Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng
Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Câu chuyện của lúa gạo, cây ăn trái và thủy sản

Lúa gạo luôn là ngành hàng trung tâm của Đồng bằng sông Cửu Long. Nếu trước đây mục tiêu hàng đầu là bảo đảm an ninh lương thực và gia tăng sản lượng xuất khẩu thì hiện nay trọng tâm đang chuyển sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng. Đề án phát triển 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh là minh chứng rõ nét cho định hướng này.

Trong tương lai, nghiên cứu giống cần tập trung vào các giống lúa thơm, lúa dinh dưỡng, lúa chuyên biệt phục vụ chế biến sâu và các giống có khả năng thích ứng với hạn hán, xâm nhập mặn và ngập lụt. Đồng thời, các giải pháp canh tác tiên tiến, như tưới ngập khô xen kẽ (AWD), quản lý nước thông minh, cơ giới hóa và chuyển đổi số cần được mở rộng nhằm giảm chi phí sản xuất và phát thải khí nhà kính.

Một định hướng đặc biệt quan trọng là phát triển các giống lúa phù hợp với từng vùng sinh thái thay vì tìm kiếm một giống có thể thích nghi với toàn bộ đồng bằng. Điều này cho phép hình thành các vùng sản xuất chuyên biệt gắn với thương hiệu địa phương và nhu cầu riêng của từng thị trường.

Bên cạnh các giống hiện đại, nguồn gen bản địa như lúa mùa, lúa nổi và các giống đặc sản truyền thống cần được bảo tồn và khai thác hiệu quả. Đây không chỉ là nguồn vật liệu quý cho công tác chọn tạo giống mà còn là nền tảng để xây dựng các sản phẩm gạo đặc sắc, mang giá trị văn hóa, sinh thái và thương mại cao.

Đồng bằng sông Cửu Long hiện còn là vùng sản xuất cây ăn trái lớn nhất Việt Nam. Song, một trong những hạn chế lớn là chất lượng giống chưa đồng đều. Nhiều giống cây ăn trái bản địa có giá trị cao đang dần bị thay thế bởi các giống thương mại ngắn hạn, giống ngoại. Trong khi đó, hệ thống nghiên cứu, đánh giá và cung ứng giống chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người sản xuất. Tình trạng lựa chọn giống theo phong trào khiến nhiều địa phương rơi vào vòng luẩn quẩn “trồng - chặt”, gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Để phát triển bền vững, ngành cây ăn trái cần chuyển từ tư duy tập trung vào sản lượng sang phát triển chuỗi giá trị toàn diện. Quá trình này phải bắt đầu từ công tác nghiên cứu, bảo tồn và chọn tạo giống, xây dựng hệ thống cung ứng giống chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng địa phương. Trên cơ sở đó, hình thành các vùng sản xuất tập trung gắn với lợi thế địa lý, mã số vùng trồng, hệ thống truy xuất nguồn gốc và các tiêu chuẩn chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến và đơn vị phân phối nhằm nâng cao giá trị gia tăng, phát triển thương hiệu và tăng sức cạnh tranh của ngành cây ăn trái Đồng bằng sông Cửu Long trên thị trường toàn cầu.

Thủy sản cũng là một trong những ngành xuất khẩu chủ lực của Đồng bằng sông Cửu Long, với hai sản phẩm chiến lược là tôm và cá tra. Tuy thế, ngành thủy sản đang đối mặt với nhiều thách thức như dịch bệnh, chi phí thức ăn và vật tư đầu vào gia tăng, biến động thị trường cùng các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và giảm phát thải carbon. Đi cùng đó, sự phát triển bền vững của ngành thủy sản phụ thuộc chặt chẽ vào chất lượng môi trường nước...

Trong bối cảnh đó, nuôi trồng thủy sản thông minh đang trở thành xu hướng phát triển tất yếu. Việc ứng dụng các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), hệ thống cảm biến môi trường và giám sát theo thời gian thực giúp nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm soát dịch bệnh, nhằm tối ưu hóa sử dụng thức ăn và giảm chi phí sản xuất.

Bên cạnh các mô hình nuôi thâm canh công nghệ cao, mô hình sinh thái như tôm- rừng, tôm-lúa, nuôi kết hợp đa loài và hệ thống nuôi tuần hoàn đang cho thấy nhiều lợi thế về môi trường, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả kinh tế. Đây cũng là nền tảng quan trọng để ngành thủy sản tiếp cận các chứng nhận quốc tế, mở rộng thị trường cao cấp và nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong tương lai, lợi thế của thủy sản Đồng bằng sông Cửu Long sẽ không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng môi trường, trình độ công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo và mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn xanh của thị trường toàn cầu.

Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo: Chìa khóa cho tương lai

Trong kỷ nguyên phát triển mới, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo sẽ là động lực cốt lõi thúc đẩy quá trình chuyển đổi nông nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long. Các lĩnh vực như công nghệ sinh học, chọn tạo giống tiên tiến, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến sâu và chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội để nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và giá trị gia tăng của nông sản.

Bên cạnh các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống thông tin địa lý (GIS), viễn thám, Internet vạn vật (IoT) và blockchain sẽ hỗ trợ quản lý sản xuất hiệu quả hơn, dự báo rủi ro tốt hơn, tối ưu hóa sử dụng tài nguyên và nâng cao tính minh bạch trong toàn bộ chuỗi giá trị nông nghiệp.

Song, đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện của công nghệ mà còn là sự tham gia của các chủ thể trong hệ sinh thái nông nghiệp. Các trường đại học và viện nghiên cứu cần đóng vai trò trung tâm trong nghiên cứu, bảo tồn nguồn gen, phát triển công nghệ, chuyển giao tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, người nông dân cần được xem là chủ thể của quá trình đổi mới sáng tạo, tham gia trực tiếp vào việc thử nghiệm, hoàn thiện và ứng dụng các giải pháp mới. Sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và người dân sẽ tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp hiện đại, xanh, có khả năng cạnh tranh cao và phát triển bền vững.

Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước cơ hội lịch sử để tái cấu trúc nền nông nghiệp theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần tập trung vào năm nhóm giải pháp trọng tâm: phát triển giống cây trồng, vật nuôi chất lượng thích ứng biến đổi khí hậu; thúc đẩy chuyển đổi số và công nghệ cao; bảo tồn và khai thác nguồn gen bản địa để tạo lợi thế cạnh tranh quốc tế; phát triển chế biến sâu và kinh tế tuần hoàn; xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo với sự tham gia của nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân.

Việc triển khai hiệu quả các định hướng đó sẽ góp phần củng cố vai trò của Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, đồng thời tạo nền tảng để phát triển theo hướng nông nghiệp xanh, sản xuất thực phẩm chất lượng cao và đổi mới sáng tạo.

Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất nông nghiệp quan trọng nhất của Việt Nam, đóng góp khoảng 50% sản lượng lúa, hơn 90% lượng gạo xuất khẩu, 70% sản lượng trái cây xuất khẩu và khoảng 60-70% sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả nước. Trong nhiều thập kỷ qua, nơi đây giữ vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, thúc đẩy xuất khẩu nông sản và nâng cao đời sống của hàng triệu người dân nông thôn.

Có thể bạn quan tâm

Anh Lê Minh Thiện (phải) hỗ trợ ông Nguyễn Xuân Bình làm thủ tục ủy quyền lương hưu. Ảnh: Thành Đạt

Đưa hệ thống chạm tới nhóm người yếu thế

Mới đây, Hà Nội đã hoàn thành 100% mục tiêu của chiến dịch liên ngành bảo đảm chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội không bị gián đoạn. Kết quả này có được là nhờ hoạt động của Tổ hành chính công xung kích, với những công chức không quản nắng mưa, gõ cửa từng nhà.

Người dân Ấn Độ liên kết số Aadhaar của mình với tài khoản ngân hàng để phục vụ thanh toán trực tuyến.

Hai mặt của tấm huy chương

Ở Estonia, hầu hết thủ tục từ khai sinh cho con đến kê đơn thuốc, được thực hiện trong vài cú chạm. Còn tại Ấn Độ, một cụ bà có thể bị máy định danh từ chối phát gạo trợ cấp vì dấu vân tay đã mòn. Hai hình ảnh trái ngược ấy cùng gợi mở một số vấn đề mà Việt Nam cần nắm vững khi bước vào nền hành chính số.

Dù triển khai dịch vụ công trực tuyến, người dân vẫn phải mất nhiều lượt đi lại trực tiếp mới hoàn tất khâu nộp hồ sơ.

Gỡ khó cho tuyến cơ sở

Việc đẩy mạnh chuyển đổi số và triển khai dịch vụ công trực tuyến thời gian qua đã đạt được những thành tựu bước đầu rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành tại một số địa phương sau khi sáp nhập đơn vị hành chính vẫn thể hiện sự thiếu đồng bộ về dữ liệu chuyên ngành và hạ tầng kỹ thuật.

Ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Mỗi dữ liệu chỉ khai một lần, mỗi kết quả sử dụng nhiều lần

Xoay quanh nỗ lực thu hẹp khoảng cách giữa một thủ tục được đưa lên môi trường số và một thủ tục thật sự giảm được thời gian cũng như chi phí cho người dân, doanh nghiệp, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với ông Bùi Dương, Giám đốc Chi nhánh Trung tâm Phục vụ hành chính công số 1 Thành phố Hà Nội.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.