Tạc vào đá con đường Hạnh Phúc

Mùa xuân năm 1961, trong bài thơ mừng năm mới gửi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Mừng Việt Nam, mừng thế giới!/ Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh”. Đó là mùa xuân đầu tiên chúng ta thực hiện Nghị quyết Đại hội III (tháng 9/1960) của Đảng.
Những nhát búa phá đá mở đường, xuyên núi Xéo Sảng Lủng năm ấy. (Ảnh NVCC)
Những nhát búa phá đá mở đường, xuyên núi Xéo Sảng Lủng năm ấy. (Ảnh NVCC)

Thời điểm đó, phía đỉnh trời Đông Bắc, tiếng quai đá vẫn đang dồn dập vang lên - cuộc ra quân thực thụ của hơn 2.000 thanh niên xung phong và dân công, cuộc “trường chinh” kéo dài hai triệu ngày công, mở tuyến đường xuyên cao nguyên đá, hay được gọi là tuyến đường Hạnh Phúc.

Theo lời Bác gọi

Ngày 10/9/1959, con đường nối từ cầu Gạc Đì (nay là cầu Phong Quang), qua các huyện Quản Bạ, Yên Minh và tới Đồng Văn chính thức khởi công. Trước đó, Hà Giang chỉ có tuyến Quốc lộ 2 là xe cơ giới đi được.

Trong kế hoạch ban đầu, việc chinh phục cao nguyên đá sẽ do Hà Giang “tự lực cánh sinh”. Chỉ thị số 10 của Khu ủy Việt Bắc ghi: “Chủ yếu là tranh thủ khai thông tới Đồng Văn trong một thời gian tương đối ngắn độ 2-3 năm, cho xe vận tải loại trung bình... Trách nhiệm chính làm con đường này là tỉnh. Toàn bộ công giao nhân dân địa phương để thực hiện”.

Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, khó khăn đã mở ra: Phía đầu con đường từ cầu Gạc Đì bị chắn bởi vách đá lớn, sức dân công không thể làm trong ngày một ngày hai. Lực lượng dân công phải bắt đầu công việc tại Km10. Cố Bí thư Tỉnh ủy Hà Tuyên Phạm Đình Dy, khi đó là Ty trưởng Ty Giao thông Hà Giang, Tổng công trình sư đường Hạnh Phúc từng kể: “Khi ấy, Thường vụ Khu ủy Việt Bắc Thanh Phong đã đề xuất luôn: Hà Giang cáng đáng việc này một mình hơi khó. Các anh lo dân công, tôi đảm nhiệm vận động thanh niên xung phong Khu tự trị Việt Bắc”. Tháng 6/1960, lực lượng thanh niên xung phong từ sáu tỉnh Việt Bắc được chia thành sáu C, gồm C-Thái Nguyên, C-Bắc Kạn, C-Cao Bằng, C-Tuyên Quang, C-Lạng Sơn, C-Hà Giang lên đến công trường. Sau này, đoạn Đồng Văn-Mèo Vạc qua Mã Pì Lèng có thêm sự góp mặt của các đoàn Nam Định, Hải Dương.

Ông Hứa Văn Chử, Phó Ban chỉ huy công trường, Bí thư Đoàn Công trường, từng kể rằng, lúc vận động cũng có người đi rồi bỏ trốn. Nên, “những người ở lại, đều là tinh thần thép cả”. Bà Nguyễn Thị Liên, dân tộc Tày, người Yên Minh, dân công nhớ lại: “Lúc đó mình còn trẻ, nghe Đảng và Bác Hồ kêu gọi là mình đi. Nếu sợ khổ, không ai ký vào đơn xin đi làm đường đâu!”. Còn với ông Trần Anh Tuấn, là người Nam Định: “Mình đi ngay, vì nghĩ: Phải vì Hà Giang, vì mảnh đất biên cương”. Ông Nguyễn Văn Toan, một thanh niên xung phong quê Nam Định cũng khẳng định: “Thanh niên chúng tôi đi theo tiếng gọi Bác Hồ, của Đảng, xung phong lên đây thôi”.

