Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp
Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

1 Liên minh châu Âu (EU) được xem là khu vực đi đầu trong lĩnh vực này. Từ nhiều năm trước, EU đã xác định tái chế chất thải xây dựng là một trong những giải pháp quan trọng để sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Theo Chỉ thị khung về chất thải (Waste Framework Directive), các quốc gia thành viên phải hướng tới mục tiêu tái sử dụng, tái chế và thu hồi ít nhất 70% chất thải xây dựng. Để thực hiện mục tiêu này, hầu hết các nước châu Âu đều yêu cầu phân loại vật liệu ngay tại công trường, tách riêng bê-tông, gạch, nhựa đường, kim loại, gỗ và các loại vật liệu khác trước khi vận chuyển đến các cơ sở xử lý.

Song song với đó là việc đầu tư các nhà máy tái chế có dây chuyền nghiền, sàng và phân loại hiện đại nhằm tạo ra cốt liệu tái chế có chất lượng ổn định. Các quốc gia như Hà Lan, Bỉ hay Đan Mạch hiện đạt tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng trên 90%, trong đó phần lớn vật liệu được sử dụng cho nền đường, san lấp, bê-tông và các công trình hạ tầng. Đặc biệt, việc áp dụng mức thuế chôn lấp cao đã tạo động lực mạnh mẽ để doanh nghiệp lựa chọn tái chế thay vì đưa chất thải ra bãi rác.

Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia có nhiều kinh nghiệm đáng tham khảo. Với diện tích đất hạn chế và nhu cầu bảo vệ môi trường cao, Nhật Bản đã ban hành Luật Tái chế vật liệu xây dựng từ năm 2000. Điểm nổi bật trong mô hình của nước này là yêu cầu tháo dỡ có chọn lọc thay vì phá dỡ đồng loạt. Trước khi phá dỡ công trình, các loại vật liệu phải được phân loại riêng biệt để thuận lợi cho tái chế. Bê-tông, nhựa đường và gỗ đều được thu hồi với tỷ lệ rất cao.

Sau khi được xử lý bằng công nghệ nghiền và sàng hiện đại, cốt liệu tái chế được sử dụng rộng rãi trong xây dựng đường giao thông, sản xuất cấu kiện bê-tông đúc sẵn, gạch block, vật liệu san lấp và nhiều công trình không yêu cầu cường độ cao. Đáng chú ý, Chính phủ Nhật Bản còn ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế trong các dự án đầu tư công, qua đó tạo đầu ra ổn định cho doanh nghiệp và thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp tái chế.

Hàn Quốc cũng là một trong những quốc gia có tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng thuộc nhóm cao nhất thế giới. Thành công của nước này đến từ việc xây dựng hệ thống quản lý chặt chẽ từ khâu phát sinh, thu gom, vận chuyển đến tái chế và sử dụng sản phẩm. Toàn bộ dòng chất thải được theo dõi thông qua hệ thống quản lý điện tử, giúp cơ quan chức năng kiểm soát hiệu quả quá trình xử lý và hạn chế tình trạng đổ thải trái phép.

Bên cạnh đó, Hàn Quốc ban hành đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với cốt liệu tái chế, đồng thời khuyến khích sử dụng vật liệu tái chế trong các công trình giao thông và xây dựng dân dụng. Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư thiết bị hiện đại cùng với việc kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng sản phẩm đã góp phần đưa tỷ lệ tái chế chất thải xây dựng của Hàn Quốc luôn duy trì ở mức rất cao.

Trung Quốc là quốc gia phát sinh lượng chất thải xây dựng lớn nhất thế giới do tốc độ đô thị hóa rất nhanh. Những năm gần đây, nước này đã chuyển mạnh từ mô hình xử lý bằng chôn lấp sang tái chế quy mô công nghiệp. Nhiều trung tâm tái chế hiện đại được xây dựng tại các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải và Thâm Quyến với công suất lên tới hàng triệu tấn mỗi năm. Sản phẩm tái chế được sử dụng để sản xuất gạch không nung, bê-tông thương phẩm, vật liệu nền đường, vật liệu san lấp và các cấu kiện xây dựng. Đồng thời, Trung Quốc cũng từng bước hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm mở rộng phạm vi ứng dụng của vật liệu tái chế trong các công trình xây dựng.

2 Nhìn từ kinh nghiệm quốc tế có thể thấy, mặc dù điều kiện phát triển của mỗi quốc gia khác nhau nhưng đều có một điểm chung là coi chất thải xây dựng không còn là “rác thải” mà là một tài nguyên có thể tái sử dụng. Muốn làm được điều đó cần sự kết hợp đồng bộ giữa chính sách, công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật và thị trường tiêu thụ. Việt Nam cần sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý chất thải xây dựng; hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn đối với cốt liệu tái chế; khuyến khích đầu tư công nghệ xử lý tiên tiến; đồng thời ưu tiên sử dụng vật liệu tái chế trong các dự án đầu tư công.

Kinh nghiệm từ châu Âu và nhiều quốc gia châu Á cho thấy, tái chế chất thải xây dựng không chỉ là giải pháp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra giá trị kinh tế đáng kể. Đây cũng là xu hướng tất yếu mà Việt Nam cần từng bước tiếp cận nếu muốn xây dựng ngành xây dựng xanh, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đáp ứng các cam kết về phát triển bền vững những năm tới.

Khi hình thành được thị trường tiêu thụ ổn định, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư hơn vào công nghệ tái chế, qua đó góp phần tiết kiệm tài nguyên khoáng sản, giảm diện tích chôn lấp và hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.

Có thể bạn quan tâm

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.