Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt
Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế

Chất thải rắn xây dựng gồm có phế thải phá dỡ công trình và phế thải xây dựng (gọi chung là chất thải xây dựng) phát sinh trong quá trình phá dỡ, thi công mới các công trình xây dựng (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ). Chất thải xây dựng có nhiều loại và thành phần chất thải khác nhau, nhưng thông thường bao gồm các chất vô cơ trơ và không phân hủy được như bê-tông, gạch vỡ, vữa xây dựng, đất cát, thạch cao, kim loại, gỗ, nhựa... thường có khối lượng thể tích lớn, có thể xử lý tái chế thành vật liệu sử dụng cho bồi đắp, san lấp, san nền mặt bằng, làm móng đường giao thông và cốt liệu cho sản xuất bê-tông và các sản phẩm gạch xây không nung…

Theo quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, lượng chất thải xây dựng của thành phố được dự báo sẽ đạt khoảng 3.400 tấn/ngày vào năm 2030 và lên tới 4.800 tấn/ngày vào năm 2050. Thế nhưng, trên thực tế, con số này hiện đã chạm mốc 10.000 tấn/ngày, gấp bốn đến năm lần so mức trung bình khoảng 2.100 tấn/ngày trước đây. Đáng ngại hơn, có hơn 50% chất thải xây dựng phát sinh tại Hà Nội vẫn chưa được quản lý. Lượng chất thải thu gom phần lớn chỉ được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, chỉ vỏn vẹn khoảng 16,7% lượng chất thải được xử lý bằng phương pháp nghiền và lưu giữ tại cơ sở xử lý tạm thời (di động). Trong khi đó, tại nhiều quốc gia phát triển, việc tái chế và tái sử dụng chất thải xây dựng đã trở thành một phần của chiến lược kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.

Ở châu Âu, tỷ lệ tái chế đạt từ 70-90% tại một số quốc gia. Phế thải bê-tông và gạch được nghiền sàng để sản xuất cốt liệu tái chế dùng cho bê-tông không kết cấu, lớp móng đường, vật liệu san lấp. Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng các quy định nghiêm ngặt về phân loại tại nguồn, đồng thời yêu cầu kết hợp với công nghệ nghiền, tuyển chọn hiện đại, cho phép sử dụng cốt liệu tái chế với chất lượng tương đối ổn định. Đồng thời, chủ nguồn thải phải có kế hoạch sử dụng chất thải phá dỡ công trình, kết hợp đánh phí cao với việc chôn lấp. Chính vì vậy, tỷ lệ tái chế và sử dụng chất thải xây dựng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đều đạt rất cao, hơn 95%.

Tại Hoa Kỳ, chất thải xây dựng được sử dụng rộng rãi làm vật liệu nền móng đường, bãi đỗ xe, đắp nền và san lấp mặt bằng. Theo GS, TS Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng Hà Nội, chúng ta đang bỏ phí tài nguyên lớn. Bởi lẽ, chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế nếu có cơ chế, chính sách đồng bộ, cũng như mô hình phối hợp liên ngành hiệu quả.

Cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho khu xử lý, tái chế

Xử lý chất thải xây dựng hiện nay vẫn là một trong những vấn đề nan giải tại Hà Nội cũng như các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Nguyên nhân chủ yếu là do trên địa bàn các thành phố chưa có hệ thống khu xử lý, tái chế chất thải được quy hoạch một cách đồng bộ và chính thống; công tác phân loại tại nguồn còn hạn chế, dẫn đến việc thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, phương thức xử lý chất thải xây dựng bằng cách chôn lấp vẫn phổ biến tại các thành phố lớn, với phí xử lý chôn lấp vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, khối lượng phế thải lớn gây áp lực đáng kể lên hạ tầng môi trường đô thị, khi mà quỹ đất dành cho chôn lấp ngày càng hạn chế.

Trước sức ép gia tăng chất thải xây dựng, Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2831/QĐ-UBND (6/6/2025) về việc phê duyệt Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố giai đoạn đến năm 2030”. Theo đó, 90% chất thải được thu gom đúng quy định; 60% chất thải xây dựng được tái sử dụng hoặc tái chế; 100% công trình sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng. Trước đó, thành phố ban hành Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND, ngày 7/5/2025, quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động tái chế rác thải sử dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất trên địa bàn thành phố Hà Nội. Doanh nghiệp tái chế sẽ được ưu đãi như miễn giảm tiền thuê đất; hỗ trợ công nghệ tái chế tốt nhất. Tại Hà Nội, một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn đã chủ động đầu tư các dây chuyền xử lý, tái chế phế thải xây dựng, trong đó đáng chú ý là mô hình dây chuyền xử lý của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu. Hiện nay, công ty đang vận hành bãi tiếp nhận và xử lý chất thải rắn xây dựng tại khu đất có diện tích khoảng 6,5 ha, nằm tại khu vực nút giao Pháp Vân-Cầu Giẽ, phường Hoàng Liệt, thành phố Hà Nội. Tại đây, phế thải xây dựng sau khi được tiếp nhận sẽ trải qua các công đoạn phân loại, nghiền, sàng và tuyển chọn để tạo ra các sản phẩm tái chế có thể tái sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn quá ít những đơn vị tâm huyết, đầu tư cho lĩnh vực này.

PGS, TS Tống Tôn Kiên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho rằng các tỉnh, thành phố cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Ngoài ra, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày.

Thêm nữa, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng lại rất lớn. Cùng đó, mau chóng xây dựng tiêu chuẩn quy định yêu cầu kỹ thuật về đất đào từ công trình giao thông, nhà ở và công trình tái chế làm vật liệu san lấp công trình xây dựng.

Nói rộng hơn, mô hình “khai thác - sử dụng - thải bỏ” rất lãng phí. Điều này không thể tiếp diễn, thay vào đó, cần một mô hình hiệu quả hơn: khai thác-sản xuất-sử dụng-phá dỡ-thu hồi-tái chế-tái sử dụng. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ mô hình thông tin công trình (BIM), thiết kế mô-đun, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và nâng cao khả năng thích ứng của công trình, từ đó xây dựng chiến lược tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm lượng chất thải trong suốt vòng đời công trình. Các biện pháp quản lý vật liệu hiệu quả, áp dụng công nghệ thi công hiện đại và thiết lập hệ thống thu gom, tái chế chất thải ngay tại công trường cũng góp phần đáng kể trong việc hạn chế lượng chất thải đưa ra môi trường.

Mỗi viên gạch, khối bê-tông, mỗi thanh sắt đều được khai thác từ sông, núi và các nguồn tự nhiên. Khi các vật liệu này bị thải bỏ, xã hội không chỉ mất đi giá trị vật chất còn lại mà còn làm gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên mới, kéo theo tác động tiêu cực đối với môi trường. Việc quản lý, tái chế khoa học hướng tới bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng từng cá nhân hay doanh nghiệp, mà cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, giảm lượng chất thải xây dựng bị bỏ phí, sử dụng các vật liệu xanh trong xây dựng… mới có thể tiến tới sự phát triển xanh, tuần hoàn và bền vững.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến trong năm nay. Dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất, tiêu dùng. Dự thảo lần này cũng cụ thể hóa các loại chất thải xây dựng cần được tái chế, tái sử dụng. Việc xác định các nhóm vật liệu như bê-tông, gạch, đá và cát thải được đánh giá là cơ sở quan trọng để thúc đẩy hoạt động thu gom, phân loại và tái chế ngay tại nguồn.

Có thể bạn quan tâm

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.