Nông nghiệp Việt với bài toán thích ứng biến đổi khí hậu

Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt
Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt

Tác động lớn tới sản xuất

Với hoạt động sản xuất nông nghiệp, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 17/6, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Quản lý vận hành công trình và tưới tiêu thuộc Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá: Lượng nước tích trữ tại các hồ chứa, cũng như dòng chảy từ thượng nguồn đổ về Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa mưa năm nay sẽ quyết định đáng kể tới mức độ ảnh hưởng của El Nino với sản xuất nông nghiệp trong vụ đông xuân tới.

Dự kiến trong tháng 9, cơ quan chuyên môn sẽ có những thông tin dự báo sớm hơn. Đến khoảng tháng 10 và 11, mức độ ảnh hưởng tại từng khu vực, từng vùng sản xuất sẽ được xác định tương đối cụ thể để các địa phương chủ động triển khai các giải pháp ứng phó phù hợp.

Từ góc nhìn chuyên gia, ThS Lê Năng Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận: Biến đổi khí hậu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng từ 1,5 - 1,7 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp - một mức tăng khiến giới khoa học toàn cầu lo ngại về nguy cơ vượt ngưỡng kiểm soát. Trong bức tranh khí hậu nhiều gam màu xám ấy, nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và mưa bão bất thường không chỉ xuất hiện ngày càng dày mà còn khốc liệt hơn trước. “Tác động kéo theo là đất đai bạc màu, nứt nẻ, giảm sút nghiêm trọng khả năng canh tác. Đồng thời, làm bùng phát các loại sâu bệnh và vi khuẩn gây hại trên cả cây trồng lẫn vật nuôi”, ông Hùng nêu.

Thực tế, biến đổi khí hậu không chỉ là rủi ro môi trường mà đã trở thành điều kiện có tính tiền đề của cạnh tranh đối với doanh nghiệp, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 lưu ý khoảng 29-54% diện tích đồng bằng có thể nằm dưới mực nước biển đến cuối thế kỷ này, tùy vào kịch bản thực tế. Những rủi ro này không chỉ đe dọa sinh kế nông nghiệp mà còn làm tăng chi phí hạ tầng, logistics, bảo quản, bảo hiểm, tín dụng và tuân thủ tiêu chuẩn.

Một số sự kiện El Nino điển hình và tác động tại Việt Nam

* El Nino 1997-1998 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,4 đến +2,5°C. Mùa bão bắt đầu muộn và kết thúc sớm; nhiệt độ trong các tháng cuối năm 1997 và bốn tháng đầu năm 1998 cao hơn trung bình nhiều năm tại nhiều khu vực. Hạn hán kéo dài trong sáu tháng đầu năm 1998 tại Bắc Bộ và đến cuối tháng 8/1998 tại Bắc Trung Bộ; dòng chảy tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt mạnh. Đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đỉnh lũ năm 1998 ở đầu nguồn sông Cửu Long tại trạm Tân Châu, Châu Đốc ở mức rất thấp (thấp nhất trong 73 năm trở về trước), gây hệ lụy rất lớn đến nguồn nước và làm gia tăng mức độ khốc liệt của tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô.

* El Nino 2015-2016 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,6°C. Nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; tổng lượng mưa trên cả nước thiếu hụt phổ biến 20-40%, tại Trung Bộ có tháng thiếu hụt 40-70%. Dòng chảy tại nhiều lưu vực Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt lớn; dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công về Đồng bằng sông Cửu Long thiếu hụt khoảng 25-30%, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn ở mức lịch sử. Đợt hạn mặn lịch sử này đã khiến 10/13 tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long phải công bố tình trạng thiên tai.

* El Nino 2023-2024 đạt dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,0°C. Nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; một số thời đoạn tại Bắc Bộ và Trung Bộ cao hơn từ 1,0-3,0°C, có nơi vượt 4,0°C. Dòng chảy tại Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt đáng kể. Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện sớm và cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng mức thiệt hại thấp hơn giai đoạn 2015-2016.

(Theo Báo cáo Dự báo El Nino 2026-2027 của Cục Khí tượng Thủy văn)

Hướng tới nền nông nghiệp bền vững

Từ kinh nghiệm thực tiễn qua các đợt El Nino từng ảnh hưởng tại khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 2019-2020 và khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015-2016, ngành thủy lợi đã xây dựng các kịch bản nền cho từng vùng sản xuất nhằm ứng phó với các cấp độ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn khác nhau.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, các kịch bản nền được xây dựng tương ứng với các tình huống nguồn nước trung bình (giai đoạn 2025-2026), ít nước (giai đoạn 2015-2016) hoặc rất ít nước (giai đoạn 2019-2020). Trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước thực tế tại các lưu vực sông, cơ quan chuyên môn sẽ nhanh chóng xác định mức độ rủi ro của từng khu vực để đưa ra các cảnh báo và giải pháp phù hợp.

Tương tự, tại Trung Bộ và Tây Nguyên, việc tính toán được thực hiện dựa trên lượng nước tích trữ cuối mùa mưa tại các hồ chứa, dự báo lượng mưa, nắng nóng và bốc hơi nhằm xác định nguy cơ hạn hán cho từng địa phương. “Với dự báo xuất hiện “siêu El Nino” từ cuối năm nay, điều quan trọng nhất lúc này là hoàn thiện các kịch bản ứng phó và chuẩn bị sẵn sàng cho những diễn biến có thể kéo dài sang năm 2027”, ông Hùng nói.

Về dài hạn, ông Lê Năng Hùng khuyến nghị: Ngành nông nghiệp đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và công nghệ sinh học để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Thực tế, nhiều đơn vị sản xuất và nông hộ đã triển khai mô hình lúa-tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long - tức canh tác luân phiên theo hướng tận dụng nước nhiễm mặn vào mùa khô để nuôi tôm, đợi mùa nước về để trồng lúa không chỉ giúp doanh nghiệp sản xuất và bà con nông dân tránh được thiệt hại do hạn mặn, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, mô hình trồng lúa - tôm trên bán đảo Cà Mau đã tạo nền tảng đất tốt để cây lúa phát triển khỏe mạnh, cho thu hoạch sản phẩm gạo ST24 và ST25 từng đạt giải nhất cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới” năm 2025. Cũng chính mô hình lúa-tôm là minh chứng sống cho triết lý “thuận thiên”, được Chính phủ khái quát trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tương tự, nhiều hợp tác xã tại tỉnh An Giang cũng áp dụng đồng bộ các giải pháp như giảm lượng giống gieo sạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và sử dụng phân bón hợp lý. Kết quả cho thấy lượng phát thải khí nhà kính giảm đáng kể, chi phí đầu vào giảm từ 10-20%, trong khi năng suất và chất lượng hạt gạo vẫn được duy trì hoặc nâng cao.

Theo PGS, TS Đào Thế Anh - Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam: Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện đồng thời ba mục tiêu, gồm bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm tác động đến môi trường. Bối cảnh này đòi hỏi một cuộc chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao. “Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để thực hiện cuộc chuyển đổi này. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng và cam kết quốc tế về giảm phát thải đang tạo động lực thúc đẩy thay đổi. Thế nhưng, để mở rộng quy mô, cần tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong”, ông Thế Anh nói tại hội thảo “Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” ngày 24/6.

Với cộng đồng doanh nghiệp, Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 khuyến nghị doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải coi thích ứng khí hậu, xanh hóa và quản trị dữ liệu môi trường là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Theo đó, mỗi doanh nghiệp chế biến phải kiểm soát điện, nhiên liệu, kho lạnh, nước thải, phụ phẩm và phát thải. Còn doanh nghiệp nông nghiệp phải đo lường phân bón, nước, đất, methane và truy xuất nguồn gốc.

Ở tầng cao hơn, doanh nghiệp đầu chuỗi cần tổ chức vùng nguyên liệu, chuẩn sản xuất, hợp đồng đầu ra, dữ liệu chất lượng, bảo hiểm rủi ro và tín dụng theo chuỗi. Hợp tác xã cần chuyển từ vai trò hành chính sang đối tác kinh tế giúp tăng quy mô, chuẩn hóa nông hộ và kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, Hiệp hội cần cung cấp thông tin thị trường, tiêu chuẩn, đào tạo, xúc tiến, đối thoại chính sách và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Có thể bạn quan tâm

Hạn hán kỷ lục cấp 4 tại Ninh Thuận (cũ) do chịu ảnh hưởng của đợt El Nino hồi năm 2020. Ảnh: Thành Đạt

Bước chuyển tư duy ứng phó siêu El Nino

El Nino đã hình thành và được dự báo tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm 2026, tiếp nối sang đầu năm 2027, làm gia tăng nguy cơ nắng nóng kéo dài, thiếu hụt lượng mưa theo mùa, suy giảm nguồn nước, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn nghiêm trọng. 

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Các chiến sĩ thuộc Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, mang nước sạch đến cho người dân thôn Tà Nôi. Ảnh: Thành Đạt.

Ưu tiên bảo đảm an ninh nguồn nước

Dưới tác động của El Nino, các chuyên gia khuyến nghị: Các cấp ngành, địa phương cần ưu tiên giải pháp bảo đảm an ninh nguồn nước cho các vùng có nguy cơ thiếu nước.

Những thách thức rất lớn đang chờ đợi các vòng đàm phán khí hậu sắp diễn ra.

Thế giới sau hồi chuông báo động

Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) vừa xác nhận: El Nino đã hình thành và có khả năng gia tăng cường độ trong những tháng tới. Trong bối cảnh nhiều mô hình khí hậu dự báo hiện tượng này có thể phát triển tới mức Siêu El Nino, Liên hợp quốc đã kêu gọi các quốc gia khẩn trương triển khai các biện pháp ứng phó nhằm hạn chế thiệt hại.

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.