Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam
Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Đáng chú ý, trong phần lớn câu trả lời, hạnh phúc của đứa trẻ được mô tả qua góc nhìn của người lớn là học giỏi, là đoạt giải cao, vào trường tốt, có nghề nghiệp thu nhập cao, cơ hội thăng tiến và địa vị xã hội. Cha mẹ hiếm khi hỏi con em mình: “Với con, hạnh phúc là gì?”, và thật sự lắng nghe đáp án.

Người lớn đang định nghĩa hạnh phúc của con trẻ như thế nào?

Rất nhiều phụ huynh có một niềm tin ngầm định rằng đầu tư cho tuổi thơ chính là đầu tư cho tương lai. Và rồi, chúng ta chuyển hóa tư duy đó thành một chuỗi các “bước chuẩn bị” cho thành công sau này của các em ngay khi còn nhỏ: Học tiếng Anh từ bốn tuổi, đọc sách trước khi đi học, học lập trình máy tính từ lớp một, tham gia các kỳ thi năng lực và cuộc thi dưới các hình thức khác nhau, rồi các lớp học nghệ thuật, thể thao... Mọi thứ đều được đo lường bằng điểm số, bằng chứng chỉ, bằng giải thưởng. Người lớn tin rằng khi con đạt được những thứ đó, con sẽ hạnh phúc giống như mình. Nhưng thực tế có thật sự vậy không?

Nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và sự phát triển của trẻ em vị thành niên do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thực hiện chỉ ra: Cứ bốn học sinh từ 14-15 tuổi thì có một em gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần như trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn cư xử. Ước tính có khoảng 12% đến 20% trẻ em Việt Nam có tổn thương và nhu cầu được hỗ trợ về sức khỏe tâm thần. Đó là những con số không hề nhỏ và nó phản ánh một thực tế chua xót: Chúng ta đã đầu tư rất nhiều cho tri thức, thành tích của trẻ em, nhưng lại quên mất rằng hạnh phúc của một đứa trẻ lại không được đo bằng những thứ đó.

Chúng ta sống trong một thời đại mà trẻ em chưa bao giờ có được nhiều điều kiện vật chất đến thế. Hầu hết các em được tham gia nhiều hoạt động giáo dục ở trường, được đi du lịch, được sử dụng máy tính bảng, được tham gia các lớp học năng khiếu từ piano, hội họa, bơi lội cho đến lập trình và robotics. Nhưng chính sự đầy đủ đó lại đang che khuất một thực tế: Nhiều em đang ngày càng cảm thấy cô đơn. Cô đơn, vì thiếu đi kết nối thực thụ với những người chung quanh. Khi lịch học kín đặc thay thế cho thời gian cùng gia đình, khi mọi cuộc trò chuyện giữa cha mẹ và con cái xoay quanh chủ đề điểm số và xếp hạng, giao tiếp tình thân giữa các thành viên trong gia đình mỗi buổi tối lại bị thay thế bằng những bài giáo huấn và bị cắt đứt bởi những lớp học online, các em sẽ không còn muốn giao tiếp.

Tại tọa đàm “Để trẻ em Việt lớn lên với tuổi thơ không áp lực” do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức vào tháng 3/2025, nhiều chuyên gia đã thừa nhận: Yêu cầu cao trong chương trình giảng dạy từ trường học đang tạo ra áp lực học tập lớn hơn, dẫn đến nhiều hệ lụy tiêu cực cho trẻ em, từ thể chất đến tâm thần.

Và chúng ta thấy ngày càng nhiều trẻ em có những biểu hiện căng thẳng tâm lý như mất ngủ, ăn không ngon, giận dữ, thu mình trong phòng, hoặc ngược lại, trở nên lạnh lùng, vô cảm với thế giới chung quanh. Chúng ta đã tạo ra một thế hệ trẻ em được “ăn ngon, mặc đẹp, học giỏi, hưởng thụ nhiều dịch vụ”, nhưng có lẽ chưa hề được hỏi: Các em có thật sự vui không, hạnh phúc không? Có ai còn để ý, trẻ em cần không gian để đơn giản được là mình, được chơi bóng đũa, được chạy nhảy trong không gian xanh, được thư giãn mà không cần phải hoàn thành bất kỳ nhiệm vụ nào?

