Kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2025): Mặt trận "không đánh mà thắng"

Kỳ 3: Những bài học sâu sắc, còn nguyên giá trị thời sự và thời đại

(Tiếp theo và hết)

“Đã nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những bài học mà hoạt động binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự, sâu sắc và cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay” - PGS, TS Hồ Sơn Đài, giảng viên cao cấp, khoa Lịch sử, Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với chúng tôi về những điều cần tiếp tục thực hiện để có thể xác định chính xác tầm vóc, ý nghĩa lớn lao của “mũi tiến công chiến lược” - binh vận.

Trong ảnh: Nhân dân miền nam tham gia đấu tranh với Mỹ-ngụy trong Phong trào Đồng khởi. (Ảnh Tư liệu)
Trong ảnh: Nhân dân miền nam tham gia đấu tranh với Mỹ-ngụy trong Phong trào Đồng khởi. (Ảnh Tư liệu)

Đứng giữa ranh giới của hai làn đạn

- Thưa ông, là một chuyên gia nghiên cứu sâu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở khu vực phía nam, ông có thể phác họa một số nét chính về hoạt động binh vận trong giai đoạn đặc biệt này?

- Trong lịch sử các cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc, cha ông ta đã luôn thực hiện song song đòn tiến công quân sự, chính trị với binh vận, phương thức tác động tâm lý đối phương để thực hiện nhiệm vụ chính trị của lực lượng kháng chiến. Một thí dụ trong thế kỷ XV, người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi thực hiện cực kỳ xuất sắc mũi tiến công binh vận trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân ta đã tiếp nối truyền thống sáng tạo và đặc biệt nhân văn đó. Dấu mốc khẳng định vị trí “đòn tiến công chiến lược” của hoạt động binh vận được ghi nhận là từ phong trào Đồng Khởi, năm 1960. Tuy nhiên, thực tế, hoạt động binh vận, theo nghiên cứu của tôi, đã bắt đầu từ cuối năm 1956, với việc hỗ trợ các lực lượng vũ trang của các giáo phái bị chính quyền Ngô Đình Diệm truy sát, phải chạy vào vùng chiến khu của lực lượng Cách mạng. Bằng sự giúp đỡ chí tình cùng việc tuyên truyền, giải thích đường lối, chính sách của Đảng, giải thích bản chất âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, các chiến sĩ cách mạng đã cảm hóa được lực lượng này, đưa họ trở thành một bộ phận của lực lượng vũ trang cách mạng.

Bên cạnh một bộ phận cán bộ được phân công chịu trách nhiệm chính triển khai công tác binh vận, tất cả các lực lượng cách mạng từ hoạt động phong trào đến lực lượng vũ trang đều chú trọng thực hiện nội dung công tác binh vận. Đó là một trong ba “đòn tiến công chiến lược” được Đảng ta xác định: Đấu tranh chính trị, Đấu tranh quân sự và Đấu tranh binh vận. Ba mũi tiến công này được thực hiện xuyên suốt, gắn bó với nhau một cách hữu cơ, mũi này hỗ trợ cho mũi kia, cho đến ngày miền nam hoàn toàn giải phóng.

Đại tá,PGS,TS Hồ Sơn Đài (người ngồi bên trái) nguyên là Trưởng phòng Khoa học quân sự, Quân khu 7.
Đại tá,PGS,TS Hồ Sơn Đài (người ngồi bên trái) nguyên là Trưởng phòng Khoa học quân sự, Quân khu 7.

- Một “mũi tiến công” được thực hiện bởi tất cả các lực lượng cách mạng, hẳn phải có rất nhiều phương thức triển khai sáng tạo và độc đáo?

- Có ngàn vạn biện pháp để thực hiện, vô cùng sinh động trong thực tiễn của cuộc đấu tranh chống Mỹ ở miền nam Việt Nam. Thí dụ, ở vùng nông thôn, ta tổ chức cho những thân nhân của sĩ quan, binh lính quân đội Việt Nam Cộng hoà tìm đến nơi đóng quân để vận động, kêu gọi, giải thích - cách này rất hiệu quả. Nhiều nơi tìm cách đưa người vào các hệ thống thông tin truyền thông như báo chí, đài phát thanh để tuyên truyền, khơi gợi tinh thần yêu nước, thương dân qua các tác phẩm báo chí, vănhọc-nghệ thuật...; đưa người vào hệ thống giáo dục để giáo dục tinh thần yêu nước cho học sinh trong các nhà trường. Có những ngôi trường mà từ Ban giám hiệu cho đến các thầy, cô đều là người cách mạng, như Trường Văn Lương (thị trấn Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu). Ngoài việc dạy các nội dung kiến thức phổ thông, các thầy, cô ở ngôi trường này đã truyền dạy cho học sinh về tinh thần yêu nước, kháng chiến. Sau 7 khóa đào tạo, do tình hình cách mạng có nhiều thay đổi, trường đóng cửa, một số giáo viên ưu tú bị địch bắt, phải chịu cảnh tù đày. Sau này, Trường Văn Lương đã được Nhà nước ta phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Vô cùng, vô cùng nhiều, hết sức phong phú, sinh động và sáng tạo.