Đặc biệt nhất, năm 1963, tuyến đường Hà Giang-Đồng Văn hoàn thành sớm một năm so với dự tính, kế hoạch mở tiếp đường qua Mã Pì Lèng sang Mèo Vạc được thông qua. Trong một buổi sáng, hơn 100 thanh niên xung phong đã tình nguyện tham gia đội Thanh niên dũng cảm (còn gọi là đội Cơ dũng). Theo lời ông Tuấn: “Đội Cơ dũng lúc đó là những người cao to, sức khỏe dạn dầy. Không chóng mặt, ù tai, hoa mắt. Phải tình nguyện và không sợ chết”. Ông Tuấn ví von đội Cơ dũng là những cảm tử quân xung trận, cầm chắc cái chết trong tay cũng phải tiến lên. Ông Nguyễn Sĩ Quốc, Đội trưởng đội Cơ dũng, lên công trường lúc chưa đầy 16 tuổi. Ông khai thêm tuổi để được tham gia cùng các anh chị. Cũng chính ông là gương mặt đầu tiên được chọn trong đội Cơ dũng: “Sợ cũng phải làm, chết cũng phải làm. Phải hoàn thành nhiệm vụ”.

Có thêm “viện binh”, tuyến đường quốc lộ nhanh chóng thấy rõ hình hài. Đầu năm 1960, tuyến cầu Gạc Đì- Bắc Sum hoàn thành. Trong năm 1960, đoạn Bắc Sum - Quản Bạ làm lễ thông xe. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc thông tin về lễ thông xe trên báo, đã quyết định tặng các thanh niên xung phong và dân công 50 Huy hiệu Bác Hồ. Giữa năm 1960, ông Hứa Văn Chử đại diện cho cả công trường lên Phủ Chủ tịch lĩnh 50 huy hiệu. “Tôi lên mà chẳng cần giấy tờ gì cả. Anh Phạm Ngân, Phó Chánh Văn phòng Chính phủ, hỏi tôi ở đâu, tôi nói ở Hà Giang, vậy là anh ấy đưa tôi 50 Huy hiệu Bác Hồ”, ông Hứa Văn Chử kể. Tới lễ thông xe lần thứ ba ở Yên Minh thì 50 huy hiệu mới phát hết cho các đơn vị, cá nhân xuất sắc.

Những ngày trên công trường, không khí thi đua rất rộn ràng. Ông Hứa Văn Chử hồi tưởng: Lúc đó, “Chỗ khó nhất là Cao Bằng”. Giai đoạn thi công đoạn Bắc Sum lên Quản Bạ cũng là thời điểm nhiều sáng kiến ra đời. C-Cao Bằng-Lạng Sơn nghĩ ra cách dùng gỗ, gắn bát làm tay cầm để kéo đất đá. Nhờ vậy mà việc kéo đất giải phóng đường nhanh hơn, so với việc dùng xẻng xúc. Dân công thì hiến kế xếp đá làm kè. Năm 1960, một dân công tên Thứ, đã cùng với ông Đỗ Văn Long, cán bộ phòng kỹ thuật công trường nhận bằng khen cho sáng kiến làm “xe ki” từ nứa, lạt, gỗ... để tăng hiệu suất đổ đất.

Tháng 3/1961, Bác Hồ lên thăm Hà Giang. Trong cuộc nói chuyện với đồng bào Hà Giang, ngày 27/3/1961, Bác tuyên dương: “Bác khen ngợi các cháu thanh niên sáu tỉnh Việt Bắc xung phong lên đắp con đường Hà Giang - Đồng Văn. Mong các cháu thi đua hoàn thành cho thật tốt nhiệm vụ đó”.

Điều làm nên hạnh phúc

Khi tiến hành khai thác thuộc địa, người Pháp cũng đã từng lên kế hoạch mở đường Hà Giang, nhưng họ chưa từng thành công. Vì thế, kế hoạch làm đường lúc đầu chìm trong hoài nghi. “Bọn phỉ nó nói nếu Chính phủ làm được đường, nó lấy đầu làm chân đi”, ông Hứa Văn Chử cười.

Nhưng sáu năm ấy, hơn 2.000 thanh niên xung phong và dân công đã làm nên kỳ tích, vượt tiến độ đoạn Hà Giang-Đồng Văn tới hơn một năm, tiếp đó là “chiến công” hạ Mã Pì Lèng trong 11 tháng. Nói như ông Phạm Đình Dy, con đường đó là biểu tượng khắc họa bàn tay, khối óc, tinh thần đoàn kết của con người Việt Nam.

Ông Chử tự hào: Giấy vào Đảng, vào Đoàn của thanh niên xung phong công trường, hầu hết, đều do ông ký. “Khi bắt đầu, công trường không có đảng viên nào. Nhưng rất nhanh, tất cả đơn vị đều có đảng viên, chi bộ hết”, nguyên Bí thư Chi đoàn công trường chia sẻ niềm vui.

