Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương
Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Mở rộng tầm nhìn về di sản

Trong bảo tồn và nghiên cứu, số hóa và công nghệ hình ảnh 3D giúp lưu trữ, tái hiện hình ảnh, chế tác phiên bản với mức chính xác cao nhất. Các nhà khảo cổ đã có thể sử dụng công nghệ hình ảnh 3D để lưu trữ và tái hiện hình ảnh các hiện vật trong không gian ảo. Gần đây, tại công trường khai quật di chỉ Vườn Chuối (xã Hoài Đức, Hà Nội), sau khi phát hiện số lượng lớn di cốt tại một số hố khai quật, các nhà khoa học đã ứng dụng công nghệ hình ảnh 3D để lưu trữ hình ảnh di vật trong không gian của hố khai quật, thu thập tối đa những dữ liệu chân thực nhất tại hố khai quật ở định dạng số hóa trước khi di dời hiện vật và đóng hiện trường. Các tư liệu số hóa này được sử dụng trong nghiên cứu đa dạng và lâu dài cho giới khảo cổ, nhất là những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước chưa hoặc không thể tiếp cận được di chỉ/di sản.

Các ứng dụng công nghệ cao trong phát huy giá trị di sản tạo hứng thú cho giới trẻ tìm hiểu văn hóa. Thạc sĩ Đặng Anh Vân, Trưởng phòng Giáo dục-Tuyên truyền, Trung tâm hoạt động văn hóa khoa học Văn Miếu-Quốc Tử Giám, cho biết: “Kể từ năm 2024, các em nhỏ rất hứng thú khám phá tri thức trong nhiều chương trình ngoại khóa bổ ích, nhờ hai phần mềm Khơi nguồn đạo học và Đi tìm linh vật dành cho học sinh các trường phổ thông, được tích hợp trong chương trình giáo dục di sản của Trung tâm”.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia là đơn vị đầu tiên thử nghiệm số hóa 3D với nhiều hiện vật trên các loại hình, chất liệu khác nhau, ứng dụng công nghệ tương tác thực tại ảo trong giới thiệu trưng bày và nghiên cứu. Dự án Định danh số và triển lãm các cổ vật triều Nguyễn tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế sử dụng công nghệ blockchain và NFC để quản lý và định danh các cổ vật. Cùng với đó là mô hình bảo tàng trực tuyến, tại địa chỉ museehue.vn với hàng chục module song ngữ Việt và Anh, giới thiệu về những giá trị đặc sắc của cung đình Huế. Phiên bản bảo tàng số này do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và Phygital Labs hợp tác phát triển, với kỳ vọng lan tỏa văn hóa Việt ra toàn cầu.

Nhiều bảo tàng khác, kể cả một số bảo tàng ngoài công lập cũng đạt được những thành công đáng khích lệ. Tuy vậy, vẫn còn nhiều việc cần làm trên đường tiến đến phổ quát số hóa và xây dựng hệ sinh thái số cho văn hóa Việt Nam.

4a.jpg
Ứng dụng công nghệ số trong trưng bày chuyên đề Vũ khúc Thiền môn - Nghệ thuật Phật giáo thời Lý: Di sản và Công nghệ, tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia, tháng 5 - 7/2025. Nguồn: Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Kỳ vọng lớn và những nguy cơ tiềm ẩn

Thực tế, di sản văn hóa phi vật thể, như các tín ngưỡng, lễ hội, nghề thủ công lâu đời... hiện chưa được số hóa một cách đồng bộ dưới sự điều hành của một “nhạc trưởng”, được quản lý, sử dụng ở tầm mức quốc gia. Phần lớn dữ liệu mới chỉ được sưu tầm và quản lý ở địa phương hoặc tại các cơ quan nghiên cứu. Một trong những khó khăn khi số hóa các di sản phi vật thể lại xuất phát từ đặc thù của chính di sản đó. Đơn cử: Do tập tục kiêng kỵ nghiêm ngặt, cần được tôn trọng để bảo vệ tính thiêng của di sản, Ban quản lý một số di tích đã giới hạn việc ghi âm, ghi hình, thậm chí cấm cả việc người lạ xuất hiện trong không gian di tích. Lễ mật “linh tinh tình phộc” diễn ra trong bóng tối ở Lễ hội Trò Trám, tại miếu Trò (nay thuộc xã Phùng Nguyên, tỉnh Phú Thọ) hoặc nghi thức rước thánh vào hậu cung ở Lễ hội 5 làng Mọc xưa (Hà Nội) là những dẫn chứng.

Qua thực tiễn số hóa và liên thông chia sẻ, sử dụng các thông tin thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do UNESCO ghi danh năm 2016, Nghệ nhân Ưu tú, thanh đồng Nguyễn Tất Kim Hùng, thủ nhang tại đền Nguyên Khiết Linh Từ (số 102, phố Hàng Bạc, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội) vẫn băn khoăn: “Chúng tôi cũng đã có cố gắng ghi lại những hình ảnh thực hành tín ngưỡng tại không gian thiêng của bản điện nhưng mới chỉ ở mức chia sẻ với nhau trong cộng đồng những người kính ngưỡng và muốn hoằng dương Đạo Mẫu, chứ chưa lan tỏa được rộng rãi những giá trị văn hóa của di sản”. Ông Hùng bày tỏ mong muốn: Những chuyên gia, các nhà nghiên cứu cùng sát cánh với người thực hành di sản này để lưu trữ tư liệu thực hành di sản, góp phần bảo tồn, giới thiệu, tăng thêm tự hào về nền văn hóa đất nước nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt nói riêng một cách chân xác và lâu dài.

