Chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế
Chất thải rắn xây dựng gồm có phế thải phá dỡ công trình và phế thải xây dựng (gọi chung là chất thải xây dựng) phát sinh trong quá trình phá dỡ, thi công mới các công trình xây dựng (bao gồm công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi, phá dỡ). Chất thải xây dựng có nhiều loại và thành phần chất thải khác nhau, nhưng thông thường bao gồm các chất vô cơ trơ và không phân hủy được như bê-tông, gạch vỡ, vữa xây dựng, đất cát, thạch cao, kim loại, gỗ, nhựa... thường có khối lượng thể tích lớn, có thể xử lý tái chế thành vật liệu sử dụng cho bồi đắp, san lấp, san nền mặt bằng, làm móng đường giao thông và cốt liệu cho sản xuất bê-tông và các sản phẩm gạch xây không nung…
Theo quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, lượng chất thải xây dựng của thành phố được dự báo sẽ đạt khoảng 3.400 tấn/ngày vào năm 2030 và lên tới 4.800 tấn/ngày vào năm 2050. Thế nhưng, trên thực tế, con số này hiện đã chạm mốc 10.000 tấn/ngày, gấp bốn đến năm lần so mức trung bình khoảng 2.100 tấn/ngày trước đây. Đáng ngại hơn, có hơn 50% chất thải xây dựng phát sinh tại Hà Nội vẫn chưa được quản lý. Lượng chất thải thu gom phần lớn chỉ được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, chỉ vỏn vẹn khoảng 16,7% lượng chất thải được xử lý bằng phương pháp nghiền và lưu giữ tại cơ sở xử lý tạm thời (di động). Trong khi đó, tại nhiều quốc gia phát triển, việc tái chế và tái sử dụng chất thải xây dựng đã trở thành một phần của chiến lược kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng.
Ở châu Âu, tỷ lệ tái chế đạt từ 70-90% tại một số quốc gia. Phế thải bê-tông và gạch được nghiền sàng để sản xuất cốt liệu tái chế dùng cho bê-tông không kết cấu, lớp móng đường, vật liệu san lấp. Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng các quy định nghiêm ngặt về phân loại tại nguồn, đồng thời yêu cầu kết hợp với công nghệ nghiền, tuyển chọn hiện đại, cho phép sử dụng cốt liệu tái chế với chất lượng tương đối ổn định. Đồng thời, chủ nguồn thải phải có kế hoạch sử dụng chất thải phá dỡ công trình, kết hợp đánh phí cao với việc chôn lấp. Chính vì vậy, tỷ lệ tái chế và sử dụng chất thải xây dựng tại Nhật Bản và Hàn Quốc đều đạt rất cao, hơn 95%.
Tại Hoa Kỳ, chất thải xây dựng được sử dụng rộng rãi làm vật liệu nền móng đường, bãi đỗ xe, đắp nền và san lấp mặt bằng. Theo GS, TS Nguyễn Hoàng Giang, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Xây dựng Hà Nội, chúng ta đang bỏ phí tài nguyên lớn. Bởi lẽ, chất thải xây dựng có thể trở thành vật liệu thay thế nếu có cơ chế, chính sách đồng bộ, cũng như mô hình phối hợp liên ngành hiệu quả.
Cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho khu xử lý, tái chế
Xử lý chất thải xây dựng hiện nay vẫn là một trong những vấn đề nan giải tại Hà Nội cũng như các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Nguyên nhân chủ yếu là do trên địa bàn các thành phố chưa có hệ thống khu xử lý, tái chế chất thải được quy hoạch một cách đồng bộ và chính thống; công tác phân loại tại nguồn còn hạn chế, dẫn đến việc thu gom, xử lý gặp nhiều khó khăn. Đồng thời, phương thức xử lý chất thải xây dựng bằng cách chôn lấp vẫn phổ biến tại các thành phố lớn, với phí xử lý chôn lấp vẫn ở mức thấp. Trong khi đó, khối lượng phế thải lớn gây áp lực đáng kể lên hạ tầng môi trường đô thị, khi mà quỹ đất dành cho chôn lấp ngày càng hạn chế.
