An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.
Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, bà Nguyễn Phạm Duy Trang, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đưa ra những kiến giải về việc tạo dựng môi trường để trẻ em được lớn lên một cách an toàn, được yêu thương và đồng hành đúng nghĩa.

- Trước tiên, bà nhìn nhận thế nào về mối quan hệ giữa “an toàn” và “hạnh phúc” đối với trẻ em?

- Có thể khẳng định, “an toàn” luôn là nền tảng để trẻ em được sống hạnh phúc và phát triển toàn diện. Một đứa trẻ chỉ có thể lớn lên khỏe mạnh, hình thành nhân cách tích cực khi được sống trong môi trường an toàn, được bảo vệ, yêu thương, tôn trọng và được lắng nghe.

Một đứa trẻ dù được chăm sóc đầy đủ nhưng luôn sống trong lo âu, áp lực, bị bạo lực tinh thần, bị cô lập hoặc không có người để chia sẻ thì khó có thể thật sự hạnh phúc. Vì vậy, khi nói đến quyền được sống hạnh phúc của trẻ em, trước hết phải nói đến quyền được an toàn.

Hiện nay, khái niệm “an toàn cho trẻ em” đã rộng hơn rất nhiều. Nếu trước đây chúng ta thường nói nhiều đến phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước, bạo lực, xâm hại trực tiếp, thì trong bối cảnh chuyển đổi số, trẻ em còn đối diện với nhiều nguy cơ mới trên môi trường mạng như bắt nạt trực tuyến, bạo lực ngôn từ, lừa đảo, xâm phạm dữ liệu cá nhân, tiếp xúc với nội dung độc hại, lệ thuộc thiết bị điện tử hoặc bị tác động tiêu cực bởi các thuật toán và xu hướng lệch chuẩn.

Điều đáng lo ngại là nhiều tổn thương trên môi trường mạng không để lại dấu vết rõ ràng như tổn thương thể chất, nhưng lại ảnh hưởng rất sâu sắc đến tâm lý, cảm xúc, nhận thức và quá trình hình thành nhân cách của trẻ em. Có những em bị tổn thương trong im lặng, bị cô lập trong chính không gian mà người lớn tưởng rằng các em chỉ đang “giải trí”. Vì vậy, an toàn của trẻ em hôm nay không chỉ là bảo vệ các em khỏi nguy cơ ngoài xã hội, mà còn là bảo vệ sự bình yên trong tâm hồn, sự lành mạnh trong các mối quan hệ và khả năng phát triển tích cực về cảm xúc, nhận thức, giá trị sống.

Tôi cho rằng trong thời đại số, cần tiếp cận vấn đề an toàn trẻ em theo hướng toàn diện hơn, gồm ba trụ cột lớn: an toàn thể chất, an toàn tinh thần và an toàn trên môi trường mạng. Trong đó, an toàn tinh thần cần được nhìn nhận đúng mức như một nội dung rất quan trọng của quyền trẻ em. Một lời miệt thị, một hành vi bắt nạt, một áp lực kéo dài hoặc sự thờ ơ của người lớn đôi khi để lại hậu quả nặng nề không kém những tổn thương thể chất.

Từ góc độ quản lý nhà nước, thách thức lớn hiện nay không chỉ là nhận diện các nguy cơ đối với trẻ em, mà là làm sao để hệ thống bảo vệ trẻ em có thể phản ứng kịp thời, hiệu quả trước từng nguy cơ cụ thể. Một cuộc gọi đến Tổng đài Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111, một phản ánh từ nhà trường, một dấu hiệu bất thường trong gia đình hay trên môi trường mạng cần được tiếp nhận, phân loại, xử lý và theo dõi bằng một quy trình rõ ràng.