- Như ông vừa nói, công tác binh vận rất đa dạng và lực lượng nào cũng có thể thực hiện, nhưng tôi muốn nhắc đến những người thuộc bộ phận chịu trách nhiệm chính triển khai công tác này. Họ là những người phải đối diện với lực lượng quân thù, đúng nghĩa là đứng ngay trước hòn tên mũi đạn mà chỉ có vũ khí duy nhất là tinh thần cách mạng, tình yêu nước, thương nòi cùng sự chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ cách mạng được giao. Vậy thì theo ông, điều gì đã khiến họ dồn hết mọi tâm sức, mang cả tính mạng mình để thực hiện nhiệm vụ đặc biệt đó?

- Ai là người yêu nước thì đều muốn đứng về phía nhân dân, đứng về phía cách mạng và trong những điều kiện có thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, hoặc được giao nhiệm vụ hoặc một cách tự nhiên trong máu của mình, họ đều làm công tác binh vận.

Đúng như bạn vừa nói, để thực hiện công tác binh vận thì những người làm công tác binh vận được bố trí vào những vị trí thường là không an toàn, bởi vậy, khi tổ chức cách mạng chọn những người được phân công làm công tác binh vận thường chú trọng những người có một số phẩm chất phù hợp. Trước hết, họ có năng lực cảm hóa người khác. Thứ hai, họ là những cán bộ rất kiên trung, dũng cảm. Các cán bộ được chọn lựa cho công tác này đều sẵn sàng chấp nhận hy sinh, khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Khác với nhiều lực lượng cách mạng khác phải chịu gian khổ, hy sinh trên chiến trường, những người làm công tác binh vận lại phải chịu sự đánh giá không công bằng của người dân, thậm chí ngay cả đồng chí, đồng đội, do yêu cầu bí mật của hình thức hoạt động công khai này. Tức là họ phải chấp nhận đứng giữa ranh giới của hai làn đạn.

Muộn còn hơn không

- Ở dấu mốc kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, vượt lên cả câu chuyện của chiến thắng, công tác binh vận, góc độ nào đó, có vị trí như một lực lượng góp phần tích cực vào sự hòa hợp, hòa giải dân tộc, phần nào xóa mờ những vết thương ngang trái của chiến tranh? Ông có nghĩ như vậy?

- Khi nói về bất cứ một cuộc chiến tranh giữ nước trong lịch sử Việt Nam nói chung và lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói riêng thì người ta thường nhắc đến những chiến công quân sự, nói nhiều về các hoạt động đấu tranh chính trị mà ít nói đến hoạt động của lực lượng binh vận và mũi binh vận. Từ những nghiên cứu đã có, tôi cho rằng, trong thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoạt động binh vận giữ một vai trò vô cùng quan trọng, được đánh giá như một đòn tiến công chiến lược có tầm quan trọng ngang với đấu tranh chính trị và đấu tranh quân sự.

Tuy vậy, những người hoạt động trên trận tuyến đấu tranh binh vận chưa được nói đến nhiều, và có không ít trường hợp vì đặc thù của công việc mà không được vinh danh một cách công khai cũng như thực hiện công tác đền ơn đáp nghĩa một cách đầy đủ.

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã khép lại cách đây nửa thế kỷ nhưng những bài học mà nó để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự sâu sắc, nóng hổi, cần được nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Các lĩnh vực đấu tranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, đấu tranh quân sự đã được chú trọng tổng kết, với rất nhiều công trình nghiên cứu công phu, đồ sộ. Nhưng, như tôi vừa nêu, công tác tổng kết về hoạt động binh vận dù đã được thực hiện vẫn còn chưa xứng tầm, và do đó, tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải chú ý đến lĩnh vực này nhiều hơn, cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ, hệ thống hơn về hoạt động binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

- Liệu đã muộn chưa, đối với binh vận, thưa ông? Khi mà 50 năm đã trôi qua, rất nhiều cán bộ, nhân chứng đã ra đi mãi mãi, mang theo rất nhiều ký ức lịch sử không còn có cơ hội để kể?

- Nói muộn cũng đúng, nhưng muộn còn hơn không. Cần phải bắt tay vào làm ngay, khi vẫn còn có thể tìm kiếm được một số nhân chứng lịch sử còn lưu giữ nhiều ký ức giá trị. Phải triển khai khẩn trương, nhanh chóng, tập hợp tất cả những người trong cuộc lại và chắt lọc, sàng kiếm những tư liệu ít ỏi trong các trung tâm lưu trữ để thực hiện các công trình tổng kết về hoạt động binh vận trong kháng chiến chống Mỹ.

- Xin trân trọng cảm ơn những chia sẻ của ông!

Kỳ 2: Những con đường "không giống ai" của tình yêu đất nước

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Người dân luôn phải đối mặt tình trạng được mùa mất giá. Ảnh: THANH SANG

Trăn trở vùng xoài

Nhiều xóm làng yên bình ở các xã Cam Lâm, Suối Dầu… được bao bọc bởi sự mát xanh của những vườn xoài. Từ nhiều năm nay, xoài là thứ quả ngọt ngào mang dấu ấn riêng khi nhắc đến Khánh Hòa, nhưng hiện nay việc tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nông dân.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp trầm lắng của Trí Nguyên giúp hòn đảo này được nhiều người yêu thích. Ảnh: HÀ ĐẠO

Lặng trầm Trí Nguyên

Trong các đảo ở vịnh Nha Trang, Trí Nguyên chỉ cách đất liền hơn một cây số, song hòn đảo nhỏ bình yên, giản dị này chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Mặc dù hoạt động du lịch đang phát triển, nhưng người dân vẫn mong gìn giữ lối ứng xử nền nã, cuộc sống bình dị và khung cảnh ôn hòa mà thiên nhiên ban tặng.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.