Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt
Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế

Chất thải rắn xây dựng gồm có phế thải phá dỡ công trình và phế thải xây dựng (gọi chung là chất thải xây dựng) phát sinh trong quá trình phá dỡ, thi công mới các công trình xây dựng (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ). Chất thải xây dựng có nhiều loại và thành phần chất thải khác nhau, nhưng thông thường bao gồm các chất vô cơ trơ và không phân hủy được như bê-tông, gạch vỡ, vữa xây dựng, đất cát, thạch cao, kim loại, gỗ, nhựa... thường có khối lượng thể tích lớn, có thể xử lý tái chế thành vật liệu sử dụng cho bồi đắp, san lấp, san nền mặt bằng, làm móng đường giao thông và cốt liệu cho sản xuất bê-tông và các sản phẩm gạch xây không nung…

Theo quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, lượng chất thải xây dựng của thành phố được dự báo sẽ đạt khoảng 3.400 tấn/ngày vào năm 2030 và lên tới 4.800 tấn/ngày vào năm 2050. Thế nhưng, trên thực tế, con số này hiện đã chạm mốc 10.000 tấn/ngày, gấp bốn đến năm lần so mức trung bình khoảng 2.100 tấn/ngày trước đây. Đáng ngại hơn, có hơn 50% chất thải xây dựng phát sinh tại Hà Nội vẫn chưa được quản lý. Lượng chất thải thu gom phần lớn chỉ được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, chỉ vỏn vẹn khoảng 16,7% lượng chất thải được xử lý bằng phương pháp nghiền và lưu giữ tại cơ sở xử lý tạm thời (di động). Trong khi đó, tại nhiều quốc gia phát triển, việc tái chế và tái sử dụng chất thải xây dựng đã trở thành một phần của chiến lược kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.

Ở châu Âu, tỷ lệ tái chế đạt từ 70-90% tại một số quốc gia. Phế thải bê-tông và gạch được nghiền sàng để sản xuất cốt liệu tái chế dùng cho bê-tông không kết cấu, lớp móng đường, vật liệu san lấp. Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng các quy định nghiêm ngặt về phân loại tại nguồn, đồng thời yêu cầu kết hợp với công nghệ nghiền, tuyển chọn hiện đại, cho phép sử dụng cốt liệu tái chế với chất lượng tương đối ổn định. Đồng thời, chủ nguồn thải phải có kế hoạch sử dụng chất thải phá dỡ công trình, kết hợp đánh phí cao với việc chôn lấp. Chính vì vậy, tỷ lệ tái chế và sử dụng chất thải xây dựng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đều đạt rất cao, hơn 95%.

Tại Hoa Kỳ, chất thải xây dựng được sử dụng rộng rãi làm vật liệu nền móng đường, bãi đỗ xe, đắp nền và san lấp mặt bằng. Theo GS, TS Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng Hà Nội, chúng ta đang bỏ phí tài nguyên lớn. Bởi lẽ, chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế nếu có cơ chế, chính sách đồng bộ, cũng như mô hình phối hợp liên ngành hiệu quả.

Cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho khu xử lý, tái chế

Xử lý chất thải xây dựng hiện nay vẫn là một trong những vấn đề nan giải tại Hà Nội cũng như các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Nguyên nhân chủ yếu là do trên địa bàn các thành phố chưa có hệ thống khu xử lý, tái chế chất thải được quy hoạch một cách đồng bộ và chính thống; công tác phân loại tại nguồn còn hạn chế, dẫn đến việc thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, phương thức xử lý chất thải xây dựng bằng cách chôn lấp vẫn phổ biến tại các thành phố lớn, với phí xử lý chôn lấp vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, khối lượng phế thải lớn gây áp lực đáng kể lên hạ tầng môi trường đô thị, khi mà quỹ đất dành cho chôn lấp ngày càng hạn chế.

Trước sức ép gia tăng chất thải xây dựng, Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2831/QĐ-UBND (6/6/2025) về việc phê duyệt Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố giai đoạn đến năm 2030”. Theo đó, 90% chất thải được thu gom đúng quy định; 60% chất thải xây dựng được tái sử dụng hoặc tái chế; 100% công trình sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng. Trước đó, thành phố ban hành Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND, ngày 7/5/2025, quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động tái chế rác thải sử dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất trên địa bàn thành phố Hà Nội. Doanh nghiệp tái chế sẽ được ưu đãi như miễn giảm tiền thuê đất; hỗ trợ công nghệ tái chế tốt nhất. Tại Hà Nội, một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn đã chủ động đầu tư các dây chuyền xử lý, tái chế phế thải xây dựng, trong đó đáng chú ý là mô hình dây chuyền xử lý của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu. Hiện nay, công ty đang vận hành bãi tiếp nhận và xử lý chất thải rắn xây dựng tại khu đất có diện tích khoảng 6,5 ha, nằm tại khu vực nút giao Pháp Vân-Cầu Giẽ, phường Hoàng Liệt, thành phố Hà Nội. Tại đây, phế thải xây dựng sau khi được tiếp nhận sẽ trải qua các công đoạn phân loại, nghiền, sàng và tuyển chọn để tạo ra các sản phẩm tái chế có thể tái sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn quá ít những đơn vị tâm huyết, đầu tư cho lĩnh vực này.

PGS, TS Tống Tôn Kiên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho rằng các tỉnh, thành phố cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Ngoài ra, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày.

Thêm nữa, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng lại rất lớn. Cùng đó, mau chóng xây dựng tiêu chuẩn quy định yêu cầu kỹ thuật về đất đào từ công trình giao thông, nhà ở và công trình tái chế làm vật liệu san lấp công trình xây dựng.

Nói rộng hơn, mô hình “khai thác - sử dụng - thải bỏ” rất lãng phí. Điều này không thể tiếp diễn, thay vào đó, cần một mô hình hiệu quả hơn: khai thác-sản xuất-sử dụng-phá dỡ-thu hồi-tái chế-tái sử dụng. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ mô hình thông tin công trình (BIM), thiết kế mô-đun, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và nâng cao khả năng thích ứng của công trình, từ đó xây dựng chiến lược tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm lượng chất thải trong suốt vòng đời công trình. Các biện pháp quản lý vật liệu hiệu quả, áp dụng công nghệ thi công hiện đại và thiết lập hệ thống thu gom, tái chế chất thải ngay tại công trường cũng góp phần đáng kể trong việc hạn chế lượng chất thải đưa ra môi trường.

Mỗi viên gạch, khối bê-tông, mỗi thanh sắt đều được khai thác từ sông, núi và các nguồn tự nhiên. Khi các vật liệu này bị thải bỏ, xã hội không chỉ mất đi giá trị vật chất còn lại mà còn làm gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên mới, kéo theo tác động tiêu cực đối với môi trường. Việc quản lý, tái chế khoa học hướng tới bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng từng cá nhân hay doanh nghiệp, mà cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, giảm lượng chất thải xây dựng bị bỏ phí, sử dụng các vật liệu xanh trong xây dựng… mới có thể tiến tới sự phát triển xanh, tuần hoàn và bền vững.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến trong năm nay. Dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất, tiêu dùng. Dự thảo lần này cũng cụ thể hóa các loại chất thải xây dựng cần được tái chế, tái sử dụng. Việc xác định các nhóm vật liệu như bê-tông, gạch, đá và cát thải được đánh giá là cơ sở quan trọng để thúc đẩy hoạt động thu gom, phân loại và tái chế ngay tại nguồn.

Có thể bạn quan tâm

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.