Thiết lập nền hành chính với tư duy số

Năm 2026 đánh dấu bước chuyển quan trọng của nền hành chính Việt Nam khi mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành đầy đủ, đồng thời dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã được tập trung trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Đây không chỉ là sự thay đổi về hạ tầng công nghệ, mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách bộ máy và tư duy quản trị.

Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt
Chuyển đổi số chỉ thành công khi người dân cảm nhận được nền hành chính đơn giản hơn, minh bạch hơn và phục vụ tốt hơn. Ảnh: Thành Đạt

“Các cơ quan, địa phương phải xác định việc xây dựng, cập nhật, làm sạch và quản trị dữ liệu là trách nhiệm chính trị của mình, không phải là nhiệm vụ riêng của cơ quan chuyên trách công nghệ thông tin. Từ nay đến hết năm 2026, tập trung tổng rà soát, làm sạch, chuẩn hóa, kết nối và tổ chức khai thác dữ liệu trong toàn hệ thống chính trị. Các bộ, ngành khẩn trương hoàn thành việc tạo lập, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; kết nối, chia sẻ với Trung tâm Dữ liệu quốc gia để khai thác, dùng chung theo quy định; ưu tiên phát triển, sử dụng hạ tầng số và nền tảng số dùng chung, hạn chế đầu tư riêng lẻ, trùng lặp, lãng phí”.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ đạo tại Phiên họp chuyên đề về chuyển đổi số trong hệ thống chính trị.

Bước sang giai đoạn “thay đổi cách quản trị”

Những năm trước, chuyển đổi số chủ yếu tập trung xây dựng hạ tầng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và mở rộng các dịch vụ công trực tuyến. Từ ngày 1/1/2026, việc tập trung toàn bộ dịch vụ công trực tuyến cấp tỉnh, cấp xã lên Cổng Dịch vụ công quốc gia cùng với việc vận hành đầy đủ mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã đưa quá trình này bước sang một giai đoạn mới: Chuyển đổi từ “đưa thủ tục lên môi trường mạng” sang tái thiết cách thức vận hành của bộ máy hành chính. Đây không đơn thuần là việc thay đổi một cổng thông tin hay thay thế giấy tờ bằng hồ sơ điện tử, mà quan trọng hơn là Nhà nước đang từng bước chuyển từ phương thức quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, trong đó người dân và doanh nghiệp trở thành trung tâm của quá trình cung cấp dịch vụ công.

Chính ở giai đoạn bản lề này, nhiều vấn đề của quá trình chuyển đổi số bắt đầu bộc lộ rõ hơn. Có địa phương công bố gần 99,9% hồ sơ được tiếp nhận trực tuyến, tỷ lệ giải quyết đúng hạn ở mức rất cao. Song, ở chiều ngược lại, khảo sát gần 5.000 người dân do Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong (MDrI) và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện lại phản ánh một thực tế khác: riêng lĩnh vực đất đai vẫn có khoảng 29% người dân cho biết hồ sơ không được trả đúng hẹn; 26% phải đi qua nhiều đầu mối; 12% phải nhờ người trung gian mới hoàn thành thủ tục. Khoảng cách giữa “chỉ số trên hệ thống” và “trải nghiệm của người dân”, vì thế, vẫn còn khá lớn.

Nghịch lý ấy không phải là sự phủ nhận những kết quả chuyển đổi số đã đạt được, mà cho thấy: Số hóa quy trình chưa đồng nghĩa với chuyển đổi số thành công. Theo phân tích của Viện Nghiên cứu Chính sách và Phát triển truyền thông (IPS), nhiều năm qua, không ít cơ quan vẫn hiểu chuyển đổi số chủ yếu là đưa công nghệ vào quy trình làm việc, sử dụng càng nhiều phần mềm càng tốt, hoặc đơn giản là quét hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử. Có nơi đầu tư nhiều ứng dụng, nhiều nền tảng nhưng quy trình xử lý bên trong hầu như không thay đổi; hồ sơ vẫn được xử lý theo cách cũ, chỉ khác ở chỗ người dân phải tải tệp lên mạng thay vì mang đến trực tiếp.

