Thương lắm muối ơi!

Khi gió chướng về cũng là lúc Bạc Liêu vào vụ muối mới. Nhìn mấy diêm dân lực điền hì hục đẩy những chiếc hủ lô to đùng làm nhẵn mặt sân chuẩn bị rước nước vào đồng ai cũng mừng vui khó tả. Nghề muối cực lắm, nhưng đã làm nghề này rồi thì khó mà dứt ra cho được khi tình người, tình muối đã hòa quyện vào nhau.
Những bông hoa muối nhen lên niềm hy vọng về một mùa bội thu.
Những bông hoa muối nhen lên niềm hy vọng về một mùa bội thu.

Khi nói đến Bạc Liêu, nhiều người nghĩ ngay đến “vương quốc” của những cánh đồng muối bạt ngàn, ngút mắt. Bởi cái địa danh “muối ba thắt” vốn một thời nổi danh khắp nam kỳ lục tỉnh. Muối Bạc Liêu không chỉ ngon, mà còn trở thành một sản phẩm giàu tính văn hóa, nó giống như cái tình, cái nghĩa của con người Bạc Liêu lúc nào cũng mặn nồng, keo sơn.

Ngon như muối Bạc Liêu

Sản xuất muối là một trong những nghề truyền thống đã có bề dày lịch sử hàng trăm năm ở vùng đất Bạc Liêu. Từ xưa, nghề làm muối ở Bạc Liêu đã giúp cho nhiều đại điền chủ nổi danh giàu “nứt vách” như: ông Hội đồng Trạch, điền chủ Huỳnh Quái… Lưu truyền rằng họ giàu đến nỗi bạc bán muối phải đem ra sân mà phơi.

So với hạt muối được sản xuất ở các tỉnh miền trung, muối Bạc Liêu không sáng trắng bằng, vì nặng tình với biển phù sa. Muối Bạc Liêu có mầu trắng hồng, hạt khô chắc và không tạp mùi. Chính đặc điểm tự nhiên này, đã tạo cho muối Bạc Liêu mang hương vị độc đáo, rất riêng. Nhiều tỉnh, thành phố muốn có món ăn ngon đều phải nhập muối Bạc Liêu về chế biến, vì chỉ có muối Bạc Liêu mới tôn thêm mùi vị, hương sắc khi ướp, khi chế biến những món đặc sản. Đơn cử món ba khía Rạch Gốc ở tỉnh Cà Mau nổi tiếng khắp trong, ngoài nước là một điển hình.

Rồi cũng chính cái riêng này mà từ rất xưa, muối Bạc Liêu được ghe bầu chở xuất bán sang tận Campuchia để muối cá, làm nước mắm, làm khô tạo nên những đặc sản ngon bán đi khắp các nước Đông Nam Á. Và cho đến nay, muối Bạc Liêu cũng là sản phẩm duy nhất ở Việt Nam được đưa vào thị trường Nhật Bản, bởi chất lượng vượt trội so các loại muối khác, đó là mặn mà không chát đắng.

Tương tự, Hàn Quốc cũng chọn hạt muối sản xuất tại quê hương của xứ công tử Bạc Liêu để làm gia vị chế biến cho món kim chi, một trong những món ăn truyền thống nổi tiếng của đất nước này mà không phải thứ gia vị nào cũng có thể chen chân vào được.

Đây là những minh chứng cho việc hạt muối Bạc Liêu đã khẳng định được thương hiệu và có vị trí nhất định trên thị trường trong, ngoài nước.

Muối Bạc Liêu không chỉ ngon, mà còn trở thành một sản phẩm giàu tính văn hóa thấm đẫm cái tình, cái nghĩa của con người Bạc Liêu.
Muối Bạc Liêu không chỉ ngon, mà còn trở thành một sản phẩm giàu tính văn hóa thấm đẫm cái tình, cái nghĩa của con người Bạc Liêu.

Thủy chung với muối

Vào những ngày đầu tháng Chạp, trên những cánh đồng muối của huyện Đông Hải và huyện Hòa Bình, không khó để bắt gặp hình ảnh thân thuộc, hàng trăm diêm dân đang tất bật cho vụ muối mới. Những dáng người cần mẫn, mặn mòi như muối vẫn lặng lẽ làm việc dưới cái nắng chang nóng bức và trên môi họ luôn nở những nụ cười sáng bóng.

Có những hôm nắng cháy đến hoa cả mắt, nóng quá diêm dân phải nhảy ùm xuống kênh đắm mình cho mát, rồi lại tiếp tục leo lên phơi mình làm việc, đến nỗi, những tấm lưng trần đen trũi ấy ánh loáng như gương. Nghề muối cực và vất vả vậy đó, nhưng chẳng mấy diêm dân nghĩ đến chuyện bỏ nghề, kể cả ngay ở những thời điểm bị những cơn mưa trái mùa làm cho những mẻ muối to đùn tan theo bọt nước, cướp mất hết tất cả thành quả của diêm dân... Nước mắt diêm dân hòa vào vị mặn của nước mưa.

Tôi còn nhớ những lời tâm sự của chú Tư Thanh, một gia đình đã bốn đời gắn bó với hạt muối. “Vì đây là nghề cha truyền con nối nên nghề muối có vất vả, cực nhọc đến đâu cũng chưa ai nghĩ đến chuyện bỏ nghề. Thậm chí, có những vụ mùa mất giá, diêm dân phải đắng lòng vác bao muối cả chục kg để đi đổi lấy một kg gạo, nhưng không hiểu sao diêm dân vẫn cứ yêu cái nghề này như một thứ tình yêu ăn sâu trong máu”, chú Tư Thanh bộc bạch.

