Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.
VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Tính riêng nhu cầu thực tế của khu vực miền bắc, nhu cầu cần để đáp ứng phụ tải đỉnh đã lên tới 1.348-2.856 MW. Còn theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, để tích hợp hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo, toàn quốc đến năm 2030 cần phải đạt từ 10.000- 16.300 MW hệ thống lưu trữ.

Cách biệt chưa thể san lấp

“Hệ thống điện Việt Nam đang đứng trước áp lực lớn khi nhu cầu điện tiếp tục tăng nhanh để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030. Bài toán năng lượng với doanh nghiệp, vì vậy, đang dịch chuyển từ đầu tư nguồn điện riêng lẻ sang quản trị năng lượng tổng thể, trong đó tích hợp lưu trữ để dùng điện rẻ giờ thấp điểm, tránh chi phí công suất giờ cao điểm được xem là giải pháp then chốt”, TS Trần Huỳnh Ngọc - chuyên gia cao cấp năng lượng tái tạo tại Amperes (Alluvium Group) phát biểu tại diễn đàn “Hoàn thiện chính sách điện tái tạo và lưu trữ (BESS) - Nền tảng năng lượng xanh ổn định cho doanh nghiệp”.

Thực tế, kết quả tính toán bước đầu của Công ty Vận hành Hệ thống điện và Thị trường điện Quốc gia (NSMO) cho giai đoạn 2026-2027, nhu cầu lắp đặt BESS chủ yếu phát sinh tại khu vực miền bắc nhằm bảo đảm khả năng đáp ứng phụ tải đỉnh của hệ thống điện. Khu vực miền trung và miền nam chưa phát sinh nhu cầu lắp đặt BESS trong các kịch bản tăng trưởng thấp.

EVN đã báo cáo và được Bộ Công thương thống nhất cập nhật quy mô lắp đặt BESS ở miền bắc vào Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, với tổng quy mô 805 MW/1.610 MWh. Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) đang triển khai giai đoạn 1 với 305 MW (dự kiến hoàn thành cuối tháng 6/2026), Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVNHANOI) mới thí điểm 50 MW tại năm trạm biến áp trên địa bàn trong số tổng công suất 275 MW được giao. Trên lưới truyền tải, 100 MW đầu tiên dự kiến hoàn tất tháng 1/2027. Số công suất kể trên vẫn cách rất xa nhu cầu thực tế tính riêng miền bắc ở mức 1.348-2.856 MW cho năm 2026.

Bên cạnh đó, quá trình lắp đặt BESS cũng đối mặt nhiều vướng mắc: từ quy hoạch, loại hình đầu tư, lựa chọn vị trí lắp đặt, đến hệ thống tiêu chuẩn - quy chuẩn và yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn cháy nổ. Vấn đề cốt lõi sâu hơn nằm ở cách phân bổ chi phí và lợi ích. BESS không tạo ra điện năng mới, chỉ lưu trữ điện lúc thừa và phát ra lúc cần. Vì vậy, chi phí đầu tư đẩy khung giá phát điện cao hơn ngay ở cấp từng dự án. Trong khi đó, giá trị mà BESS mang lại - giảm chi phí vận hành, giảm nhu cầu đầu tư nguồn điện phủ đỉnh, nâng khả năng tích hợp năng lượng tái tạo - lại được phân bổ ở cấp độ toàn hệ thống. Nếu chỉ đánh giá BESS bằng chỉ tiêu tài chính của một dự án đơn lẻ, công nghệ này có vẻ không đáng đầu tư, dù mang tính cấp thiết đối với cả hệ thống.

Tối ưu hóa tổng thể hệ thống năng lượng

Trong thời điểm cơ chế chính sách không ngừng được hoàn thiện, một số đơn vị trong nước đã chủ động đầu tư BESS trên lưới phân phối để bảo đảm cung ứng điện ngay trong năm 2026. Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) nhận nhiệm vụ 200 MW với dung lượng tối thiểu hai giờ, nguồn vốn tự thu xếp. Đơn vị này cân nhắc hai phương án: phân tán - lắp cụm 10 MW/2 giờ bám theo trạm biến áp 110/22 kV hiện hữu, chặn quá tải ngắn hạn tại Nam Phú Quốc, Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Cần Đước, Hồng Dân; hoặc tập trung - xây cụm lớn 50 MW/2 giờ tại các nút nghẽn rộng như Thạnh Hóa, Thủ Thừa, Bình Đại.