Do đó, can thiệp từng ca trẻ em đòi hỏi một quy trình liên tục: phòng ngừa, phát hiện sớm, tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy cơ, can thiệp khẩn cấp khi cần thiết, hỗ trợ y tế, tâm lý, pháp lý, giáo dục và theo dõi sau can thiệp. Muốn làm được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, ngành lao động - xã hội, công an, y tế, giáo dục, nhà trường, tổ chức Đoàn, Đội, các tổ chức xã hội và gia đình.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cấp cơ sở. Xã, phường, thị trấn, khu phố, tổ dân phố, trường học là những nơi gần trẻ em nhất, có khả năng phát hiện sớm nhất các nguy cơ đối với trẻ em. Nếu ở cơ sở không nắm được trẻ em nào đang có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nào sống trong gia đình có bạo lực, trẻ em nào thiếu người chăm sóc, trẻ em nào có biểu hiện sang chấn tâm lý hoặc có nguy cơ bị xâm hại trên môi trường mạng, thì việc can thiệp thường sẽ chậm và bị động. Công tác bảo vệ trẻ em muốn hiệu quả phải bắt đầu từ dữ liệu cơ sở, từ trách nhiệm cụ thể của từng địa bàn và từng người làm công tác trẻ em.

Cùng với đó, Tổng đài Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111 cần tiếp tục được phát huy như một đầu mối quan trọng trong hệ thống bảo vệ trẻ em. Tổng đài không chỉ là nơi tiếp nhận cuộc gọi, mà phải là cửa ngõ kích hoạt quy trình hỗ trợ trẻ em.

Trên môi trường mạng, trách nhiệm bảo vệ trẻ em cũng không thể chỉ đặt lên vai cha mẹ hay nhà trường. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách và cơ chế giám sát; doanh nghiệp công nghệ phải có trách nhiệm trong việc kiểm soát nội dung độc hại, bảo vệ dữ liệu cá nhân trẻ em, thiết lập công cụ cảnh báo, gỡ bỏ nhanh nội dung xâm hại trẻ em; nhà trường cần trang bị kỹ năng số, kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh; gia đình cần đồng hành, lắng nghe thay vì chỉ cấm đoán. Trẻ em cần được bảo vệ bằng cả pháp luật, công nghệ, giáo dục và sự quan tâm thực chất của người lớn.

Với góc độ của cơ quan lập pháp, tôi cho rằng việc hoàn thiện thể chế, chính sách bảo vệ trẻ em trong bối cảnh mới là yêu cầu rất cấp thiết. Nhưng pháp luật thôi là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái bảo vệ trẻ em có khả năng vận hành thực chất: có đầu mối chịu trách nhiệm ở cơ sở, có quy trình phối hợp liên ngành, có dữ liệu trẻ em có nguy cơ, có dịch vụ tư vấn - trị liệu - pháp lý phù hợp, có ngân sách bảo đảm và có cơ chế giám sát việc thực hiện.

Từ thực tiễn nhiều năm công tác trong tổ chức Đoàn, Đội và hiện nay tham gia công tác tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, tôi càng nhận thấy rằng trẻ em hôm nay không chỉ cần được chăm sóc, mà cần được đồng hành; không chỉ cần được bảo vệ, mà còn cần được lắng nghe một cách thực chất.

Phiên họp giả định “Quốc hội trẻ em” trong thời gian qua cho thấy trẻ em Việt Nam rất quan tâm đến những vấn đề của chính mình. Các em có chính kiến, có mong muốn được tham gia và rất cần người lớn lắng nghe bằng sự tôn trọng, trách nhiệm. Đó cũng là một gợi mở quan trọng cho công tác xây dựng chính sách: Muốn chính sách về trẻ em đi vào cuộc sống, phải bắt đầu từ việc hiểu đúng tiếng nói, nhu cầu và trải nghiệm của trẻ em.

img-9519-5702.jpg
Hạnh phúc trẻ thơ luôn là những điều giản dị. Ảnh: UNICEF Việt Nam

- Có ý kiến cho rằng trẻ em hiện đang thiếu những sản phẩm giải trí, văn hóa lành mạnh phù hợp với lứa tuổi. Theo bà, trách nhiệm này thuộc về ai và cần được nhìn nhận như thế nào?

- Đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ hiện nay. Chúng ta không thể chỉ trách trẻ em dành quá nhiều thời gian cho điện thoại, mạng xã hội hay các thiết bị điện tử, khi người lớn và xã hội chưa tạo đủ điều kiện để các em được vui chơi, trải nghiệm, sáng tạo và kết nối với đời sống thực một cách tích cực. Một đứa trẻ sẽ luôn tìm đến nơi mang lại cảm giác được quan tâm, được chia sẻ và được khẳng định bản thân. Nếu thiếu sân chơi, thiếu hoạt động cộng đồng và thiếu những sản phẩm văn hóa phù hợp lứa tuổi và thiếu người lớn đồng hành thì môi trường mạng rất dễ trở thành nơi thay thế cho tuổi thơ. Khi đó, chiếc điện thoại không còn chỉ là phương tiện giải trí, mà trở thành “không gian sống” của trẻ em.

Tôi cho rằng, vấn đề sân chơi cho trẻ em không chỉ là câu chuyện văn hóa, mà còn là câu chuyện quy hoạch, ngân sách và trách nhiệm công. Khi phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, cần tính đến không gian công cộng, sân chơi, thư viện, nhà thiếu nhi, điểm sinh hoạt cộng đồng cho trẻ em. Nếu trẻ em chỉ có nhà trọ, lớp học và màn hình điện thoại, thì rất khó nói đến một tuổi thơ lành mạnh.

Các thiết chế như nhà thiếu nhi, thư viện, trung tâm văn hóa, bảo tàng, công viên, sân chơi cộng đồng, không gian sáng tạo cần được nhìn nhận như một phần quan trọng trong hệ thống bảo vệ và phát triển trẻ em. Đó không chỉ là nơi tổ chức hoạt động vui chơi, mà còn là nơi hình thành cảm xúc, nhân cách, kỹ năng sống, năng lực giao tiếp, khả năng hợp tác và hệ giá trị cho trẻ em.

Từ thực tiễn công tác và tiếp xúc với cử tri, phụ huynh, trẻ em tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua, tôi càng thấy rõ áp lực của đời sống đô thị hiện đại đối với trẻ em. Ở một đô thị đặc biệt với mật độ dân cư đông, nhịp sống nhanh, số lượng con em công nhân lao động và người nhập cư rất lớn, không phải gia đình nào cũng có đủ điều kiện, thời gian và nguồn lực để đồng hành cùng con. Nhiều trẻ em thiếu sân chơi cộng đồng, thiếu điểm sinh hoạt văn hóa, thiếu không gian an toàn và phù hợp với lứa tuổi. Nếu khoảng trống đó không được bù đắp bằng các hoạt động giáo dục, trải nghiệm và văn hóa lành mạnh, thì màn hình điện thoại sẽ dần thay thế tuổi thơ của các em.

Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI, tôi cũng đã nhấn mạnh rằng phát triển văn hóa phải thật sự gắn với thế hệ trẻ. Đầu tư cho văn hóa, suy cho cùng, chính là đầu tư cho con người và cho tương lai đất nước. Văn hóa không chỉ tạo ra đời sống tinh thần, mà còn góp phần hình thành bản lĩnh, nhân cách và sức đề kháng của thanh thiếu nhi trước những tác động tiêu cực của xã hội hiện đại. Theo nghĩa đó, xây dựng thiết chế văn hóa cho trẻ em hôm nay cũng chính là xây dựng một “lá chắn mềm” để bảo vệ trẻ em từ sớm, từ xa.

Thời gian tới, cần nhìn nhận lại hệ thống thiết chế văn hóa dành cho thiếu nhi theo hướng hiện đại hơn, gần trẻ em hơn và thật sự hấp dẫn trẻ em.

Bên cạnh đó, các cơ quan văn hóa, truyền thông và doanh nghiệp công nghệ cần có trách nhiệm xã hội lớn hơn trong việc xây dựng những sản phẩm văn hóa lành mạnh, giàu giá trị giáo dục, phù hợp tâm lý lứa tuổi và đủ hấp dẫn với trẻ em. Chúng ta cần nhiều hơn những sản phẩm văn hóa Việt Nam hiện đại, sáng tạo, gần gũi với trẻ em, nhưng vẫn nuôi dưỡng được tâm hồn, nhân cách, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng và niềm tự hào dân tộc.