Phải rồi, làm sao mà bỏ muối cho được bởi diêm dân đã thương cái vị mặn mà của muối nên hễ “đi xa là nhớ”. Đây cũng là lý do mà bao đời nay diêm dân dù có lao cực đến đâu vẫn cứ chung tình với muối, họ thương muối như một thứ tình yêu cuồng nhiệt mà soạn giả Ngô Hồng Khanh đã thể hiện trong bài “Biển cạn” như: “muối Long Điền mặn nghĩa thủy chung”, hay “cá kèo kho muối Bạc Liêu, lấy chồng quê biển thêm yêu Gành Hào”…

Rồi nhiều xóm làng ở xã Long Điền cũng được gọi là xóm muối, hay ấp Diêm Điền thì có đến hàng trăm hộ dân đều sống bằng nghề làm muối. Không yêu, không gắn bó với muối sao được, khi tình yêu giữa người và muối đã đi vào thơ ca và nảy nở nên thứ tình yêu mãnh liệt, rồi không biết bao nhiêu đôi trai, gái đã kết duyên thành vợ, thành chồng của từ những ngày vất vả trên đồng muối.

Hành trình của chúng tôi lại tiếp tục băng bên những sân muối vừa được diêm dân lăn bóng nhẵn. Chợt nghe đâu đó vang lên câu ca dao hào sảng “chừng nào chưa cạn Biển Đông, Bạc Liêu còn muối anh không sợ nghèo”, câu ca thoáng có chút ngậm ngùi, nhưng niềm tin vào nghề muối lại tiếp tục được thắp sáng ước mơ để diêm dân thêm yêu thương hạt muối nhiều hơn. Phải chăng, trải qua bao gian lao và nhọc nhằn của một kiếp nhân sinh mà hạt muối dường như đã thắm đẫm tình đất, tình người, khi vị mặn của giọt mồ hôi đã hòa vào hạt muối nơi đây để sản sinh ra chất keo dính chặt tình người với muối!

Và thế nên, dù khoa học-công nghệ đã phổ biến và tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất của nhiều ngành nghề, lĩnh vực, nhưng diêm dân Bạc Liêu vẫn giữ phương pháp sản xuất truyền thống. Vì với họ, làm hạt muối theo phương pháp này, muối mới ngon. Thế nên, các cánh đồng muối vẫn được cải tạo bằng cách lăn “hủ lô” làm cho sân phơi bóng láng mới tiến hành lấy nước biển vào qua hệ thống kênh thủy lợi nối thông với biển. Sau này, đồng muối đã được áp dụng và khuyến khích nhân rộng mô hình sản xuất muối trắng trên sân trải bạt. Đó là cách diêm dân dùng bạt nhựa để trải trên mặt sân phơi và sản phẩm tạo ra là muối trắng với năng suất cao hơn…

Để phát huy giá trị mang lại từ hạt muối và khuyến khích diêm dân gắn bó với nghề truyền thống, Bạc Liêu đã ban hành Kế hoạch tái cơ cấu ngành gắn với phát triển nghề muối theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Đến nay, Bạc Liêu có tổng diện tích sản xuất muối gần 15.000 ha và cho tổng sản lượng gần 80 nghìn tấn/năm.

Nghề sản xuất, chế biến muối đã và đang được xây dựng thành mô hình phục vụ cho phát triển du lịch. Bên cạnh phát triển công nghiệp chế biến muối ăn, muối xuất khẩu, Bạc Liêu còn phát triển các sản phẩm từ muối phục vụ cho y tế, nhằm góp phần nâng cao giá trị của hạt muối.

Ông Trần Văn Thưa, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Diêm Điền (huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu) phấn khởi cho hay, năm nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức festival muối ở Bạc Liêu. Nghe tin này diêm dân mừng không ngủ được vì nghề muối được tôn vinh. Nhưng điều mà diêm dân cần là sau festival, giá muối và đầu ra của hạt muối được bền vững hơn. Nghề muối ở Bạc Liêu đã được công nhận là di sản văn hóa rồi thì diêm dân phải khá, phải giàu mới đã.

Một mùa xuân mới lại về và sắc xuân như tràn ngập trên những cánh đồng bạt ngàn ánh bạc. Những bông hoa muối bung nở lấp lánh dưới nắng xuân như hứa hẹn một vụ bội thu và diêm dân chắc chắn sẽ giàu lên từ hạt muối.

Diêm dân Bạc Liêu vẫn giữ phương pháp sản xuất truyền thống, vì với họ, chỉ như vậy hạt muối mới ngon, mới bóng đẹp.

Diêm dân Bạc Liêu vẫn giữ phương pháp sản xuất truyền thống, vì với họ, chỉ như vậy hạt muối mới ngon, mới bóng đẹp.

Có thể bạn quan tâm

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp trầm lắng của Trí Nguyên giúp hòn đảo này được nhiều người yêu thích. Ảnh: HÀ ĐẠO

Lặng trầm Trí Nguyên

Trong các đảo ở vịnh Nha Trang, Trí Nguyên chỉ cách đất liền hơn một cây số, song hòn đảo nhỏ bình yên, giản dị này chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Mặc dù hoạt động du lịch đang phát triển, nhưng người dân vẫn mong gìn giữ lối ứng xử nền nã, cuộc sống bình dị và khung cảnh ôn hòa mà thiên nhiên ban tặng.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.

Trung tâm huyện Đạ Huoai, nơi có nhiều người dân Huế lập cư.

Một vùng quê Huế trên đất nam Tây Nguyên

Trong rất nhiều chương trình di dân sau ngày thống nhất đất nước, có câu chuyện về một vùng quê mới của người xứ Huế, được lập ra từ gần nửa thế kỷ trước. Vùng quê ấy xưa gọi là khu kinh tế mới Hương Lâm, nay thuộc xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai-vùng đất phía nam Lâm Đồng…