Ngày lên công trường, ông Hoàng Văn Hộ (C-Lạng Sơn) không biết chữ. Công trường có giáo viên dạy học, mỗi ngày học một ít. Rời công trường, cả 20 người C-Lạng Sơn đều biết đọc, biết viết, biết khai căn, thậm chí... tra được logarit. Giữa công trường, nhiều tình yêu nảy nở, nhiều gia đình nên duyên, nhiều đứa trẻ ra đời. Đó cũng là những niềm hạnh phúc không thể đong đếm, trên mỗi cung đường.

Treo người phá núi, trên dốc Mã Pì Lèng. (Ảnh NVCC)

Treo người phá núi, trên dốc Mã Pì Lèng. (Ảnh NVCC)

Thêm nhiều Hạnh Phúc

Năm 1963, tuyến Hà Giang-Đồng Văn thông xe, những chuyến xe ô-tô đầu tiên đến thị trấn Đồng Văn. Năm 1964, thanh niên xung phong “hạ Mã Pì Lèng”. Đến năm 1965, xe ô-tô đã đến được trung tâm huyện Mèo Vạc.

Sau Hạnh Phúc, nhiều tuyến đường tiếp tục hoàn thành. Ngày 12/1/1978, con đường từ Ma Lé vào Lũng Cú (Đồng Văn) hoàn thiện. Lần đầu tiên, lá cờ Tổ quốc tung bay trên đỉnh núi Rồng, nơi dựng cột cờ Lũng Cũ - cột mốc cực bắc Tổ quốc - sau này.

Báo cáo tổng kết năm 1960 của Công trường Đồng Văn ghi: “Tất cả những sự cống hiến sức người, sức của, họ (nhân dân) nói lên lòng biết ơn sâu sắc Đảng và Chính phủ, biết ơn những bàn tay lao động của bao thanh niên và công nhân các tỉnh đã không quản khó khăn góp phần xây dựng con đường lịch sử mà hàng nghìn năm họ đã mơ ước. Nó là con đường Xã hội Chủ nghĩa, con đường hạnh phúc”. Từ năm 1961, con đường mang tên Hạnh Phúc tới ngày nay.

Đó cũng là lần đầu, ô-tô vào tận Lũng Cú. Đoàn xe 36 chiếc từ các tỉnh đỗ kín con đường, hết cả vòng cua. Cùng với đó là những tuyến đường liên xã tưởng không thể chinh phục, cũng đều lần lượt thông xe: 15 km đoạn Sà Phin lên Ma Lé ở Đồng Văn, sau đó là tuyến cầu Tràng Hương-Sơn Vĩ ở Mèo Vạc, đường Yên Minh-Bạch Đích... Phần nhiều trong số đó là dân công thực hiện, cũng có phần của những thanh niên xung phong, khi hoàn thành con đường đã chọn ở lại, tiếp tục dựng xây Hà Giang.

Năm 2019, tuyến đường Cán Tỷ (Quản Bạ)-Lao Và Chải (Yên Minh) thông xe. Đó chính là tuyến đường ngựa đi năm xưa qua cổng thành Quản Bạ, mà vì hạn chế kỹ thuật, đường Hạnh Phúc không thể chinh phục. Có đường, có điện, cực bắc không còn xa xôi nữa. Bà Dương Thị Hà (C-Bắc Kạn) nghẹn ngào: “Bao nhiêu năm mới đi lại đường Hạnh Phúc. Lúc xuống Yên Minh, nước mắt nó cứ chảy ra thế này”.

“Bây giờ dân sinh dễ dàng so với trước lắm rồi”, bà Triệu Thị Dần (C-Bắc Kạn) cảm thán. Ông Nguyễn Văn Toan (C-Nam Định) thì thấy: Từ ngày có đường Hạnh Phúc, Hà Giang thay đổi “một nghìn phần trăm”, so những cảnh vất vả, thiếu thốn trong ký ức chung.

Ông Nguyễn Sĩ Quốc, người Đội trưởng đội Cơ dũng năm xưa chưa bao giờ có mặt trong bất cứ cuộc vinh danh nào. Nhưng nhiều năm sau, ông vẫn nhớ ở Hà Giang có đường Hạnh Phúc, vẫn nói về những con dốc 12 khúc quanh, những vách đá, những đêm lạnh thấu xương, trong hồi ức đứt quãng. Hai người con, ông đặt tên là Việt và Nam. Con ông kể, “bố nói: Đó là lịch sử!”.

