An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.
Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, bà Nguyễn Phạm Duy Trang, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, đưa ra những kiến giải về việc tạo dựng môi trường để trẻ em được lớn lên một cách an toàn, được yêu thương và đồng hành đúng nghĩa.

- Trước tiên, bà nhìn nhận thế nào về mối quan hệ giữa “an toàn” và “hạnh phúc” đối với trẻ em?

- Có thể khẳng định, “an toàn” luôn là nền tảng để trẻ em được sống hạnh phúc và phát triển toàn diện. Một đứa trẻ chỉ có thể lớn lên khỏe mạnh, hình thành nhân cách tích cực khi được sống trong môi trường an toàn, được bảo vệ, yêu thương, tôn trọng và được lắng nghe.

Một đứa trẻ dù được chăm sóc đầy đủ nhưng luôn sống trong lo âu, áp lực, bị bạo lực tinh thần, bị cô lập hoặc không có người để chia sẻ thì khó có thể thật sự hạnh phúc. Vì vậy, khi nói đến quyền được sống hạnh phúc của trẻ em, trước hết phải nói đến quyền được an toàn.

Hiện nay, khái niệm “an toàn cho trẻ em” đã rộng hơn rất nhiều. Nếu trước đây chúng ta thường nói nhiều đến phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước, bạo lực, xâm hại trực tiếp, thì trong bối cảnh chuyển đổi số, trẻ em còn đối diện với nhiều nguy cơ mới trên môi trường mạng như bắt nạt trực tuyến, bạo lực ngôn từ, lừa đảo, xâm phạm dữ liệu cá nhân, tiếp xúc với nội dung độc hại, lệ thuộc thiết bị điện tử hoặc bị tác động tiêu cực bởi các thuật toán và xu hướng lệch chuẩn.

Điều đáng lo ngại là nhiều tổn thương trên môi trường mạng không để lại dấu vết rõ ràng như tổn thương thể chất, nhưng lại ảnh hưởng rất sâu sắc đến tâm lý, cảm xúc, nhận thức và quá trình hình thành nhân cách của trẻ em. Có những em bị tổn thương trong im lặng, bị cô lập trong chính không gian mà người lớn tưởng rằng các em chỉ đang “giải trí”. Vì vậy, an toàn của trẻ em hôm nay không chỉ là bảo vệ các em khỏi nguy cơ ngoài xã hội, mà còn là bảo vệ sự bình yên trong tâm hồn, sự lành mạnh trong các mối quan hệ và khả năng phát triển tích cực về cảm xúc, nhận thức, giá trị sống.

Tôi cho rằng trong thời đại số, cần tiếp cận vấn đề an toàn trẻ em theo hướng toàn diện hơn, gồm ba trụ cột lớn: an toàn thể chất, an toàn tinh thần và an toàn trên môi trường mạng. Trong đó, an toàn tinh thần cần được nhìn nhận đúng mức như một nội dung rất quan trọng của quyền trẻ em. Một lời miệt thị, một hành vi bắt nạt, một áp lực kéo dài hoặc sự thờ ơ của người lớn đôi khi để lại hậu quả nặng nề không kém những tổn thương thể chất.

Từ góc độ quản lý nhà nước, thách thức lớn hiện nay không chỉ là nhận diện các nguy cơ đối với trẻ em, mà là làm sao để hệ thống bảo vệ trẻ em có thể phản ứng kịp thời, hiệu quả trước từng nguy cơ cụ thể. Một cuộc gọi đến Tổng đài Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111, một phản ánh từ nhà trường, một dấu hiệu bất thường trong gia đình hay trên môi trường mạng cần được tiếp nhận, phân loại, xử lý và theo dõi bằng một quy trình rõ ràng.

Do đó, can thiệp từng ca trẻ em đòi hỏi một quy trình liên tục: phòng ngừa, phát hiện sớm, tiếp nhận thông tin, đánh giá mức độ nguy cơ, can thiệp khẩn cấp khi cần thiết, hỗ trợ y tế, tâm lý, pháp lý, giáo dục và theo dõi sau can thiệp. Muốn làm được điều đó, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, ngành lao động - xã hội, công an, y tế, giáo dục, nhà trường, tổ chức Đoàn, Đội, các tổ chức xã hội và gia đình.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh vai trò của cấp cơ sở. Xã, phường, thị trấn, khu phố, tổ dân phố, trường học là những nơi gần trẻ em nhất, có khả năng phát hiện sớm nhất các nguy cơ đối với trẻ em. Nếu ở cơ sở không nắm được trẻ em nào đang có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em nào sống trong gia đình có bạo lực, trẻ em nào thiếu người chăm sóc, trẻ em nào có biểu hiện sang chấn tâm lý hoặc có nguy cơ bị xâm hại trên môi trường mạng, thì việc can thiệp thường sẽ chậm và bị động. Công tác bảo vệ trẻ em muốn hiệu quả phải bắt đầu từ dữ liệu cơ sở, từ trách nhiệm cụ thể của từng địa bàn và từng người làm công tác trẻ em.

Cùng với đó, Tổng đài Quốc gia bảo vệ Trẻ em 111 cần tiếp tục được phát huy như một đầu mối quan trọng trong hệ thống bảo vệ trẻ em. Tổng đài không chỉ là nơi tiếp nhận cuộc gọi, mà phải là cửa ngõ kích hoạt quy trình hỗ trợ trẻ em.

Trên môi trường mạng, trách nhiệm bảo vệ trẻ em cũng không thể chỉ đặt lên vai cha mẹ hay nhà trường. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện pháp luật, chính sách và cơ chế giám sát; doanh nghiệp công nghệ phải có trách nhiệm trong việc kiểm soát nội dung độc hại, bảo vệ dữ liệu cá nhân trẻ em, thiết lập công cụ cảnh báo, gỡ bỏ nhanh nội dung xâm hại trẻ em; nhà trường cần trang bị kỹ năng số, kỹ năng tự bảo vệ cho học sinh; gia đình cần đồng hành, lắng nghe thay vì chỉ cấm đoán. Trẻ em cần được bảo vệ bằng cả pháp luật, công nghệ, giáo dục và sự quan tâm thực chất của người lớn.

Với góc độ của cơ quan lập pháp, tôi cho rằng việc hoàn thiện thể chế, chính sách bảo vệ trẻ em trong bối cảnh mới là yêu cầu rất cấp thiết. Nhưng pháp luật thôi là chưa đủ. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được một hệ sinh thái bảo vệ trẻ em có khả năng vận hành thực chất: có đầu mối chịu trách nhiệm ở cơ sở, có quy trình phối hợp liên ngành, có dữ liệu trẻ em có nguy cơ, có dịch vụ tư vấn - trị liệu - pháp lý phù hợp, có ngân sách bảo đảm và có cơ chế giám sát việc thực hiện.

Từ thực tiễn nhiều năm công tác trong tổ chức Đoàn, Đội và hiện nay tham gia công tác tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, tôi càng nhận thấy rằng trẻ em hôm nay không chỉ cần được chăm sóc, mà cần được đồng hành; không chỉ cần được bảo vệ, mà còn cần được lắng nghe một cách thực chất.

Phiên họp giả định “Quốc hội trẻ em” trong thời gian qua cho thấy trẻ em Việt Nam rất quan tâm đến những vấn đề của chính mình. Các em có chính kiến, có mong muốn được tham gia và rất cần người lớn lắng nghe bằng sự tôn trọng, trách nhiệm. Đó cũng là một gợi mở quan trọng cho công tác xây dựng chính sách: Muốn chính sách về trẻ em đi vào cuộc sống, phải bắt đầu từ việc hiểu đúng tiếng nói, nhu cầu và trải nghiệm của trẻ em.

img-9519-5702.jpg
Hạnh phúc trẻ thơ luôn là những điều giản dị. Ảnh: UNICEF Việt Nam

- Có ý kiến cho rằng trẻ em hiện đang thiếu những sản phẩm giải trí, văn hóa lành mạnh phù hợp với lứa tuổi. Theo bà, trách nhiệm này thuộc về ai và cần được nhìn nhận như thế nào?

- Đây là vấn đề rất đáng suy nghĩ hiện nay. Chúng ta không thể chỉ trách trẻ em dành quá nhiều thời gian cho điện thoại, mạng xã hội hay các thiết bị điện tử, khi người lớn và xã hội chưa tạo đủ điều kiện để các em được vui chơi, trải nghiệm, sáng tạo và kết nối với đời sống thực một cách tích cực. Một đứa trẻ sẽ luôn tìm đến nơi mang lại cảm giác được quan tâm, được chia sẻ và được khẳng định bản thân. Nếu thiếu sân chơi, thiếu hoạt động cộng đồng và thiếu những sản phẩm văn hóa phù hợp lứa tuổi và thiếu người lớn đồng hành thì môi trường mạng rất dễ trở thành nơi thay thế cho tuổi thơ. Khi đó, chiếc điện thoại không còn chỉ là phương tiện giải trí, mà trở thành “không gian sống” của trẻ em.

Tôi cho rằng, vấn đề sân chơi cho trẻ em không chỉ là câu chuyện văn hóa, mà còn là câu chuyện quy hoạch, ngân sách và trách nhiệm công. Khi phát triển đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất, cần tính đến không gian công cộng, sân chơi, thư viện, nhà thiếu nhi, điểm sinh hoạt cộng đồng cho trẻ em. Nếu trẻ em chỉ có nhà trọ, lớp học và màn hình điện thoại, thì rất khó nói đến một tuổi thơ lành mạnh.

Các thiết chế như nhà thiếu nhi, thư viện, trung tâm văn hóa, bảo tàng, công viên, sân chơi cộng đồng, không gian sáng tạo cần được nhìn nhận như một phần quan trọng trong hệ thống bảo vệ và phát triển trẻ em. Đó không chỉ là nơi tổ chức hoạt động vui chơi, mà còn là nơi hình thành cảm xúc, nhân cách, kỹ năng sống, năng lực giao tiếp, khả năng hợp tác và hệ giá trị cho trẻ em.

Từ thực tiễn công tác và tiếp xúc với cử tri, phụ huynh, trẻ em tại Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua, tôi càng thấy rõ áp lực của đời sống đô thị hiện đại đối với trẻ em. Ở một đô thị đặc biệt với mật độ dân cư đông, nhịp sống nhanh, số lượng con em công nhân lao động và người nhập cư rất lớn, không phải gia đình nào cũng có đủ điều kiện, thời gian và nguồn lực để đồng hành cùng con. Nhiều trẻ em thiếu sân chơi cộng đồng, thiếu điểm sinh hoạt văn hóa, thiếu không gian an toàn và phù hợp với lứa tuổi. Nếu khoảng trống đó không được bù đắp bằng các hoạt động giáo dục, trải nghiệm và văn hóa lành mạnh, thì màn hình điện thoại sẽ dần thay thế tuổi thơ của các em.

Chính vì vậy, tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XVI, tôi cũng đã nhấn mạnh rằng phát triển văn hóa phải thật sự gắn với thế hệ trẻ. Đầu tư cho văn hóa, suy cho cùng, chính là đầu tư cho con người và cho tương lai đất nước. Văn hóa không chỉ tạo ra đời sống tinh thần, mà còn góp phần hình thành bản lĩnh, nhân cách và sức đề kháng của thanh thiếu nhi trước những tác động tiêu cực của xã hội hiện đại. Theo nghĩa đó, xây dựng thiết chế văn hóa cho trẻ em hôm nay cũng chính là xây dựng một “lá chắn mềm” để bảo vệ trẻ em từ sớm, từ xa.

Thời gian tới, cần nhìn nhận lại hệ thống thiết chế văn hóa dành cho thiếu nhi theo hướng hiện đại hơn, gần trẻ em hơn và thật sự hấp dẫn trẻ em.

Bên cạnh đó, các cơ quan văn hóa, truyền thông và doanh nghiệp công nghệ cần có trách nhiệm xã hội lớn hơn trong việc xây dựng những sản phẩm văn hóa lành mạnh, giàu giá trị giáo dục, phù hợp tâm lý lứa tuổi và đủ hấp dẫn với trẻ em. Chúng ta cần nhiều hơn những sản phẩm văn hóa Việt Nam hiện đại, sáng tạo, gần gũi với trẻ em, nhưng vẫn nuôi dưỡng được tâm hồn, nhân cách, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng và niềm tự hào dân tộc.