Với di sản vật thể, điều khó khăn là khối lượng di vật, di tích rất lớn, tồn tại trong tình trạng đa dạng và điều kiện hiện trường phức tạp. Nếu không có thiết bị thích hợp và khung kỹ thuật chuẩn, dữ liệu sẽ khó liên thông.

Qua thực tế làm công việc “bếp núc” cho nhiều dự án số hóa bảo tàng, di tích, kiến trúc sư Đinh Việt Phương, Giám đốc Công ty 3DART nhấn mạnh: “Cần lấp các “khoảng trống” kỹ thuật khi thực hiện số hóa di sản”.

Theo kiến trúc sư Đinh Việt Phương, “khoảng trống” lớn nhất hiện nay là tiêu chí nghiệm thu dữ liệu số chưa đủ sâu. Nhiều dự án vẫn được nghiệm thu theo kiểu “đếm đầu việc”, các chỉ số chưa đủ để đánh giá chất lượng thực tế. “Cần nghiệm thu bằng các tiêu chí kỹ thuật cụ thể, như mật độ điểm, độ phủ bề mặt, sai số ghép nối, sai khác màu, vùng thiếu dữ liệu, vùng nội suy và khả năng tái lập quy trình. Cũng cần có hướng dẫn rõ: Từng loại chất liệu và trạng thái bề mặt nên được số hóa bằng phương pháp nào; trường hợp nào thì dùng công cụ và phương pháp nào hay phải kết hợp đa phương pháp...”, ông Phương chia sẻ.

Một vấn đề rất lớn tiếp theo là, nếu không đánh dấu, phân biệt rõ “dữ liệu “quét” trực tiếp” và “dữ liệu phục dựng” thì sẽ rất dễ dẫn tới hệ quả “bản di sản số sẽ “trộn” giữa sự thật và suy đoán, không thể dùng cho nghiên cứu lâu dài”, ông Phương cho biết. Về tổng thể, từ thực tế đang còn manh mún hiện nay, theo ông Phương, dữ liệu số hóa di sản không thể chỉ lưu trong ổ cứng hoặc một thư mục dự án. Cần có mã định danh, kiểm tra checksum, phân quyền truy cập, sao lưu, định dạng mở và kế hoạch di trú dữ liệu theo thời gian.

Để thực hiện hiệu quả chương trình chuyển đổi số tư liệu di sản văn hóa, góp phần tạo dựng nền tảng dữ liệu văn hóa Việt Nam, hướng đi cần thiết là phải lấy chất lượng sản phẩm làm trọng tâm, kiểm soát sai số minh bạch và sử dụng nhân lực chất lượng cao. Chỉ khi đó, dữ liệu di sản số mới trở thành tài sản văn hóa, không chỉ phục vụ các yêu cầu trước mắt mà còn bảo tồn ký ức lâu dài. Công nghệ sẽ phát huy hiệu quả khi gắn với tư duy bảo tồn bền vững, đầu tư thích đáng hạ tầng kỹ thuật cũng như phát triển nguồn nhân lực có trình độ chuyên sâu.

Đối với di sản phi vật thể đang sống trong cộng đồng, quá trình số hóa phải bảo đảm ghi được lời kể, làm rõ vai trò chủ thể, không gian và quy trình thực hành, ý nghĩa biểu tượng và điều kiện truyền dạy. Bởi, nếu tách di sản khỏi cộng đồng, bản số hóa sẽ mất đi hồn cốt.

Người làm công việc số hóa di sản đang đứng giữa giao điểm của công nghệ cao, mỹ thuật, kiến trúc, bảo tồn, lịch sử và trách nhiệm văn hóa. Thuận lợi lớn nhất là công nghệ đang phát triển rất nhanh và Việt Nam đã có điều kiện tiếp cận nhiều công nghệ, thiết bị hiện đại. Tuy nhiên, thiết bị phải đi kèm hiểu biết về bảo tồn và điều quan trọng không phải là “có máy gì”, mà là “đối tượng này cần được số hóa bởi mục đích gì, bằng phương pháp nào, mức độ chính xác ra sao”. Một thao tác kỹ thuật sai có thể làm hư hại hiện vật, một dữ liệu xử lý sai có thể làm sai lệch nhận thức lịch sử. Bởi vậy, cần có chương trình đào tạo cho đội ngũ nhân lực thực hiện công việc số hóa di sản, trong đó kết hợp giữa bảo tàng học, kiến trúc, khảo cổ học, mỹ thuật học, công nghệ 3D, quản lý dữ liệu số và quản trị di sản.

Có thể bạn quan tâm

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.