Với ông Hoàng Văn Hộ (C-Lạng Sơn), điều “day dứt” nhất chính là câu nói của liệt sĩ Lương Quốc Chanh - liệt sĩ trẻ nhất trên tuyến đường - trước khi nhắm mắt: “Sau này có ai còn nhớ chúng tôi không?”. “Chúng tôi nhắc lại với các anh là vẫn nhớ. Con đường mà chúng ta đã làm, đã đi vào dĩ vãng lâu rồi, nay được ghi nhận. Như vậy là Đảng, Nhà nước và nhân dân vẫn biết đến chúng ta. Hơn tám vạn đồng bào Yên Minh, Đồng Văn, Quản Bạ trên con đường này biết chúng ta”, ông Hộ ngậm ngùi.

Có thể bạn quan tâm

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp trầm lắng của Trí Nguyên giúp hòn đảo này được nhiều người yêu thích. Ảnh: HÀ ĐẠO

Lặng trầm Trí Nguyên

Trong các đảo ở vịnh Nha Trang, Trí Nguyên chỉ cách đất liền hơn một cây số, song hòn đảo nhỏ bình yên, giản dị này chưa bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hóa. Mặc dù hoạt động du lịch đang phát triển, nhưng người dân vẫn mong gìn giữ lối ứng xử nền nã, cuộc sống bình dị và khung cảnh ôn hòa mà thiên nhiên ban tặng.

Những “bà thím” vốn tự ti nay đã tự tin giới thiệu, chia sẻ kinh nghiệm làm du lịch. Ảnh: Hợp tác xã du lịch cộng đồng Gò Cỏ

Lời của đá

Là vùng lõi của Văn hóa Sa Huỳnh - một trong ba nền văn minh cổ lớn của nước ta với niên đại hơn 2.500 năm - làng di sản Gò Cỏ (phường Sa Huỳnh, tỉnh Quảng Ngãi) mang một bí mật không được viết thành chữ,...

Hai kiện tướng Phạm Quang Thành (trái) và Đinh Đức Huy chia sẻ về nghề lái tàu. Ảnh: Diên Khánh

Tinh thần thép của tài xế hỏa xa

Người lái tàu được giao sứ mệnh là những người “cầm cương”, giúp cho mỗi hành trình dù gần hay xa được an toàn. Ngoài kinh nghiệm, sự tinh nhạy, họ phải có tinh thần thép để đối mặt với nhiều tình huống khẩn cấp.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Đền thờ Nguyễn Hữu Cảnh - nơi lưu dấu người đi mở cõi. (Ảnh: HÀ ANH CHIẾN)

Thành phố phía đông

Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, trong chương trình làm việc, Quốc hội cho ý kiến để tỉnh Đồng Nai trở thành thành phố Đồng Nai. Đây là một cột mốc rất quan trọng, đáng nhớ của đất và người Đồng Nai khi hội đủ các yếu tố trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.

Trung tâm huyện Đạ Huoai, nơi có nhiều người dân Huế lập cư.

Một vùng quê Huế trên đất nam Tây Nguyên

Trong rất nhiều chương trình di dân sau ngày thống nhất đất nước, có câu chuyện về một vùng quê mới của người xứ Huế, được lập ra từ gần nửa thế kỷ trước. Vùng quê ấy xưa gọi là khu kinh tế mới Hương Lâm, nay thuộc xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai-vùng đất phía nam Lâm Đồng…

Lễ Thượng cờ tại Cột cờ A Pa Chải. (Ảnh Xuân Tư)

Vẹn nguyên tinh thần, ý chí Điện Biên

Tháng 5, từng con đường, ngõ phố trong thành phố Điện Biên Phủ lại kiêu hãnh thắp lên màu đỏ chói ngời của Quốc kỳ, của những biểu ngữ như hối giục người muôn phương tìm về nơi đây. Về với mảnh đất Điện Biên, về để thăm chiến trường xưa và cả những công trình mới, về để mỗi người con nước Việt cảm nhận sự chuyển mình mạnh mẽ của thành phố trẻ…
Trong ảnh: Nhân dân miền nam tham gia đấu tranh với Mỹ-ngụy trong Phong trào Đồng khởi. (Ảnh Tư liệu)

Kỳ 3: Những bài học sâu sắc, còn nguyên giá trị thời sự và thời đại

(Tiếp theo và hết)

“Đã nửa thế kỷ trôi qua, nhưng những bài học mà hoạt động binh vận trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước để lại vẫn còn nguyên giá trị thời sự, sâu sắc và cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay” - PGS, TS Hồ Sơn Đài, giảng viên cao cấp, khoa Lịch sử, Trường đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định như vậy trong cuộc trao đổi với chúng tôi về những điều cần tiếp tục thực hiện để có thể xác định chính xác tầm vóc, ý nghĩa lớn lao của “mũi tiến công chiến lược” - binh vận.