Từ đó sinh ra tình trạng “vỏ số nhưng ruột vẫn thủ công”. Không ít thủ tục vẫn yêu cầu người dân điền biểu mẫu trên máy tính, in ra ký tên, sau đó lại quét để tải lên hệ thống, rồi cuối cùng vẫn phải nộp thêm một bộ hồ sơ giấy. Công chức thực hiện đúng quy trình vì nhiều quy định pháp luật chưa được sửa đổi, còn người dân thì khó hiểu vì cho rằng đã làm trực tuyến nhưng vẫn phải đi lại nhiều lần.

Ở góc độ quản trị, đây chính là điểm nghẽn lớn nhất hiện nay. IPS nhìn nhận: Cơ quan nhà nước cần xác định đúng bài toán cần giải quyết, đánh giá đúng năng lực hạ tầng, dữ liệu và con người trước khi chọn giải pháp công nghệ, tránh đầu tư dàn trải hoặc kỳ vọng công nghệ tự tạo ra hiệu quả quản trị. Bởi vậy, khi năm 2026 mở ra một mô hình tổ chức hành chính mới, điều cần chuyển đổi không chỉ là nền tảng kỹ thuật, mà còn là tư duy của cả hệ thống.

Dữ liệu chưa “chảy”, dịch vụ công khó “thông”

Ở một khía cạnh khác, dữ liệu chính là “mạch máu” quyết định một nền hành chính số có vận hành thông suốt hay không. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã đầu tư xây dựng hàng loạt cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành và các nền tảng phục vụ quản lý nhà nước. Khối lượng dữ liệu được tạo ra mỗi ngày là rất lớn, từ dữ liệu dân cư, doanh nghiệp, bảo hiểm, y tế đến giáo dục, đất đai, thuế. Về lý thuyết, đây là nguồn tài nguyên đặc biệt giúp các cơ quan nhà nước ra quyết định chính xác hơn, đồng thời giảm đáng kể giấy tờ và thời gian thực hiện thủ tục cho người dân.

Song trên thực tế, theo phân tích của IPS, trở ngại lớn hiện nay không phải thiếu dữ liệu mà là thiếu khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu. Nhiều cơ quan sở hữu lượng dữ liệu rất lớn nhưng được lưu giữ rời rạc tại các đơn vị khác nhau, không liên thông, chưa trở thành nguồn thông tin phục vụ điều hành. Có nơi Trung tâm Điều hành thông minh (IoC) được đầu tư hiện đại, nhưng chủ yếu mới dừng ở việc hiển thị các bảng thống kê đơn giản, tỷ lệ cán bộ khai thác dữ liệu còn thấp; thậm chí nhiều trường hợp dữ liệu thì đầy nhưng thông tin lại thiếu, khiến công nghệ hiện đại vẫn chưa tạo ra thay đổi thực chất trong quản trị.

Điều này lý giải vì sao một công dân đã có đầy đủ thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đã từng hoàn thành nhiều thủ tục trước đó, nhưng khi thực hiện một dịch vụ công mới vẫn phải nhập lại họ tên, địa chỉ, số căn cước, thông tin hộ gia đình hoặc tải lên những giấy tờ mà cơ quan nhà nước thực chất đã lưu trữ. Mỗi lần nhập lại thông tin là thêm chi phí thời gian với người dân, và thêm nguy cơ sai sót, trùng lặp, lãng phí nguồn lực với cơ quan quản lý.

Do đó, chuyển đổi số không thể chỉ dừng ở việc xây dựng cơ sở dữ liệu, mà quan trọng hơn là phải tạo được dòng chảy dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Lấy thí dụ từ lĩnh vực y tế, mỗi ngày hệ thống khám, chữa bệnh tạo ra khoảng hai triệu lượt dữ liệu, song các nguồn này vẫn chưa được kết nối đồng bộ, đặc biệt ở tuyến cơ sở; việc chia sẻ dữ liệu giữa ngành y tế và bảo hiểm xã hội cũng còn nhiều hạn chế. Tương tự, có bộ quản lý hơn 30 bộ dữ liệu khác nhau nhưng vẫn phân tán ở nhiều đơn vị trực thuộc, chưa hình thành hệ thống dữ liệu thống nhất phục vụ điều hành. Những hạn chế này cho thấy chuyển đổi số không chỉ là bài toán công nghệ, mà còn là bài toán phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Kiện toàn quy trình số hóa nền hành chính

Thay vì coi tất cả các thủ tục đều có thể chuyển ngay lên môi trường số, IPS phân loại thành ba nhóm: Nhóm có thể khai thác hoàn toàn dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia hoặc chuyên ngành để xử lý trực tuyến; Nhóm khai thác được một phần dữ liệu số nhưng vẫn cần xác minh thực địa hoặc xác thực thủ công; và Nhóm bắt buộc phải kiểm tra trực tiếp, chưa thể số hóa hoàn toàn. Cách phân loại này cho thấy một nguyên tắc quan trọng: Không phải mọi thủ tục đều có thể chuyển đổi theo cùng một cách, nhưng mọi thủ tục đều cần được thiết kế lại theo tư duy số.

