Nông nghiệp Việt với bài toán thích ứng biến đổi khí hậu

Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt
Nắng nóng kéo dài khiến cho hồ chứa nước Sông Biêu tại tỉnh Ninh Thuận (cũ), nay là tỉnh Khánh Hòa, khô cạn đáy. Ảnh: Thành Đạt

Tác động lớn tới sản xuất

Với hoạt động sản xuất nông nghiệp, tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 17/6, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng phòng Quản lý vận hành công trình và tưới tiêu thuộc Cục Quản lý và xây dựng công trình thủy lợi (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đánh giá: Lượng nước tích trữ tại các hồ chứa, cũng như dòng chảy từ thượng nguồn đổ về Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa mưa năm nay sẽ quyết định đáng kể tới mức độ ảnh hưởng của El Nino với sản xuất nông nghiệp trong vụ đông xuân tới.

Dự kiến trong tháng 9, cơ quan chuyên môn sẽ có những thông tin dự báo sớm hơn. Đến khoảng tháng 10 và 11, mức độ ảnh hưởng tại từng khu vực, từng vùng sản xuất sẽ được xác định tương đối cụ thể để các địa phương chủ động triển khai các giải pháp ứng phó phù hợp.

Từ góc nhìn chuyên gia, ThS Lê Năng Hùng, Ủy viên Ban Thường vụ Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Thành phố Hồ Chí Minh nhìn nhận: Biến đổi khí hậu diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh khi nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tăng từ 1,5 - 1,7 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp - một mức tăng khiến giới khoa học toàn cầu lo ngại về nguy cơ vượt ngưỡng kiểm soát. Trong bức tranh khí hậu nhiều gam màu xám ấy, nông nghiệp là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Theo đó, các hiện tượng thời tiết cực đoan như hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng và mưa bão bất thường không chỉ xuất hiện ngày càng dày mà còn khốc liệt hơn trước. “Tác động kéo theo là đất đai bạc màu, nứt nẻ, giảm sút nghiêm trọng khả năng canh tác. Đồng thời, làm bùng phát các loại sâu bệnh và vi khuẩn gây hại trên cả cây trồng lẫn vật nuôi”, ông Hùng nêu.

Thực tế, biến đổi khí hậu không chỉ là rủi ro môi trường mà đã trở thành điều kiện có tính tiền đề của cạnh tranh đối với doanh nghiệp, nhất là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 lưu ý khoảng 29-54% diện tích đồng bằng có thể nằm dưới mực nước biển đến cuối thế kỷ này, tùy vào kịch bản thực tế. Những rủi ro này không chỉ đe dọa sinh kế nông nghiệp mà còn làm tăng chi phí hạ tầng, logistics, bảo quản, bảo hiểm, tín dụng và tuân thủ tiêu chuẩn.

Một số sự kiện El Nino điển hình và tác động tại Việt Nam

* El Nino 1997-1998 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,4 đến +2,5°C. Mùa bão bắt đầu muộn và kết thúc sớm; nhiệt độ trong các tháng cuối năm 1997 và bốn tháng đầu năm 1998 cao hơn trung bình nhiều năm tại nhiều khu vực. Hạn hán kéo dài trong sáu tháng đầu năm 1998 tại Bắc Bộ và đến cuối tháng 8/1998 tại Bắc Trung Bộ; dòng chảy tại Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt mạnh. Đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đỉnh lũ năm 1998 ở đầu nguồn sông Cửu Long tại trạm Tân Châu, Châu Đốc ở mức rất thấp (thấp nhất trong 73 năm trở về trước), gây hệ lụy rất lớn đến nguồn nước và làm gia tăng mức độ khốc liệt của tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô.

* El Nino 2015-2016 có dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,6°C. Nhiệt độ trung bình phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; tổng lượng mưa trên cả nước thiếu hụt phổ biến 20-40%, tại Trung Bộ có tháng thiếu hụt 40-70%. Dòng chảy tại nhiều lưu vực Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt lớn; dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công về Đồng bằng sông Cửu Long thiếu hụt khoảng 25-30%, dẫn đến hạn hán và xâm nhập mặn ở mức lịch sử. Đợt hạn mặn lịch sử này đã khiến 10/13 tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long phải công bố tình trạng thiên tai.

* El Nino 2023-2024 đạt dị thường cực đại Nino 3.4 khoảng +2,0°C. Nhiệt độ trung bình trên cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5-1,5°C; một số thời đoạn tại Bắc Bộ và Trung Bộ cao hơn từ 1,0-3,0°C, có nơi vượt 4,0°C. Dòng chảy tại Trung Trung Bộ, Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ thiếu hụt đáng kể. Xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long xuất hiện sớm và cao hơn trung bình nhiều năm, nhưng mức thiệt hại thấp hơn giai đoạn 2015-2016.

(Theo Báo cáo Dự báo El Nino 2026-2027 của Cục Khí tượng Thủy văn)

Hướng tới nền nông nghiệp bền vững

Từ kinh nghiệm thực tiễn qua các đợt El Nino từng ảnh hưởng tại khu vực Bắc Trung Bộ giai đoạn 2019-2020 và khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015-2016, ngành thủy lợi đã xây dựng các kịch bản nền cho từng vùng sản xuất nhằm ứng phó với các cấp độ hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn khác nhau.

Tại Đồng bằng sông Cửu Long, các kịch bản nền được xây dựng tương ứng với các tình huống nguồn nước trung bình (giai đoạn 2025-2026), ít nước (giai đoạn 2015-2016) hoặc rất ít nước (giai đoạn 2019-2020). Trên cơ sở theo dõi diễn biến nguồn nước thực tế tại các lưu vực sông, cơ quan chuyên môn sẽ nhanh chóng xác định mức độ rủi ro của từng khu vực để đưa ra các cảnh báo và giải pháp phù hợp.

Tương tự, tại Trung Bộ và Tây Nguyên, việc tính toán được thực hiện dựa trên lượng nước tích trữ cuối mùa mưa tại các hồ chứa, dự báo lượng mưa, nắng nóng và bốc hơi nhằm xác định nguy cơ hạn hán cho từng địa phương. “Với dự báo xuất hiện “siêu El Nino” từ cuối năm nay, điều quan trọng nhất lúc này là hoàn thiện các kịch bản ứng phó và chuẩn bị sẵn sàng cho những diễn biến có thể kéo dài sang năm 2027”, ông Hùng nói.

Về dài hạn, ông Lê Năng Hùng khuyến nghị: Ngành nông nghiệp đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ và công nghệ sinh học để thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

Thực tế, nhiều đơn vị sản xuất và nông hộ đã triển khai mô hình lúa-tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long - tức canh tác luân phiên theo hướng tận dụng nước nhiễm mặn vào mùa khô để nuôi tôm, đợi mùa nước về để trồng lúa không chỉ giúp doanh nghiệp sản xuất và bà con nông dân tránh được thiệt hại do hạn mặn, mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trong đó, mô hình trồng lúa - tôm trên bán đảo Cà Mau đã tạo nền tảng đất tốt để cây lúa phát triển khỏe mạnh, cho thu hoạch sản phẩm gạo ST24 và ST25 từng đạt giải nhất cuộc thi “Gạo ngon nhất thế giới” năm 2025. Cũng chính mô hình lúa-tôm là minh chứng sống cho triết lý “thuận thiên”, được Chính phủ khái quát trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu.

Tương tự, nhiều hợp tác xã tại tỉnh An Giang cũng áp dụng đồng bộ các giải pháp như giảm lượng giống gieo sạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và sử dụng phân bón hợp lý. Kết quả cho thấy lượng phát thải khí nhà kính giảm đáng kể, chi phí đầu vào giảm từ 10-20%, trong khi năng suất và chất lượng hạt gạo vẫn được duy trì hoặc nâng cao.

Theo PGS, TS Đào Thế Anh - Chủ tịch Hội Khoa học phát triển nông thôn Việt Nam: Nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải thực hiện đồng thời ba mục tiêu, gồm bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao thu nhập cho nông dân và giảm tác động đến môi trường. Bối cảnh này đòi hỏi một cuộc chuyển đổi căn bản từ sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn và ứng dụng công nghệ cao. “Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế để thực hiện cuộc chuyển đổi này. Hệ thống chính sách ngày càng hoàn thiện, khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, nhu cầu tiêu dùng xanh gia tăng và cam kết quốc tế về giảm phát thải đang tạo động lực thúc đẩy thay đổi. Thế nhưng, để mở rộng quy mô, cần tiếp tục đầu tư cho nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ các hợp tác xã, doanh nghiệp tiên phong”, ông Thế Anh nói tại hội thảo “Nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu” ngày 24/6.

Với cộng đồng doanh nghiệp, Báo cáo Kinh tế thường niên Đồng bằng sông Cửu Long năm 2025 khuyến nghị doanh nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải coi thích ứng khí hậu, xanh hóa và quản trị dữ liệu môi trường là năng lực cạnh tranh cốt lõi. Theo đó, mỗi doanh nghiệp chế biến phải kiểm soát điện, nhiên liệu, kho lạnh, nước thải, phụ phẩm và phát thải. Còn doanh nghiệp nông nghiệp phải đo lường phân bón, nước, đất, methane và truy xuất nguồn gốc.

Ở tầng cao hơn, doanh nghiệp đầu chuỗi cần tổ chức vùng nguyên liệu, chuẩn sản xuất, hợp đồng đầu ra, dữ liệu chất lượng, bảo hiểm rủi ro và tín dụng theo chuỗi. Hợp tác xã cần chuyển từ vai trò hành chính sang đối tác kinh tế giúp tăng quy mô, chuẩn hóa nông hộ và kiểm soát chất lượng. Ngoài ra, Hiệp hội cần cung cấp thông tin thị trường, tiêu chuẩn, đào tạo, xúc tiến, đối thoại chính sách và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Có thể bạn quan tâm

Bảo vệ và phát huy tốt giá trị văn hóa cố đô, Huế là địa phương bước đầu thành công trong phát triển du lịch bền vững. Ảnh: Minh Lê

Định hình diện mạo mới của du lịch Việt Nam

Dịch chuyển theo hướng xanh, thông minh và bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa, xây dựng chuỗi giá trị văn hóa - du lịch có sức mạnh cạnh tranh quốc tế gắn với triển khai thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Đây là một nội dung quan trọng trong Chương trình hành động của Chính phủ nhằm triển khai Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới.

Du khách quốc tế khám phá văn hóa sông nước tại thành phố Cần Thơ. Ảnh: Lâm Phong

Sức bật từ những thương hiệu văn hóa đặc thù

Cùng với hàng nghìn lễ hội truyền thống đặc sắc, thu hút rất đông du khách trong và ngoài nước đến tham quan, trải nghiệm, nhiều mô hình sự kiện văn hóa, liên hoan, lễ hội mới... đã và đang được các địa phương trên cả nước từng bước xây dựng, với kỳ vọng tạo sức bật cho phát triển du lịch từ giá trị, thế mạnh riêng có của mình.

"Ngã tư quốc tế" Tạ Hiện-Lương Ngọc Quyến trong khu phố cổ Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Hà Nội và kỳ vọng mang tên Kinh tế đêm

Lựa chọn gắn với bảo tồn di sản, phát huy tinh hoa văn hóa và thúc đẩy công nghiệp văn hóa, kinh tế đêm tại Thủ đô Hà Nội đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng mới, góp phần xây dựng thương hiệu Thành phố trải nghiệm văn hóa ban đêm an toàn, văn minh, hiện đại và giàu bản sắc.

Vườn quốc gia Cát Tiên trở thành điểm đến mới của du lịch có trách nhiệm tại Việt Nam. Ảnh: Hải Lâm

Động lực mới cho hành trình bảo vệ tài nguyên tự nhiên

Từ bảo tồn biển, du lịch dưới tán rừng đến thích ứng với thiên tai, một số mô hình tại Việt Nam cho thấy hướng phát triển thống nhất trong khai thác, phát triển du lịch kết hợp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc và tạo sinh kế cho người dân.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải.

Cần đột phá trong tư duy và hành động

Từ góc nhìn của người có nhiều kinh nghiệm quản lý lĩnh vực văn hóa và du lịch, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam Nguyễn Hồng Hải chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhằm khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa các mục tiêu của du lịch Việt Nam đến năm 2030.

Du khách quốc tế đến với Khu bảo tồn Làng nhà sàn dân tộc sinh thái Thái Hải, tỉnh Thái Nguyên. Ảnh: Lâm Phong

Tạo điểm đến hấp dẫn từ liên kết các giá trị

Du lịch Việt Nam đang chuyển mình mạnh mẽ với lượng khách và tổng thu liên tục tăng trưởng. Nhưng để duy trì sức hấp dẫn lâu dài, cần đi xa hơn việc khai thác cảnh quan và di sản, hướng tới phát triển xanh, gìn giữ bản sắc văn hóa và bảo đảm cộng đồng địa phương thật sự được hưởng lợi.