Hai cán bộ của Ban Binh vận đặc khu Sài Gòn- Gia Định: Ông Lê Quang Đức (người ngồi) và ông Cao Đức Trường (người đứng).

Kỳ 2: Những con đường “không giống ai” của tình yêu đất nước

Khác với hầu hết các lực lượng cách mạng cùng tham gia chiến đấu giành lại hoà bình, độc lập cho dân tộc, những cán bộ làm công tác binh vận phải nhận về mình rất nhiều nguy hiểm, thiệt thòi, khi luôn phải sống “hai mặt”, che giấu thân phận thật sự của mình, trong khi tìm mọi cách để cảm hoá, vận động các đối tượng binh sĩ ngụy quyền trở về với chính nghĩa, với dân tộc…
Sau khi ném bom dinh Độc Lập, phi công Nguyễn Thành Trung đã lái máy bay F5E hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long. Ảnh tư liệu

Mặt trận “không đánh mà thắng"

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: Đánh mà thắng địch là giỏi, không đánh mà thắng càng giỏi hơn. Không đánh mà thắng là nhờ địch vận. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, truyền thống "tâm công" (đánh vào lòng người) của các bậc tiền nhân đã được Đảng Lao động Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới và được quân và dân ta sử dụng như một thứ vũ khí sắc bén để tạo nên sức mạnh tổng hợp, áp đảo, đập tan mọi sự kháng cự của kẻ địch.

Ông Kuznetsov (bìa phải) và tác giả.

Từ Bí thư Tỉnh đoàn Komsomol đến ông chủ công ty cá tầm Thung Lũng Nắng

Ông Lê Khắc Nghị, một cựu cán bộ ngoại giao đã kết nối tôi với Gennady Kuznetsov, người bạn Nga có tính cách thâm trầm, giản dị và dễ mến. Thế rồi, chúng tôi đã có cuộc thăm viếng và trao đổi cởi mở. Câu chuyện mà tôi muốn kể dưới đây là một phần nhỏ trong hành trình cuộc đời của người đàn ông đến từ nước Nga xa xôi. Bởi biến động chính trị, Liên bang Xô Viết sụp đổ đã tạo nên bước ngoặt cuộc đời của Kuznetsov. Từ một Bí thư Tỉnh đoàn Thanh niên cộng sản Lênin (Komsomol), một cán bộ của Tỉnh ủy Magadan, anh trở thành ông chủ của Công ty cá tầm Thung Lũng Nắng giữa vùng rừng núi thuộc xã Đạ Sar (Lạc Dương, Lâm Đồng). Câu chuyện của chúng tôi không bắt đầu từ những con cá hay những lô sản phẩm trứng cá tầm cao cấp mà về một miền ký ức xưa cũ, những hoài niệm rừng rực, miên man trong tâm hồn người đàn ông Nga sinh năm 1957. Kuznetsov đã có một tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, sôi nổi và thật giàu ý nghĩa. Với giọng trầm buồn, anh nói với tôi, đó là quãng thời gian đẹp nhất, đáng nhớ nhất trong cuộc đời mình.
Cựu chiến binh Nguyễn Đình Quốc kể về những năm tháng gian lao nhưng vô cùng anh dũng. Ảnh: LƯU XA

Những người kể chuyện hòa bình

Không chỉ kiên cường trong chiến đấu, nhóm cựu chiến binh bị địch bắt tù đày, trở về đời thường vẫn mang tinh thần bất khuất của người lính, không ngại gian khó. Các ông dày công xây dựng Bảo tàng Chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày, biến nơi đây thành “địa chỉ đỏ” tri ân các đồng đội đã ngã xuống, đồng thời lan tỏa lòng yêu nước và giá trị của hòa bình cho các thế hệ sau.
Lớp học mầm non ở buôn Ka Ming. (Ảnh: Uông Thái Biểu)

Đất giàu, đất học Ka Ming

Ngày trước buôn Ka Ming thuộc xã Gung Ré, nay là một trong những khu phố của thị trấn Di Linh (huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng). Với 100% dân số là đồng bào dân tộc Cơ Ho thuộc nhánh Srê, buôn làng này thật sự là một vùng đất lành, đất giàu và đặc biệt là đất học nổi tiếng trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên.