Nông nghiệp Việt với bài toán thích ứng biến đổi khí hậu

Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt
Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt

Tác động lớn tới sản xuất

Với hoạt động sản xuất nông nghiệp, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 17/6, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Quản lý vận hành công trình và tưới tiêu thuộc Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá: Lượng nước tích trữ tại các hồ chứa, cũng như dòng chảy từ thượng nguồn đổ về Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa mưa năm nay sẽ quyết định đáng kể tới mức độ ảnh hưởng của El Nino với sản xuất nông nghiệp trong vụ đông xuân tới.

Dự kiến trong tháng 9, cơ quan chuyên môn sẽ có những thông tin dự báo sớm hơn. Đến khoảng tháng 10 và 11, mức độ ảnh hưởng tại từng khu vực, từng vùng sản xuất sẽ được xác định tương đối cụ thể để các địa phương chủ động triển khai các giải pháp ứng phó phù hợp.

Từ góc nhìn chuyên gia, ThS Lê Năng Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận: Biến đổi khí hậu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng từ 1,5 - 1,7 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp - một mức tăng khiến giới khoa học toàn cầu lo ngại về nguy cơ vượt ngưỡng kiểm soát. Trong bức tranh khí hậu nhiều gam màu xám ấy, nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và mưa bão bất thường không chỉ xuất hiện ngày càng dày mà còn khốc liệt hơn trước. “Tác động kéo theo là đất đai bạc màu, nứt nẻ, giảm sút nghiêm trọng khả năng canh tác. Đồng thời, làm bùng phát các loại sâu bệnh và vi khuẩn gây hại trên cả cây trồng lẫn vật nuôi”, ông Hùng nêu.

Thực tế, biến đổi khí hậu không chỉ là rủi ro môi trường mà đã trở thành điều kiện có tính tiền đề của cạnh tranh đối với doanh nghiệp, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 lưu ý khoảng 29-54% diện tích đồng bằng có thể nằm dưới mực nước biển đến cuối thế kỷ này, tùy vào kịch bản thực tế. Những rủi ro này không chỉ đe dọa sinh kế nông nghiệp mà còn làm tăng chi phí hạ tầng, logistics, bảo quản, bảo hiểm, tín dụng và tuân thủ tiêu chuẩn.

Một số sự kiện El Nino điển hình và tác động tại Việt Nam

* El Nino 1997-1998 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,4 đến +2,5°C. Mùa bão bắt đầu muộn và kết thúc sớm; nhiệt độ trong các tháng cuối năm 1997 và bốn tháng đầu năm 1998 cao hơn trung bình nhiều năm tại nhiều khu vực. Hạn hán kéo dài trong sáu tháng đầu năm 1998 tại Bắc Bộ và đến cuối tháng 8/1998 tại Bắc Trung Bộ; dòng chảy tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt mạnh. Đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đỉnh lũ năm 1998 ở đầu nguồn sông Cửu Long tại trạm Tân Châu, Châu Đốc ở mức rất thấp (thấp nhất trong 73 năm trở về trước), gây hệ lụy rất lớn đến nguồn nước và làm gia tăng mức độ khốc liệt của tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô.

* El Nino 2015-2016 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,6°C. Nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; tổng lượng mưa trên cả nước thiếu hụt phổ biến 20-40%, tại Trung Bộ có tháng thiếu hụt 40-70%. Dòng chảy tại nhiều lưu vực Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt lớn; dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công về Đồng bằng sông Cửu Long thiếu hụt khoảng 25-30%, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn ở mức lịch sử. Đợt hạn mặn lịch sử này đã khiến 10/13 tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long phải công bố tình trạng thiên tai.

* El Nino 2023-2024 đạt dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,0°C. Nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; một số thời đoạn tại Bắc Bộ và Trung Bộ cao hơn từ 1,0-3,0°C, có nơi vượt 4,0°C. Dòng chảy tại Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt đáng kể. Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện sớm và cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng mức thiệt hại thấp hơn giai đoạn 2015-2016.

(Theo Báo cáo Dự báo El Nino 2026-2027 của Cục Khí tượng Thủy văn)

Hướng tới nền nông nghiệp bền vững

Từ kinh nghiệm thực tiễn qua các đợt El Nino từng ảnh hưởng tại khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 2019-2020 và khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015-2016, ngành thủy lợi đã xây dựng các kịch bản nền cho từng vùng sản xuất nhằm ứng phó với các cấp độ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn khác nhau.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, các kịch bản nền được xây dựng tương ứng với các tình huống nguồn nước trung bình (giai đoạn 2025-2026), ít nước (giai đoạn 2015-2016) hoặc rất ít nước (giai đoạn 2019-2020). Trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước thực tế tại các lưu vực sông, cơ quan chuyên môn sẽ nhanh chóng xác định mức độ rủi ro của từng khu vực để đưa ra các cảnh báo và giải pháp phù hợp.

Tương tự, tại Trung Bộ và Tây Nguyên, việc tính toán được thực hiện dựa trên lượng nước tích trữ cuối mùa mưa tại các hồ chứa, dự báo lượng mưa, nắng nóng và bốc hơi nhằm xác định nguy cơ hạn hán cho từng địa phương. “Với dự báo xuất hiện “siêu El Nino” từ cuối năm nay, điều quan trọng nhất lúc này là hoàn thiện các kịch bản ứng phó và chuẩn bị sẵn sàng cho những diễn biến có thể kéo dài sang năm 2027”, ông Hùng nói.

Về dài hạn, ông Lê Năng Hùng khuyến nghị: Ngành nông nghiệp đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và công nghệ sinh học để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Thực tế, nhiều đơn vị sản xuất và nông hộ đã triển khai mô hình lúa-tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long - tức canh tác luân phiên theo hướng tận dụng nước nhiễm mặn vào mùa khô để nuôi tôm, đợi mùa nước về để trồng lúa không chỉ giúp doanh nghiệp sản xuất và bà con nông dân tránh được thiệt hại do hạn mặn, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, mô hình trồng lúa - tôm trên bán đảo Cà Mau đã tạo nền tảng đất tốt để cây lúa phát triển khỏe mạnh, cho thu hoạch sản phẩm gạo ST24 và ST25 từng đạt giải nhất cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới” năm 2025. Cũng chính mô hình lúa-tôm là minh chứng sống cho triết lý “thuận thiên”, được Chính phủ khái quát trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tương tự, nhiều hợp tác xã tại tỉnh An Giang cũng áp dụng đồng bộ các giải pháp như giảm lượng giống gieo sạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và sử dụng phân bón hợp lý. Kết quả cho thấy lượng phát thải khí nhà kính giảm đáng kể, chi phí đầu vào giảm từ 10-20%, trong khi năng suất và chất lượng hạt gạo vẫn được duy trì hoặc nâng cao.

Theo PGS, TS Đào Thế Anh - Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam: Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện đồng thời ba mục tiêu, gồm bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm tác động đến môi trường. Bối cảnh này đòi hỏi một cuộc chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao. “Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để thực hiện cuộc chuyển đổi này. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng và cam kết quốc tế về giảm phát thải đang tạo động lực thúc đẩy thay đổi. Thế nhưng, để mở rộng quy mô, cần tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong”, ông Thế Anh nói tại hội thảo “Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” ngày 24/6.

Với cộng đồng doanh nghiệp, Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 khuyến nghị doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải coi thích ứng khí hậu, xanh hóa và quản trị dữ liệu môi trường là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Theo đó, mỗi doanh nghiệp chế biến phải kiểm soát điện, nhiên liệu, kho lạnh, nước thải, phụ phẩm và phát thải. Còn doanh nghiệp nông nghiệp phải đo lường phân bón, nước, đất, methane và truy xuất nguồn gốc.

Ở tầng cao hơn, doanh nghiệp đầu chuỗi cần tổ chức vùng nguyên liệu, chuẩn sản xuất, hợp đồng đầu ra, dữ liệu chất lượng, bảo hiểm rủi ro và tín dụng theo chuỗi. Hợp tác xã cần chuyển từ vai trò hành chính sang đối tác kinh tế giúp tăng quy mô, chuẩn hóa nông hộ và kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, Hiệp hội cần cung cấp thông tin thị trường, tiêu chuẩn, đào tạo, xúc tiến, đối thoại chính sách và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Có thể bạn quan tâm

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.