Chuyển từ “dự báo hiện tượng” sang “cảnh báo tác động”

Chỉ trong vài tháng đầu năm 2026, trạng thái đại dương và khí quyển vùng xích đạo Thái Bình Dương đã đảo chiều đột ngột sang pha El Nino. Với xác suất kéo dài xuyên qua năm 2027 lên tới trên 95%, đợt thiên tai này đang đặt ra những thách thức phi truyền thống đối với an ninh năng lượng, sản xuất nông nghiệp và an ninh nguồn nước quốc gia. Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi sâu với ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) về bước chuyển tư duy chiến lược: Dùng kịch bản rủi ro và dự báo tác động để bảo vệ các động lực tăng trưởng kinh tế.

Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Ông Hoàng Đức Cường, Phó Cục trưởng Cục Khí tượng Thủy văn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

- Thưa ông, các bản tin dự báo gần đây của Cục Khí tượng Thủy văn đều đưa ra những cảnh báo rất đáng chú ý về hiện tượng El Nino. Dưới góc độ chuyên môn, ông đánh giá như thế nào về mức độ dị thường và xu hướng diễn biến của đợt El Nino lần này?

- Tốc độ hình thành và sự gia tăng cường độ chính là điểm dị thường lớn nhất. Tín hiệu đại dương ghi nhận dị thường nhiệt độ mặt nước biển khu vực Nino 3.4 tăng rất nhanh, đi kèm sự suy yếu của gió tín phong và sự dịch chuyển vùng đối lưu nhiệt đới về phía trung tâm và tây khu vực xích đạo Thái Bình Dương.

Hầu hết các mô hình dự báo hiện nay đều thống nhất nhận định: Xác suất El Nino duy trì trong nửa cuối năm 2026 và kéo dài sang năm 2027 đạt trên 95%. Trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12/2026, xác suất El Nino đạt cường độ từ trung bình đến mạnh (chỉ số 1,0oC < Nino 3.4 < 2,0oC) dao động từ 88% đến 98%.

Đáng chú ý nhất, khả năng El Nino phát triển thành đợt “Siêu El Nino” (Nino 3.4 > +2,0oC) đạt cực đại khoảng 60-65% vào thời điểm từ tháng 11/2026 đến tháng 1/2027. Đây là mức dị thường nhiệt độ rất cao, báo hiệu nguy cơ xuất hiện chu kỳ thời tiết cực đoan kéo dài.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng cần lưu ý rằng, dự báo ENSO luôn có mức độ bất định nhất định, nhất là đối với thời hạn xa. Vì vậy, Cục Khí tượng Thủy văn sẽ tiếp tục cập nhật liên tục theo diễn biến quan trắc thực tế và các mô hình dự báo mới nhất.

- Với xu hướng phát triển nhanh và cường độ mạnh như vậy, El Nino sẽ tác động cụ thể ra sao đến nền nhiệt, lượng mưa và các nguy cơ thiên tai tại Việt Nam trong thời gian tới, thưa ông?

- Tác động của El Nino đến khí hậu nước ta thể hiện rõ trên bốn khía cạnh chính:

Thứ nhất là nền nhiệt cao và nắng nóng. Nhiệt độ trung bình trên phạm vi toàn quốc dự báo phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm từ 0,5 đến 1,5oC. Nắng nóng sẽ xuất hiện sớm, gay gắt và kéo dài hơn.

Thứ hai là thâm hụt lượng mưa và nguồn nước. Mùa mưa năm 2026 dự báo thiếu hụt từ 10% đến 30% so trung bình nhiều năm, có nơi ở Nam Trung Bộ thâm hụt đến 50%. Mùa mưa có khả năng kết thúc sớm ở Trung Bộ, Cao nguyên Trung Bộ và Nam Bộ, kéo theo sự suy giảm dòng chảy trên các sông từ 10% đến 60%.

Thứ ba là hạn mặn nghiêm trọng tại Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026-2027. Trong các đợt triều cường cao điểm vào tháng 4 và tháng 5/2027, ranh mặn 4g/l ước tính lấn rất sâu vào nội đồng: Sông Vàm Cỏ: lấn sâu từ 90 đến 125 km; sông Cửa Tiểu: 85-90 km; sông Cửa Đại: 70-75 km; sông Hàm Luông: 70-80 km; sông Hậu: 55-62 km; sông Cái Lớn: 50-55 km.

Thứ tư, tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh: Tổng lượng mưa giảm không có nghĩa là không có mưa lớn. Do tác động phức tạp của biến đổi khí hậu, toàn quốc vẫn đối mặt với nguy cơ chịu ảnh hưởng của 16-19 đợt mưa lớn cực đoan cường suất cao trong thời gian ngắn, cũng như nguy cơ xuất hiện các cơn bão mạnh trái quy luật, gây lũ quét và sạt lở đất nghiêm trọng.