Dẫu vậy, dù chọn phương án nào, yếu tố quyết định là quỹ đất và vốn. Cụm 50 MW/2 giờ cần quỹ đất gần 6.000 m², cụm 10 MW/2 giờ chỉ cần khoảng 940 m² nếu tận dụng trạm hiện hữu. Tổng mức đầu tư cho mục tiêu 200 MW/2 giờ được ước tính sơ bộ khoảng 2.574 tỷ đồng, cần huy động trong khung thời gian rất ngắn.

Ở phía cung ứng thiết bị, GG Power đã khánh thành nhà máy sản xuất BESS vào tháng 4 năm nay, tại Khu công nghiệp số 5, Xuân Trúc, Hưng Yên. Đây là một trong những nhà máy BESS đầu tiên tại Việt Nam đầu tư theo chuẩn quốc tế, tự động hóa hơn 90%, công suất thiết kế 5 GWh/năm, cung ứng cho cả phân khúc dân dụng, công nghiệp và quy mô lưới điện, ở thời điểm phần lớn thị trường BESS trong nước vẫn phụ thuộc thiết bị nhập khẩu.

Về phía chính sách, Luật Điện lực 2024 mở đường cho thị trường điện cạnh tranh hơn. Nghị định số 57/2025/NĐ-CP về DPPA và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP về điện mặt trời tự sản tự tiêu đã tạo hành lang cho các mô hình này. Tổ chuyên trách BESS, với sự điều phối của Bộ Công thương, EVN và GEAPP (Liên minh Năng lượng Toàn cầu vì con người và hành tinh), đang xây dựng cơ chế giá điện và dịch vụ phụ trợ cho lưu trữ. GEAPP cũng hợp tác cùng Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) theo mô hình tài chính hỗn hợp, chia sẻ rủi ro để mở khóa dòng vốn tư nhân cho các dự án tiên phong.

Theo ý kiến của các chuyên gia, Việt Nam cần tạo điều kiện để các khu công nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh, đồng thời sớm ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật về xử lý pin và thiết bị sau vòng đời. Hơn thế, việc triển khai giá điện hai thành phần cần có lộ trình rõ ràng, ổn định và minh bạch để doanh nghiệp có cơ sở xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn. Trọng tâm chuyển từ đầu tư riêng lẻ sang tối ưu hóa tổng thể hệ thống năng lượng, trên cơ sở kết hợp giữa công nghệ, vận hành và chính sách.

Hiện tại, Việt Nam đã và đang phát triển các nguồn năng lượng tái tạo với quy mô dẫn đầu Đông Nam Á. Thế nhưng, một hệ thống điện không chỉ sản sinh ra năng lượng, mà còn cần phải lưu giữ chúng nhằm phục vụ nhu cầu sử dụng mỗi khi cần.

Vấn đề còn lại là bao giờ, khoảng cách giữa đầu tư BESS thực tế và mục tiêu đề ra mới được xóa nhòa, khi mùa khô hay hiện tượng Siêu El Nino sẽ không chờ chúng ta tìm kiếm lời giải.

Hệ thống BESS không tự tạo ra điện năng mới mà chỉ lưu trữ lúc thừa, phát lúc thiếu. Do đó, chi phí đầu tư đơn lẻ của doanh nghiệp rất cao, trong khi lợi ích (giảm chi phí vận hành, giảm nghẽn mạch) lại mang tính phân bổ cho toàn hệ thống. Hiện tại, Bộ Công thương và các bên liên quan đang khẩn trương xây dựng cơ chế giá điện và dịch vụ phụ trợ cho BESS để kích thích dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực này.

Có thể bạn quan tâm

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.