Nổi tiếng hay không thì cuộc sống của vợ chồng chị Vàng Thị Thông vẫn vậy, sáng làm nông, trưa về đón khách. Ảnh: NVCC

Công bằng ngay từ điều kiện phát triển

Ngày nay, những câu chuyện truyền cảm hứng về hành trình lập nghiệp thành công của phụ nữ Việt Nam không còn là cá biệt. Nhưng, phía sau mỗi câu chuyện ấy là câu hỏi lớn hơn: Làm thế nào để cơ hội học tập, tiếp cận công nghệ, nguồn vốn và thị trường không chỉ đến với những người đủ may mắn, đủ kiên trì tự tìm đường, mà trở thành cánh cửa rộng mở cho số đông?

Sáng kiến coLoan, hướng tới hỗ trợ nữ tài xế, người giao hàng tiếp cận phương tiện điện.

Chuyển đổi xanh phải là quá trình chuyển đổi bao trùm

Chuyển đổi xanh đang mở ra những ngành nghề, mô hình kinh doanh và cơ hội sinh kế mới. Tuy nhiên, để phụ nữ thật sự hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi, điều quan trọng không chỉ là tạo thêm việc làm xanh, mà còn là tháo gỡ những rào cản khiến họ khó tiếp cận vốn, công nghệ, kỹ năng và thị trường.

Bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện UN Women Việt Nam

“Không để phụ nữ phải tự vượt qua rào cản mang tính hệ thống”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, bà Caroline Nyamayemombe, Trưởng đại diện Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho phụ nữ (UN Women) Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cần chuyển từ mở rộng sự tham gia sang bảo đảm phụ nữ thật sự được hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế.

Nhìn nhận từ thực tế công tác bình đẳng giới tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Ảnh: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Chặng đường mới đòi hỏi bước tiến mới

Phụ nữ Việt Nam ngày càng khẳng định năng lực trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh, khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, sự hiện diện ngày càng rộng rãi ấy chưa đồng nghĩa với cơ hội bình đẳng trong tiếp cận các vị trí lãnh đạo và quyền quyết định.

Chân chạy Puripol Boonson phá kỷ lục ASIAD ở cả hai nội dung 100 và 200m.

Nhìn sang nhà hàng xóm

Thể thao Thái Lan giành tới 18 Huy chương vàng tại ASIAD 20. Con số của Malaysia, Indonesia lần lượt là chín và năm, với phần lớn ở những nội dung sẽ tranh tài tại Olympic Los Angeles 2028. Khoảng cách giữa thể thao Việt Nam và các nước láng giềng hiện hoàn toàn phụ thuộc vào hướng đi tới đây.

Bắn súng Việt Nam cần phát triển chiều sâu lực lượng.

Đứng dậy sau thất bại

Bắn súng Việt Nam có một số cá nhân nổi bật, nhưng cần nhiều xạ thủ đủ sức vào chung kết và tranh huy chương ở nhiều nội dung hơn. Nói cách khác, Việt Nam chưa duy trì được sức cạnh tranh đủ rộng và ổn định trước các cường quốc châu Á, từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng cấp hệ thống huấn luyện, phát triển lực lượng và đầu tư dài hạn.

Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần sau kỳ ASIAD 20. Ảnh: Thành Đạt

“Cần đầu tư có chiều sâu cho thể thao”

Đó là khẳng định của Cục trưởng Cục Thể dục Thể thao Việt Nam Nguyễn Danh Hoàng Việt trong cuộc trò chuyện với Nhân Dân cuối tuần, sau ASIAD 20. Theo hướng này, một bản đề án kinh tế thể thao đang được Cục xây dựng, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên.

Thể thao Việt Nam cần sớm thay đổi để đạt được những mục tiêu đề ra ở ASIAD và Olympic. Ảnh: Bùi Lượng

Bài học từ ASIAD

Thành tích của thể thao Việt Nam tại kỳ Đại hội Thể thao châu Á (ASIAD/Asian Games) lần thứ 20 không chỉ cho thấy sự hụt hơi so với chỉ tiêu khiêm tốn - giành tối thiểu bốn Huy chương vàng, mà còn bộc lộ sự sút kém so với chính mình.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.