Năng lượng Việt Nam khẳng định: Việc sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực cần được xem là nhiệm vụ cấp bách nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, củng cố niềm tin của nhà đầu tư, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội và tạo nền tảng pháp lý cho quá trình chuyển dịch năng lượng và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tốc độ hoàn thiện thể chế, suy cho cùng, mới là biến số quyết định liệu 90.000 MW còn thiếu có kịp về đích, hay sẽ tiếp tục là con số nằm trên quy hoạch.

Tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 5/2026, Bộ trưởng Bộ Công thương Lê Mạnh Hùng báo cáo Thủ tướng: “Công suất phụ tải cao nhất miền bắc có thể chịu đựng được hiện khoảng 31 GW, thời điểm 27/5/2026 đã lên tới 30 GW. Nếu chạm 31 GW là không còn dự phòng cả về công suất và điện lượng, đây là vấn đề rất khó khăn”.

Có thể bạn quan tâm

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.