Trước sức ép gia tăng chất thải xây dựng, Hà Nội đã ban hành Quyết định số 2831/QĐ-UBND (6/6/2025) về việc phê duyệt Đề án “Tổng thể công tác quản lý chất thải rắn xây dựng trên địa bàn thành phố giai đoạn đến năm 2030”. Theo đó, 90% chất thải được thu gom đúng quy định; 60% chất thải xây dựng được tái sử dụng hoặc tái chế; 100% công trình sử dụng vốn ngân sách phải sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải xây dựng. Trước đó, thành phố ban hành Nghị quyết số 23/2025/NQ-HĐND, ngày 7/5/2025, quy định biện pháp hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động tái chế rác thải sử dụng kỹ thuật hiện có tốt nhất trên địa bàn thành phố Hà Nội. Doanh nghiệp tái chế sẽ được ưu đãi như miễn giảm tiền thuê đất; hỗ trợ công nghệ tái chế tốt nhất. Tại Hà Nội, một số đơn vị hoạt động trong lĩnh vực môi trường trên địa bàn đã chủ động đầu tư các dây chuyền xử lý, tái chế phế thải xây dựng, trong đó đáng chú ý là mô hình dây chuyền xử lý của Công ty Cổ phần dịch vụ sản xuất Toàn Cầu. Hiện nay, công ty đang vận hành bãi tiếp nhận và xử lý chất thải rắn xây dựng tại khu đất có diện tích khoảng 6,5 ha, nằm tại khu vực nút giao Pháp Vân-Cầu Giẽ, phường Hoàng Liệt, thành phố Hà Nội. Tại đây, phế thải xây dựng sau khi được tiếp nhận sẽ trải qua các công đoạn phân loại, nghiền, sàng và tuyển chọn để tạo ra các sản phẩm tái chế có thể tái sử dụng. Tuy nhiên, vẫn còn quá ít những đơn vị tâm huyết, đầu tư cho lĩnh vực này.
PGS, TS Tống Tôn Kiên, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Ứng dụng vật liệu xây dựng nhiệt đới, cho rằng các tỉnh, thành phố cần quy hoạch quỹ đất dành riêng cho các khu xử lý, bãi tập kết tái chế. Khi có hạ tầng tiếp nhận phù hợp, việc xử lý sẽ thuận lợi và hiệu quả hơn. Ngoài ra, cần có cơ chế ưu đãi mạnh hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu tái chế, đồng thời phát triển các trung tâm xử lý có quy mô đủ lớn, công suất tối thiểu 500-1.000 tấn mỗi ngày.
Thêm nữa, chính sách mua sắm công cần đóng vai trò dẫn dắt thị trường. Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước nên được quy định tỷ lệ bắt buộc sử dụng vật liệu tái chế trong xây dựng. Điều này đặc biệt phù hợp với các đô thị lớn, nơi nguồn vật liệu tự nhiên khan hiếm và phải vận chuyển từ xa, trong khi nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng lại rất lớn. Cùng đó, mau chóng xây dựng tiêu chuẩn quy định yêu cầu kỹ thuật về đất đào từ công trình giao thông, nhà ở và công trình tái chế làm vật liệu san lấp công trình xây dựng.
Nói rộng hơn, mô hình “khai thác - sử dụng - thải bỏ” rất lãng phí. Điều này không thể tiếp diễn, thay vào đó, cần một mô hình hiệu quả hơn: khai thác-sản xuất-sử dụng-phá dỡ-thu hồi-tái chế-tái sử dụng. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ mô hình thông tin công trình (BIM), thiết kế mô-đun, sử dụng vật liệu thân thiện với môi trường và nâng cao khả năng thích ứng của công trình, từ đó xây dựng chiến lược tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên và giảm lượng chất thải trong suốt vòng đời công trình. Các biện pháp quản lý vật liệu hiệu quả, áp dụng công nghệ thi công hiện đại và thiết lập hệ thống thu gom, tái chế chất thải ngay tại công trường cũng góp phần đáng kể trong việc hạn chế lượng chất thải đưa ra môi trường.
Mỗi viên gạch, khối bê-tông, mỗi thanh sắt đều được khai thác từ sông, núi và các nguồn tự nhiên. Khi các vật liệu này bị thải bỏ, xã hội không chỉ mất đi giá trị vật chất còn lại mà còn làm gia tăng nhu cầu khai thác tài nguyên mới, kéo theo tác động tiêu cực đối với môi trường. Việc quản lý, tái chế khoa học hướng tới bảo vệ môi trường không chỉ là trách nhiệm của riêng từng cá nhân hay doanh nghiệp, mà cần sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức. Chỉ khi các giải pháp được triển khai đồng bộ, giảm lượng chất thải xây dựng bị bỏ phí, sử dụng các vật liệu xanh trong xây dựng… mới có thể tiến tới sự phát triển xanh, tuần hoàn và bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, dự kiến trình Quốc hội cho ý kiến trong năm nay. Dự thảo tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý chất thải theo hướng kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên có thể tái sử dụng, tái chế và đưa trở lại chu trình sản xuất, tiêu dùng. Dự thảo lần này cũng cụ thể hóa các loại chất thải xây dựng cần được tái chế, tái sử dụng. Việc xác định các nhóm vật liệu như bê-tông, gạch, đá và cát thải được đánh giá là cơ sở quan trọng để thúc đẩy hoạt động thu gom, phân loại và tái chế ngay tại nguồn.