Tiêu chí cốt lõi của xã hội học tập

Xây dựng xã hội học tập là chủ trương lớn, đúng đắn của Ðảng và Nhà nước ta. Xã hội học tập là một cơ sở tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật, tri thức cao phục vụ các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước. Xã hội học tập đòi hỏi sự học tập thường xuyên, liên tục, suốt đời.
Tiêu chí cốt lõi của xã hội học tập

Người đầu tiên đưa ra khái niệm "Xã hội học tập" vào năm 1972 là Edgar Faure trong tác phẩm "Học để làm người: Thế giới giáo dục ngày nay và ngày mai" (Learning to be: The world of education today and tomorrow). Về xã hội học tập, Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ 21 đã gửi UNESCO bản báo cáo nổi tiếng "Học tập: Một kho báu tiềm ẩn" (Learning, the treasure within), trong đó, khẳng định, xã hội học tập sẽ vượt xa sự phân biệt truyền thống giữa giáo dục ban đầu với giáo dục liên tục, rằng nền giáo dục tiếp tục suốt đời phải được ủng hộ rộng rãi với những ưu thế về tinh thần mềm dẻo, đa dạng và khả thi trong thời gian và không gian khác nhau. Giáo dục cần hướng tới cộng đồng và toàn bộ cuộc đời từng con người.

Xã hội học tập là một mô hình giáo dục mở, trong đó mọi công dân đều có quyền lợi và nghĩa vụ học tập suốt đời. Xã hội học tập tạo mọi cơ hội và điều kiện để tất cả công dân được bình đẳng và công bằng xã hội trong học tập. Xã hội học tập được các quốc gia trên thế giới nhận thức là một triết lý, coi học tập là chìa khóa mở ra sự phát triển bền vững của quốc gia. Việc học tập của mọi công dân không chỉ trong khuôn khổ giáo dục chính quy, mà còn dưới hình thức giáo dục không chính quy và giáo dục phi chính quy.

Trong xã hội học tập, có hai hệ thống những thiết chế giáo dục với những chức năng khác nhau: Hệ thống giáo dục ban đầu và hệ thống giáo dục tiếp tục. Hệ thống giáo dục ban đầu gồm những trường, lớp giáo dục chính quy dành cho thế hệ trẻ, từ nhà trẻ đến đại học. Hệ thống giáo dục tiếp tục gồm những thiết chế giáo dục không chính quy như trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, các lớp bổ túc văn hóa, các lớp dạy nghề tư nhân... Bên cạnh những thiết chế giáo dục không chính quy có hệ thống giáo dục phi chính quy, gồm những thiết chế như nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, một số cơ sở đào tạo như lớp học vẽ, học âm nhạc, học viết thư pháp, luyện ngoại ngữ, v.v.

Hệ thống giáo dục không chính quy chủ yếu dành cho người lớn, gồm những người đã qua vùng đào tạo ban đầu hoặc không học đầy đủ các khóa học của giáo dục ban đầu.

Hệ thống các cơ sở giáo dục phi chính quy phục vụ nhu cầu "cần gì học nấy" của các lứa tuổi.

Các quốc gia có chương trình xây dựng xã hội học tập đều thống nhất tổ chức học tập suốt đời theo bốn trụ cột giáo dục do UNESCO đề xuất: Học để biết: Học để làm giàu tri thức, có kỹ năng lao động, kỹ năng sống và các kỹ năng xây dựng các quan hệ xã hội. Học để làm: Học để có nghề, có việc làm ổn định, có năng lực khởi nghiệp, tự tạo việc làm. Học để thích ứng với những thay đổi trong hệ thống nghề nghiệp với sự đổi mới công nghệ sản xuất liên tục. Học để chung sống: Có kỹ năng giao tiếp, hiểu biết văn hóa nước nhà và văn hóa nước ngoài, tôn trọng sự đa dạng văn hóa, sống gắn kết hòa thuận với mọi người chung quanh.

Một nội dung lớn trong xây dựng xã hội học tập là hình thành và phát triển tài nguyên giáo dục mở (kho học liệu lớn). Tài nguyên giáo dục mở sẽ đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của con người, phổ cập dịch vụ giáo dục và cá nhân hóa việc học tập của bất cứ ai có nhu cầu học tập. Tài nguyên giáo dục mở là nền tảng của giáo dục mở. Thiếu tài nguyên giáo dục mở thì không thể đại chúng hóa học vấn đại học cho đông đảo quần chúng.

Đối tượng chính sách của giáo dục tiếp tục (mà trong nhiều văn bản gọi là giáo dục thường xuyên) là người lớn, bao gồm những người làm cán bộ, công chức, viên chức, công nhân, nông dân, người về hưu, người già cả, người khuyết tật, người thất nghiệp, người phạm pháp... Ai cũng phải học suốt đời để trở thành công dân học tập.

Trong giai đoạn 2021-2030, sự nghiệp xây dựng xã hội học tập ở nước ta đã được định hướng trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước.

Theo đó, công dân học tập phải là người có đầy đủ ba năng lực cốt lõi, gồm: năng lực tự học, có kỹ năng truy cập tri thức trên các mạng xã hội, thực hiện việc học tập suốt đời; năng lực sử dụng công cụ học tập và học tập, có kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu công việc và đời sống, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ để làm tốt công việc ở vị trí đảm nhận; năng lực xây dựng và thực hiện tốt các mối quan hệ xã hội, bao gồm kỹ năng xây dựng mối quan hệ thân thiện với mọi người, hợp tác giúp đỡ, chia sẻ với đồng nghiệp, tôn trọng giới, tôn trọng sự đa dạng văn hóa.

Cùng đó, gia đình học tập là gia đình thực hiện tốt những tiêu chí: Con em trong gia đình học tập tốt, có hạnh kiểm tốt; người lớn trong gia đình đều trở thành công dân học tập; gia đình tạo điều kiện để mọi thành viên học tập thường xuyên; xây dựng văn hóa học tập.

Dòng họ học tập là các chi tộc thúc đẩy có hiệu quả các gia đình thành viên trở thành gia đình học tập, có quỹ khuyến học, có sự động viên kịp thời đối với các cá nhân và gia đình trong dòng họ có thành tích học tập tốt.

Cộng đồng học tập là những thôn, bản, tổ dân phố thúc đẩy có hiệu quả việc xây dựng gia đình học tập, dòng họ học tập trên địa bàn hành chính cấp xã, có quỹ khuyến học, có chi hội khuyến học.

Đơn vị học tập là các tổ chức trên địa bàn cấp xã do cấp xã quản lý. Người đứng đầu đơn vị phải bảo đảm việc học tập suốt đời của các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị, thúc đẩy họ phấn đấu trở thành công dân học tập, tổ chức trở thành đơn vị lao động tiên tiến.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.