Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT
Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Nhật Bản “giữ chân” người già

Một buổi sáng ở Tokyo, khi một cụ ông bước vào chi nhánh ngân hàng quen thuộc, hệ thống AI lập tức phân tích giọng nói của ông để tìm dấu hiệu suy giảm nhận thức sớm nhất. Đây là mô hình Viện Nghiên cứu Nhật Bản (JRI) đề xuất áp dụng đại trà trong thời gian tới, khi tài sản của hàng triệu người mắc sa sút trí tuệ có nguy cơ bị đóng băng, ảnh hưởng tới thanh khoản toàn nền kinh tế.

Câu chuyện ấy chỉ là một mảnh ghép nhỏ trong nỗ lực lớn hơn của Nhật Bản, nhằm thích ứng với một cấu trúc dân số đang già đi nhanh chóng. Nếu tính đến năm 2024, Nhật Bản có 36,25 triệu người từ 65 tuổi trở lên, chiếm 29,3% dân số, thì tỷ lệ này được dự báo tăng lên 34,8% vào năm 2040, vượt xa vùng lãnh thổ đứng thứ hai thế giới là Martinique.

Chính thực tế già đi nhanh và sâu hơn bất kỳ nơi nào khác đã buộc Nhật Bản phải tìm lời giải sớm hơn phần còn lại của thế giới, với trọng tâm không phải là chăm sóc người già như một gánh nặng, mà là giữ họ lại trong nền kinh tế càng lâu càng tốt.

Tỷ lệ lao động từ 65 tuổi trở lên có việc làm tại Nhật Bản đạt 25,2% vào năm 2022, tăng liên tục suốt 20 năm và vượt xa Mỹ (18,7%), Canada (14,4%), Anh (11,3%), Đức (8,9%), Italia (5,3%) hay Pháp (4,2%) - dù vẫn còn kém Hàn Quốc, nước đứng đầu thế giới với 37,3%. Hiện Nhật Bản có 5,4 triệu người từ 70 tuổi trở lên vẫn tham gia lực lượng lao động và lao động cao tuổi chiếm trung bình 14% tổng lực lượng lao động toàn quốc.

Để đạt được điều đó, chính sách của Nhật Bản đi theo lộ trình rất rõ ràng, mỗi lần nâng chuẩn cách nhau khoảng một thập kỷ. “Đạo luật ổn định việc làm cho người cao tuổi” được thông qua lần đầu năm 2013, yêu cầu doanh nghiệp tạo điều kiện cho lao động làm việc đến 65 tuổi thông qua tái ký hợp đồng hoặc gia hạn.

Đến tháng 3/2020, Quốc hội Nhật Bản thông qua bản sửa đổi, có hiệu lực từ 2021, yêu cầu các công ty tạo điều kiện cho nhân viên làm việc tới 70 tuổi. Theo khảo sát năm 2023 của Bộ Lao động nước này với khoảng 230.000 doanh nghiệp, 42% cho phép nhân viên làm việc đến 70 tuổi hoặc hơn, gấp đôi tỷ lệ năm 2013.

Dù quy định trên chưa mang tính bắt buộc và không kèm chế tài, nhiều doanh nghiệp đã đi trước cả luật. Tenpos Holdings bỏ hẳn quy định tuổi nghỉ hưu từ năm 2005, hiện hơn 30% nhân viên tại trụ sở chính đã trên 60 tuổi. Calbee từ tháng 4/2024 cho phép nhân viên có kỹ năng chuyên môn tiếp tục làm việc sau 60 tuổi mà không bị cắt giảm lương hay phúc lợi. Toyota bắt đầu tái tuyển dụng người cao tuổi ở tất cả các bộ phận từ tháng 8/2024.

Song song, chính phủ hỗ trợ tài chính cho các công ty tuyển người lao động từ 65 tuổi trở lên và cung cấp thiết bị giúp họ làm việc dễ dàng hơn. Tuy nhiên, một số chuyên gia cho rằng hệ thống lương hưu vẫn tạo ra lực cản nhất định, khi người có thu nhập vượt ngưỡng sau tuổi nghỉ hưu bị cắt giảm một phần lương hưu, khiến không ít người cao tuổi chủ động giảm giờ làm để giữ phúc lợi.