Đối với nhóm thủ tục đã đủ điều kiện số hóa hoàn toàn, IPS đề xuất áp dụng nguyên tắc “một lần duy nhất”: Người dân và doanh nghiệp chỉ cần cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước một lần, từ đó các cơ quan có trách nhiệm chia sẻ, khai thác dữ liệu với nhau để giải quyết thủ tục, thay vì yêu cầu người dân lặp đi, lặp lại cùng một thao tác. Đồng thời, nguyên tắc “số hóa mặc định” (digital by default) cần được áp dụng đối với mọi quy trình và dịch vụ mới, nghĩa là ngay từ khi thiết kế đã ưu tiên môi trường số. Đối với nhóm chưa thể số hóa hoàn toàn, mục tiêu là tối ưu những khâu có thể thực hiện trực tuyến như chuẩn bị hồ sơ, đặt lịch, theo dõi tiến độ hay trả kết quả điện tử, vừa nâng cao hiệu quả quản lý, vừa bảo đảm không nhóm người dân nào bị bỏ lại phía sau.

Đặc biệt, vai trò của Nhà nước cũng cần được nhìn nhận lại trên môi trường số. Nếu trước đây người dân có trách nhiệm giữ giấy tờ để chứng minh với cơ quan quản lý, thì trong nền hành chính số, chính Nhà nước phải là chủ thể lưu trữ, quản lý và tái sử dụng dữ liệu. Khi đó, dữ liệu sẽ đi cùng người dân trong suốt vòng đời cung cấp dịch vụ công, còn người dân không phải trở thành “người vận chuyển giấy tờ” giữa các cơ quan như trước. Đó cũng chính là sự khác biệt giữa “số hóa thủ tục” và “số hóa nền hành chính”.

Từ những phân tích trên, có thể thấy, năm 2026 là thời điểm chuyển đổi số bước vào giai đoạn khó nhất: Thay đổi tư duy quản trị, tái cấu trúc quy trình và xây dựng một nền hành chính vận hành trên dữ liệu. Khi dữ liệu được kết nối, quy trình được thiết kế lại và các cơ quan cùng chia sẻ trách nhiệm thay vì chia cắt thông tin, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực để xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ, lấy dữ liệu làm nền tảng, lấy người dân làm trung tâm và lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo■

Cốt lõi của chuyển đổi số không phải là câu chuyện mua thêm phần mềm hay trang bị thêm máy tính, mà là thay đổi tư duy quản trị, thay đổi cách tổ chức công việc và cách ra quyết định. Công nghệ chỉ là công cụ; nếu quy trình cũ vẫn được giữ nguyên thì công nghệ rất dễ trở thành một lớp “áo mới” khoác lên phương thức quản lý cũ.

Có thể bạn quan tâm

Người dân quét giấy tờ gốc, xác thực bản sao điện tử tại Kiosk thông minh, chi nhánh số 1, Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Tháo bỏ những rào cản vô hình

Mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân là một yếu tố mang tính nền tảng đối với hành trình phát triển của mọi quốc gia. Cải cách thủ tục hành chính dựa trên các thành tựu khoa học-công nghệ, vì thế, được xem như minh chứng cho nỗ lực thay đổi từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ, đặt người dân vào vị trí trung tâm của các chính sách.

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Lực lượng chức năng và đoàn thể xã Đất Mới (tỉnh Cà Mau) hỗ trợ giúp dân khắc phục hậu quả sau sạt lở đất.

Thiên tai đi qua, tình người ở lại

Dải đất cực nam Tổ quốc có ba bề sóng vỗ. Bên cạnh sự trù phú của tài nguyên biển và rừng ngập mặn, nơi đây cũng là một trong những vùng đất chịu nhiều tổn thương do biến đổi khí hậu. Vào mùa mưa bão, những thiên tai dị thường liên tiếp ập đến, đe dọa trực tiếp đến cuộc sống của người dân.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).