Mùa hè từng là thời gian đặc biệt nhất của tuổi thơ trong ký ức thế hệ Gen X - những ngày đánh khăng, đá bóng, nhảy dây, chơi nấu ăn, đọc sách dưới bóng cây. Nhưng giờ đây, mùa hè của nhiều trẻ em thế hệ Gen Z và Gen Alpha đã “biến mất”. Các em chuyển từ lớp học này sang lớp học khác - từ Toán sang tiếng Anh, từ piano sang vẽ, từ trường học sang màn hình. Công nghệ, bên cạnh những giá trị nó mang lại, cũng đang tạo ra một thế giới ảo và bất động, song song những mối nguy trên mạng xã hội.

Theo khảo sát của UNICEF năm 2024, 86% trẻ em Việt Nam 12-13 tuổi sử dụng internet hằng ngày và con số này tại lứa tuổi 14-15 là 95% với thời lượng trung bình khoảng 6 tiếng rưỡi. Đặc biệt, độ tuổi trung bình mà trẻ em Việt Nam bắt đầu sử dụng điện thoại là chín tuổi, sớm hơn bốn năm so với trung bình toàn cầu, theo những khảo sát của Google Việt Nam năm 2023.

Quyền được sống trọn vẹn trong hiện tại

Chúng ta cũng đừng chỉ đổ tại màn hình. Hãy nhìn vào các thành phố lớn ngày nay, xem đô thị hiện tại có còn thân thiện với trẻ em không? Công viên, khu vui chơi - những không gian tự nhiên cho trẻ em vận động và giao tiếp an toàn đang ngày càng hiếm hoi. Những khoảng không được tận dụng thành khu ăn uống, trung tâm thương mại và các tòa nhà chung cư bê-tông đóng khung. Một trẻ em sinh ra và lớn lên ở đô thị ngày nay thực chất sống trong một không gian được thiết kế cho người lớn, ngột ngạt và vội vã, đặc biệt ở các đô thị trung tâm.

Nhà trường, với vai trò là môi trường ảnh hưởng quan trọng nhất đến sự phát triển tâm lý xã hội của thanh thiếu niên, cũng cần được nhìn lại. Khi nhà trường quá tập trung vào thành tích học tập, khi các em được đánh giá chủ yếu qua điểm thi, khi những hoạt động vận động, nghệ thuật, trải nghiệm văn hóa và vui chơi bị xem là “phụ” hoặc “không cần thiết”, chúng ta đang gửi cho trẻ em một thông điệp ngầm: Chỉ có thành tích mới quan trọng. Xã hội chú trọng thành tích quá mức đã tạo ra một vòng lặp áp lực: Cha mẹ truyền sự bất an cho con, con mang lo lắng đến trường, nhà trường tăng thêm yêu cầu và vòng lặp lại tiếp tục. Học sinh không được phép thất bại, không được phép “dừng lại” để nghĩ về những gì mình thật sự yêu thích.

Quyền vui chơi, giải trí lành mạnh của trẻ em được luật quy định rõ ràng, nhưng thực tế, bao nhiêu em trẻ em thật sự có thời gian vui chơi tự do mỗi ngày? Khi mọi khoảng thời gian rảnh được lập kế hoạch kín mít bởi người lớn, khi vui chơi, nghỉ ngơi trở thành thứ xa xỉ hoặc được định nghĩa là lười, khi những ngôi sao trong nhà trường lại luôn là những em có điểm cao nhất, nhiều huy chương, giải thưởng nhất thì quyền vui chơi chỉ còn là những tuyên bố trên giấy.

Quyền được nghỉ ngơi cũng tương tự. Cơ thể và tâm trí của trẻ em cần thời gian để phục hồi (đơn giản là không làm gì cả) để mơ mộng và nảy ra những ý tưởng mới. Nhưng nhiều cha mẹ vẫn lo sợ khi con “không làm gì cả”, như thể rảnh rỗi là một loại tội lỗi. Trong khi đó, những nghiên cứu về tâm lý học phát triển đã chứng minh rằng, chính những khoảnh khắc “không làm gì” mới là khoảnh khắc đầy đủ nhất để não bộ xử lý thông tin, hình thành sáng tạo và xây dựng năng lực tự quyết. Vui chơi không phải là sự lãng phí thời gian, mà là cách tự nhiên nhất để trẻ em khám phá thế giới tâm trí của chính mình.

Quyền được an toàn về tâm thần và quyền được lắng nghe là hai quyền mà xã hội chúng ta mới chầm chậm nhận ra. Một đứa trẻ cần được sống trong một môi trường không có bất an, không bị bỏ mặc, không bị so sánh với “con nhà người ta”, không bị tiếp cận với những chất liệu bạo lực, tình dục không phù hợp trên môi trường trực tuyến. Đồng thời, trẻ em cần được lắng nghe - không phải kiểu lắng nghe để phản biện, giáo huấn, mà là lắng nghe để thấu cảm, về suy nghĩ, nhu cầu, mong muốn, ước mơ, cảm xúc... Khi một đứa trẻ nói “con mệt”, hãy nghĩ rằng chúng ta đang nghe thấy một lời đề nghị trợ giúp về tâm lý.

Hành trình nuôi dưỡng một thế hệ khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần không phải là trách nhiệm của một cá nhân. Nó đòi hỏi sự chung tay của gia đình - nơi mà tình yêu thương vô điều kiện được thể hiện thông qua việc lắng nghe, tôn trọng và đồng hành cùng con; của nhà trường - nơi mà giáo dục không chỉ là truyền lại kiến thức, mà còn là nuôi dưỡng những đứa trẻ trở thành những con người tự tin, có trách nhiệm, biết yêu thương; và của xã hội - nơi mà mọi chính sách, mọi không gian công cộng đều được thiết kế thân thiện và tập trung vào sự phát triển của đứa trẻ.

Nhân Ngày Quốc tế Thiếu nhi 1/6, mỗi chúng ta hãy tự hỏi: Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa? Tôi đã để con được là chính mình chưa? Và quan trọng hơn thế, bạn có nhớ rằng, bạn cũng từng là một đứa trẻ với khát khao được sống trọn vẹn với tuổi thơ của chính mình không?

Hãy hỏi, và hành động! ■

Theo tôi, một ngôi trường hạnh phúc trước hết phải là nơi học sinh cảm thấy an toàn, được yêu thương, tôn trọng và được phát triển. Nhà trường luôn chú trọng xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, gần gũi; mỗi thầy cô giáo không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là người đồng hành, lắng nghe và chia sẻ với học sinh. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến đời sống tinh thần của các em bán trú, tạo không khí như một gia đình để các em yên tâm học tập và rèn luyện.

​

Với chúng tôi, hạnh phúc không phải là điều gì quá lớn lao, mà bắt đầu từ những việc làm giản dị mỗi ngày: một lời động viên, một tiết học tích cực, một môi trường thân thiện và một mái trường mà mỗi học sinh đều mong muốn được đến mỗi ngày.`

Cô Hoàng Thị Hậu
Phó Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú THCS Tri Lễ (Lạng Sơn)

Có thể bạn quan tâm

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Đội tuyển cầu mây nữ nhận mức đãi ngộ cao sau khi giành Huy chương vàng ASIAD 20.

Tấm lưới đỡ dưới bục huy chương

Cách đây hai năm, nguyên Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng từng trả lời phiên chất vấn Quốc hội xoay quanh tám chính sách về đào tạo, việc làm và tiền thưởng đã áp dụng trên toàn quốc đối với các vận động viên. Tới thời điểm này, đã có những chuyển đổi dần rõ nét.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.