Trung Quốc xem kinh tế bạc là trụ cột tiêu dùng

Thay vì kéo dài tuổi làm việc, Trung Quốc chọn cách biến nhu cầu tiêu dùng của người già thành động lực cho tổng cầu nội địa, một lựa chọn phản ánh đúng bối cảnh riêng của nước này, nơi thị trường lao động vẫn còn dư địa từ lực lượng trẻ, trong khi tiêu dùng nội địa mới là điểm nghẽn tăng trưởng. Điểm khác biệt lớn nhất so với Nhật Bản: Các văn kiện chính sách của Trung Quốc gần như không đề cập việc mở rộng vai trò lao động của người cao tuổi.

Tháng 1/2024, Quốc vụ viện Trung Quốc lần đầu tiên ban hành kế hoạch phát triển “kinh tế bạc” ở cấp quốc gia với hàng loạt giải pháp thúc đẩy các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ người cao tuổi, từ chăm sóc sức khỏe thông minh, sản phẩm hỗ trợ sinh hoạt, dịch vụ dưỡng lão, tài chính dành cho người cao tuổi, thiết bị phục hồi chức năng, đến nhà ở thân thiện tuổi già và du lịch nghỉ dưỡng. Chính phủ Trung Quốc cũng đặt mục tiêu xây dựng các khu công nghiệp chuyên về “kinh tế bạc” và thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân tham gia mạnh hơn vào thị trường này.

Quy mô của chiến lược này rất lớn. Trung tâm Nghiên cứu lão hóa Trung Quốc ước tính “kinh tế bạc” nước này khoảng 7.000 tỷ NDT, và được kỳ vọng tăng lên 30.000 tỷ NDT vào năm 2035 - gấp hơn bốn lần trong vòng một thập kỷ. Chính sách ấy vẫn đang được bồi đắp liên tục: Ngày 14/1/2026, tám cơ quan trong đó có Bộ Dân chính, Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia, Bộ Thương mại công bố thêm 14 biện pháp mới nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng của các doanh nghiệp chăm sóc người cao tuổi, cho thấy chính sách đang chuyển từ giai đoạn đặt nền móng sang vận hành thực chất.

Có thể thấy, “kinh tế bạc” không còn là một thị trường ngách phục vụ nhóm dân số dễ tổn thương, mà đang được xây dựng để trở thành một trong những trụ cột tiêu dùng nội địa của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Hai logic, một điểm đến

Sự khác biệt giữa hai mô hình không nằm ở việc đúng sai, mà nằm ở chỗ mỗi nước đang giải một bài toán dân số khác nhau bằng công cụ phù hợp với cấu trúc kinh tế của riêng mình. Nhật Bản, với lực lượng lao động trẻ đã cạn kiệt từ nhiều năm trước, buộc phải giữ người già lại trong guồng máy sản xuất để duy trì năng suất. Trung Quốc,

với quy mô dân số trẻ vẫn còn lớn nhưng tổng cầu nội địa đang cần được kích hoạt, lại nhìn thấy ở người già một thị trường tiêu dùng khổng lồ chưa được khai thác hết.

Nhưng chính sự khác biệt đó cũng có thể không kéo dài mãi mãi. Dân số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc đã đạt đỉnh từ hơn một thập kỷ trước và được dự báo giảm từ khoảng 984 triệu người năm 2024 xuống còn 745 triệu người vào năm 2050 - theo các ước tính dựa trên dữ liệu dân số của Liên hợp quốc.

Khi khoảng đệm dân số trẻ đó dần cạn, bài toán mà Trung Quốc đang tạm gác lại hôm nay - làm sao giữ người già ở lại thị trường lao động - nhiều khả năng sẽ quay trở lại trong vài thập kỷ tới, đúng như những gì Nhật Bản đã đối mặt sớm hơn phần còn lại thế giới gần 20 năm trước.

Theo nghĩa đó, hai mô hình không hẳn là hai lựa chọn độc lập, mà có thể là hai chặng của cùng một con đường: Trung Quốc hôm nay đang đứng ở vị trí mà Nhật Bản từng đứng cách đây khoảng 20 năm, lúc tiêu dùng nội địa vẫn còn dư địa để trở thành động lực chính, trước khi thị trường lao động buộc phải nhập cuộc.

Câu hỏi mà cả Tokyo lẫn Bắc Kinh đang tìm lời giải: Làm sao tổ chức lại nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng trong một xã hội ngày càng nhiều người già, thay vì chống lại một quá trình khó đảo ngược?

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.