Tôi cũng cho rằng không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” trẻ em tiếp cận công nghệ. Công nghệ là xu thế không thể đảo ngược. Điều quan trọng hơn là giúp trẻ em có đủ bản lĩnh văn hóa, kỹ năng số, khả năng tự bảo vệ và môi trường phát triển lành mạnh để sử dụng công nghệ một cách tích cực, an toàn, có trách nhiệm.

Chúng ta đang nói nhiều đến chuyển đổi số, xã hội số, công dân số, nhưng điều quan trọng hơn cả là phải xây dựng được một môi trường số nhân văn, an toàn và phù hợp với sự phát triển của trẻ em”.

- Trong việc xây dựng một mùa hè an toàn, lành mạnh cho trẻ em, vai trò của chính quyền địa phương cần được phát huy ra sao?

- Chính quyền địa phương giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và bảo đảm một mùa hè an toàn, lành mạnh cho trẻ em. Bởi địa phương là nơi gần trẻ em nhất, hiểu rõ điều kiện thực tế, nguy cơ và nhu cầu của trẻ em trên từng địa bàn. Một chính sách ở cấp Trung ương dù đúng và tốt đến đâu cũng chỉ có thể đi vào cuộc sống nếu được triển khai hiệu quả ở cơ sở.

Thời gian qua, Chính phủ đã nhiều lần yêu cầu các địa phương tăng cường công tác bảo vệ trẻ em trong dịp hè, nhất là phòng, chống đuối nước, tai nạn thương tích, xâm hại trẻ em và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Tuy nhiên, điều quan trọng hiện nay là phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý trẻ em trong dịp hè” sang tư duy “kiến tạo môi trường phát triển an toàn, lành mạnh cho trẻ em”.

Tôi cũng cho rằng cần lắng nghe trẻ em khi xây dựng các hoạt động hè. Nhiều khi người lớn tổ chức hoạt động mà nghĩ là tốt cho trẻ, nhưng chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu, sở thích và tâm lý của các em. Nếu trẻ em được hỏi ý kiến, được tham gia lựa chọn hoạt động, các chương trình hè sẽ hấp dẫn hơn, thiết thực hơn và thật sự thuộc về trẻ em hơn.

Một đô thị đáng sống trước hết phải là nơi trẻ em được sống an toàn và hạnh phúc. Một địa phương phát triển không chỉ được đo bằng đường sá, công trình, tốc độ tăng trưởng, mà còn phải được nhìn từ những điều rất cụ thể: Trẻ em có sân chơi hay không, có được bảo vệ khi gặp nguy cơ hay không, có nơi để đọc sách, chơi thể thao, sinh hoạt văn hóa hay không, có được lắng nghe trong những vấn đề liên quan mình hay không.

Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh là: Bảo vệ trẻ em không chỉ là ngăn ngừa tổn thương, mà là tạo dựng một môi trường để mọi trẻ em được an toàn, được tôn trọng, được phát triển toàn diện và được sống đúng với tuổi thơ của mình. Muốn trẻ em thật sự hạnh phúc, trước hết người lớn phải cho các em cảm giác được an toàn, được yêu thương và được lắng nghe.

- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của bà!

Nhiều thiết chế văn hóa dành cho thiếu nhi hiện nay chưa thật sự hấp dẫn trẻ em. Có nơi còn thiếu cơ sở vật chất, thiếu nhân lực, thiếu kinh phí hoạt động, thiếu đổi mới nội dung và phương thức tổ chức. Trong khi đó, các sản phẩm trên không gian mạng lại rất nhanh, rất hấp dẫn và liên tục thay đổi. Vì vậy, nếu các hoạt động văn hóa cho trẻ em vẫn tổ chức theo cách cũ, đơn điệu, thiếu tính trải nghiệm, thì sẽ rất khó thu hút các em.

Có thể bạn quan tâm

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.