Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương bằng
Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương bằng

Câu chuyện của lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản

Lúa gạo luôn là ngành hàng trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu trước đây mục tiêu hàng đầu là bảo đảm an ninh lương thực và gia tăng sản lượng xuất khẩu thì hiện nay trọng tâm đang chuyển sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh là minh chứng rõ nét cho định hướng này.

Trong tương lai, nghiên cứu giống cần tập trung vào các giống lúa thơm, lúa dinh dưỡng, lúa chuyên biệt phục vụ chế biến sâu và các giống có khả năng thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và ngập lụt. Đồng thời, các giải pháp canh tác tiên tiến, như tưới ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý nước thông minh, cơ giới hóa và chuyển đổi số cần được mở rộng nhằm giảm chi phí sản xuất và phát thải khí nhà kính.

Một định hướng đặc biệt quan trọng là phát triển các giống lúa phù hợp với từng vùng sinh thái thay vì tìm kiếm một giống có thể thích nghi với toàn bộ đồng bằng. Điều này cho phép hình thành các vùng sản xuất chuyên biệt gắn với thương hiệu địa phương và nhu cầu riêng của từng thị trường.

Bên cạnh các giống hiện đại, nguồn gen bản địa như lúa mùa, lúa nổi và các giống đặc sản truyền thống cần được bảo tồn và khai thác hiệu quả. Đây không chỉ là nguồn vật liệu quý cho công tác chọn tạo giống mà còn là nền tảng để xây dựng các sản phẩm gạo đặc sắc, mang giá trị văn hóa, sinh thái và thương mại cao.

Đồng bằng sông Cửu Long hiện còn là vùng sản xuất cây ăn trái lớn nhất Việt Nam. Song, một trong những hạn chế lớn là chất lượng giống chưa đồng đều. Nhiều giống cây ăn trái bản địa có giá trị cao đang dần bị thay thế bởi các giống thương mại ngắn hạn, giống ngoại. Trong khi đó, hệ thống nghiên cứu, đánh giá và cung ứng giống chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sản xuất. Tình trạng lựa chọn giống theo phong trào khiến nhiều địa phương rơi vào vòng luẩn quẩn “trồng - chặt”, gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Để phát triển bền vững, ngành cây ăn trái cần chuyển từ tư duy tập trung vào sản lượng sang phát triển chuỗi giá trị toàn diện. Quá trình này phải bắt đầu từ công tác nghiên cứu, bảo tồn và chọn tạo giống, xây dựng hệ thống cung ứng giống chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương. Trên cơ sở đó, hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với lợi thế địa lý, mã số vùng trồng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và đơn vị phân phối nhằm nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thương hiệu và tăng sức cạnh tranh của ngành cây ăn trái Đồng bằng sông Cửu Long trên thị trường toàn cầu.

Thủy sản cũng là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, với hai sản phẩm chiến lược là tôm và cá tra. Tuy thế, ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, chi phí thức ăn và vật tư đầu vào gia tăng, biến động thị trường cùng các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon. Đi cùng đó, sự phát triển bền vững của ngành thủy sản phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường nước...

Trong bối cảnh đó, nuôi trồng thủy sản thông minh đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu. Việc ứng dụng các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống cảm biến môi trường và giám sát theo thời gian thực giúp nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát dịch bệnh, nhằm tối ưu hóa sử dụng thức ăn và giảm chi phí sản xuất.

Bên cạnh các mô hình nuôi thâm canh công nghệ cao, mô hình sinh thái như tôm- rừng, tôm-lúa, nuôi kết hợp đa loài và hệ thống nuôi tuần hoàn đang cho thấy nhiều lợi thế về môi trường, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả kinh tế. Đây cũng là nền tảng quan trọng để ngành thủy sản tiếp cận các chứng nhận quốc tế, mở rộng thị trường cao cấp và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong tương lai, lợi thế của thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long sẽ không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng môi trường, trình độ công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường toàn cầu.

Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: Chìa khóa cho tương lai

Trong kỷ nguyên phát triển mới, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là động lực cốt lõi thúc đẩy quá trình chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long. Các lĩnh vực như công nghệ sinh học, chọn tạo giống tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến sâu và chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội để nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giá trị gia tăng của nông sản.

Bên cạnh các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, Internet vạn vật (IoT) và blockchain sẽ hỗ trợ quản lý sản xuất hiệu quả hơn, dự báo rủi ro tốt hơn, tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.

Song, đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà còn là sự tham gia của các chủ thể trong hệ sinh thái nông nghiệp. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần đóng vai trò trung tâm trong nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen, phát triển công nghệ, chuyển giao tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, người nông dân cần được xem là chủ thể của quá trình đổi mới sáng tạo, tham gia trực tiếp vào việc thử nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng các giải pháp mới. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân sẽ tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp hiện đại, xanh, có khả năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững.

Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước cơ hội lịch sử để tái cấu trúc nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp trọng tâm: phát triển giống cây trồng, vật nuôi chất lượng thích ứng biến đổi khí hậu; thúc đẩy chuyển đổi số và công nghệ cao; bảo tồn và khai thác nguồn gen bản địa để tạo lợi thế cạnh tranh quốc tế; phát triển chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân.

Việc triển khai hiệu quả các định hướng đó sẽ góp phần củng cố vai trò của Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng để phát triển theo hướng nông nghiệp xanh, sản xuất thực phẩm chất lượng cao và đổi mới sáng tạo.

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, hơn 90% lượng gạo xuất khẩu, 70% sản lượng trái cây xuất khẩu và khoảng 60-70% sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Trong nhiều thập kỷ qua, nơi đây giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu nông sản và nâng cao đời sống của hàng triệu người dân nông thôn.

Có thể bạn quan tâm

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Ước mơ trở thành phi hành gia của bạn Nguyễn Lê Hà Vy, lớp 5B, Trường tiểu học Phúc Tân.

Ðiều chúng em mong muốn!

Trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại, nhiều khi những mong mỏi của trẻ em chưa được lắng nghe, chưa được thấu cảm trọn vẹn. Cần lắm những diễn đàn, những kênh kết nối để trẻ em được cất tiếng nói.

Ảnh sử dụng đồ hoạ AI.

Agentic AI - Cơ hội không chia đều cho tất cả

Năm 2026, Agentic AI nổi lên như hiện tượng công nghệ định hình lại cách thế giới làm việc. Bài toán đặt ra cho Việt Nam không còn là "có nên ứng dụng", mà phải "làm thế nào để bắt kịp và làm chủ" trong bối cảnh công nghệ đang tái định nghĩa năng suất, lao động và lợi thế cạnh tranh.

Kỹ sư phần mềm là đối tượng dễ bị ảnh hưởng bởi AI. Nguồn: FPT

Thuê trí tuệ - Lằn ranh đỏ

Trong lịch sử kinh tế, có một thứ vẫn luôn được coi là tài sản không thể chia, không thể mua, không thể bị tước đi: Trí tuệ của con người. Thời điểm Agentic AI (trí tuệ nhân tạo tự chủ) bùng nổ, điều đó không còn đúng nữa.

Trại huấn luyện của tác giả Linh Phan dành cho cá nhân muốn phát triển “công ty một người”. Nguồn: Vietnam Solo Expert

Mỗi cá nhân không còn nhỏ bé

Công nghệ có thể giúp một người vận hành như doanh nghiệp. Nhưng chỉ con người đủ trưởng thành mới có thể biến công nghệ thành tài sản, thay vì biến mình thành một cỗ máy sản xuất nhiều hơn.

Dự án cầu Nhật Tân (Hà Nội) không chỉ là công trình trọng điểm sử dụng hiệu quả vốn vay ODA từ Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), mà còn được coi là biểu tượng thể hiện tình hữu nghị Việt-Nhật. (Ảnh: Thành Đạt)

Nâng tầm tín nhiệm quốc gia

Hội nghị lần thứ II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã thông qua Kết luận số 18-KL/TW, trong đó có đề cập tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030.

Ông Nguyễn Quốc Phương (ảnh bên), Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Kinh tế đối ngoại (Bộ Tài chính)

Cải cách tư duy quản lý, mở rộng dư địa huy động vốn

“Được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những “nút thắt” kéo dài trong triển khai các dự án ODA và vay ưu đãi, Nghị định số 119/2026/NĐ-CP của Chính phủ (Nghị định 119) có rất nhiều điểm mới đáng chú ý, tác động tích cực đến tiến độ triển khai cũng như định hướng huy động vốn trong giai đoạn đặc biệt quan trọng hiện nay”.

Thực tế, chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao, làm giảm năng lực cạnh tranh, hạn chế khả năng đầu tư của doanh nghiệp, do đó bài toán hạ chi phí vốn đã trở nên cấp thiết.

Chìa khóa để hạ chi phí vốn cho nền kinh tế

Xếp hạng tín nhiệm quốc gia phản ánh khả năng trả nợ và mức độ rủi ro của một quốc gia. Xếp hạng tín nhiệm càng cao, chi phí vay vốn của Chính phủ, của doanh nghiệp quốc gia đó càng thấp, khả năng tiếp cận nhà đầu tư quốc tế càng lớn và ngược lại.

Cuộc sống của người dân châu Phi luôn phải đối mặt áp lực lớn cả về chính trị và xã hội, thậm chí sự bất bình đẳng do tình trạng “sống dựa” vào vay nợ của các quốc gia ở khu vực này.

Nhận diện vòng xoáy nợ nần trên toàn cầu

Khi đối mặt khủng hoảng cán cân thanh toán, tức không đủ khả năng chi trả cho nhập khẩu hay thanh toán nợ nước ngoài, các quốc gia thường tìm đến Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) hoặc những phương thức xử lý nợ mới.