Tôi cũng cho rằng không nên tiếp cận vấn đề bằng tư duy “cấm” trẻ em tiếp cận công nghệ. Công nghệ là xu thế không thể đảo ngược. Điều quan trọng hơn là giúp trẻ em có đủ bản lĩnh văn hóa, kỹ năng số, khả năng tự bảo vệ và môi trường phát triển lành mạnh để sử dụng công nghệ một cách tích cực, an toàn, có trách nhiệm.

Chúng ta đang nói nhiều đến chuyển đổi số, xã hội số, công dân số, nhưng điều quan trọng hơn cả là phải xây dựng được một môi trường số nhân văn, an toàn và phù hợp với sự phát triển của trẻ em”.

- Trong việc xây dựng một mùa hè an toàn, lành mạnh cho trẻ em, vai trò của chính quyền địa phương cần được phát huy ra sao?

- Chính quyền địa phương giữ vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và bảo đảm một mùa hè an toàn, lành mạnh cho trẻ em. Bởi địa phương là nơi gần trẻ em nhất, hiểu rõ điều kiện thực tế, nguy cơ và nhu cầu của trẻ em trên từng địa bàn. Một chính sách ở cấp Trung ương dù đúng và tốt đến đâu cũng chỉ có thể đi vào cuộc sống nếu được triển khai hiệu quả ở cơ sở.

Thời gian qua, Chính phủ đã nhiều lần yêu cầu các địa phương tăng cường công tác bảo vệ trẻ em trong dịp hè, nhất là phòng, chống đuối nước, tai nạn thương tích, xâm hại trẻ em và bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Tuy nhiên, điều quan trọng hiện nay là phải chuyển mạnh từ tư duy “quản lý trẻ em trong dịp hè” sang tư duy “kiến tạo môi trường phát triển an toàn, lành mạnh cho trẻ em”.

Tôi cũng cho rằng cần lắng nghe trẻ em khi xây dựng các hoạt động hè. Nhiều khi người lớn tổ chức hoạt động mà nghĩ là tốt cho trẻ, nhưng chưa chắc đã phù hợp với nhu cầu, sở thích và tâm lý của các em. Nếu trẻ em được hỏi ý kiến, được tham gia lựa chọn hoạt động, các chương trình hè sẽ hấp dẫn hơn, thiết thực hơn và thật sự thuộc về trẻ em hơn.

Một đô thị đáng sống trước hết phải là nơi trẻ em được sống an toàn và hạnh phúc. Một địa phương phát triển không chỉ được đo bằng đường sá, công trình, tốc độ tăng trưởng, mà còn phải được nhìn từ những điều rất cụ thể: Trẻ em có sân chơi hay không, có được bảo vệ khi gặp nguy cơ hay không, có nơi để đọc sách, chơi thể thao, sinh hoạt văn hóa hay không, có được lắng nghe trong những vấn đề liên quan mình hay không.

Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh là: Bảo vệ trẻ em không chỉ là ngăn ngừa tổn thương, mà là tạo dựng một môi trường để mọi trẻ em được an toàn, được tôn trọng, được phát triển toàn diện và được sống đúng với tuổi thơ của mình. Muốn trẻ em thật sự hạnh phúc, trước hết người lớn phải cho các em cảm giác được an toàn, được yêu thương và được lắng nghe.

- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của bà!

Nhiều thiết chế văn hóa dành cho thiếu nhi hiện nay chưa thật sự hấp dẫn trẻ em. Có nơi còn thiếu cơ sở vật chất, thiếu nhân lực, thiếu kinh phí hoạt động, thiếu đổi mới nội dung và phương thức tổ chức. Trong khi đó, các sản phẩm trên không gian mạng lại rất nhanh, rất hấp dẫn và liên tục thay đổi. Vì vậy, nếu các hoạt động văn hóa cho trẻ em vẫn tổ chức theo cách cũ, đơn điệu, thiếu tính trải nghiệm, thì sẽ rất khó thu hút các em.

Có thể bạn quan tâm

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.