- Văn phòng Trung ương Đảng mới đây ban hành Thông báo số 117-TB/VPTW (ngày 4/7/2026) thông báo Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với đại diện Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan liên quan về công tác phòng, chống bão, lũ, thiên tai cực đoan và biến đổi khí hậu từ nay đến hết năm 2026. Cục Khí tượng Thủy văn đã cụ thể hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước về phòng, chống thiên tai và El Nino như thế nào, thưa ông?
- Thông báo số 117-TB/VPTW yêu cầu chuyển từ xử lý hậu quả sang phòng ngừa từ sớm, từ xa; chuẩn bị cho tình huống xấu hơn, nhanh hơn, rộng hơn và phức tạp hơn. Đồng thời, yêu cầu nâng cao chất lượng dự báo, chuyển từ cảnh báo hiện tượng sang cảnh báo tác động và cung cấp thông tin đến đúng người, đúng nơi, đúng thời điểm. Thực hiện định hướng đó, Cục Khí tượng Thủy văn đã chủ động xây dựng Báo cáo El Nino 2026-2027. Không dừng lại ở việc cập nhật diễn biến ENSO, chúng tôi đã xây dựng hai kịch bản rủi ro cụ thể:

Kịch bản 1 (Rủi ro Cao): El Nino ở cường độ trung bình đến mạnh, suy yếu từ đầu năm 2027. Lượng mưa và dòng chảy thâm hụt 10-20%, gây hạn hán và xâm nhập mặn ở mức cao hơn trung bình.

Kịch bản 2 (Rủi ro Rất cao): El Nino đạt cấp rất mạnh (Nino 3.4 > +2,0oC) kéo dài đến giữa năm 2027. Mưa thâm hụt 20-40% (Nam Trung Bộ >50%), mùa mưa 2027 đến muộn. Nhiều hồ chứa lớn không tích đủ nước; xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long rơi vào mức tương đương hoặc gay gắt hơn các đợt kỷ lục 2015-2016 và 2019-2020.

Song song, Cục đề xuất Khung kỹ thuật dự báo dựa trên tác động vận hành theo chuỗi chuyển đổi thông tin: Tín hiệu ENSO - Dị thường khí tượng thủy văn - Hiểm họa khí tượng thủy văn - Đánh giá độ phơi bày và Ngưỡng chịu đựng - Dự báo nguy cơ tác động - Kích hoạt hành động sớm.

Trong mô hình này, Cục Khí tượng Thủy văn đóng vai trò cung cấp dữ liệu hiểm họa (mưa, nhiệt, ranh mặn). Các Bộ, ngành chuyên môn cung cấp dữ liệu phơi bày (diện tích gieo trồng, dung tích hồ chứa, ngưỡng lấy nước của các nhà máy). Chính quyền địa phương căn cứ vào đó để xây dựng phương án và kịch bản hành động ứng phó từ sớm. Đây là bước chuẩn bị then chốt nhằm đưa thông tin khí tượng thủy văn sát hơn với nhu cầu chỉ đạo, điều hành thực tế.

vna-potal-quang-tri-bo-doi-bien-phong-phoi-hop-khong-che-cac-vu-chay-rung-8897949.jpg
Cháy rừng-nguy cơ hiện hữu xuất phát từ hiện tượng El Nino.

- Từ các kịch bản rủi ro và khung cảnh báo tác động này, những khu vực cùng các ngành kinh tế nào cần đặc biệt lưu tâm ứng phó trong thời gian tới, thưa ông?

- Theo nhận định ban đầu, Duyên hải Nam Trung Bộ, Cao nguyên Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là ba khu vực cần ưu tiên theo dõi sát sao nhất.

Tại Duyên hải Nam Trung Bộ và Cao nguyên Trung Bộ, nguy cơ chủ yếu là thiếu mưa, nắng nóng, suy giảm dòng chảy, thiếu nước hồ chứa và hạn hán kéo dài. Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, cần theo dõi chặt chẽ dòng chảy thượng nguồn sông Mê Công, nguồn nước ngọt, triều và diễn biến xâm nhập mặn trong mùa khô 2026-2027.

Ngoài ba khu vực này, Thanh Hóa-TP Huế, Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc, các lưu vực sông lớn và hệ thống hồ chứa vẫn phải được theo dõi theo từng thời đoạn. Phạm vi và mức độ nguy cơ sẽ được điều chỉnh theo các bản tin khí tượng thủy văn mới.

- Để hiện thực hóa tinh thần “chủ động ứng phó”, Cục Khí tượng Thủy văn đã chuẩn bị những nội dung cụ thể nào cho tình huống El Nino 2026-2027?

- Cục Khí tượng Thủy văn đã hoàn thành báo cáo tổng hợp toàn diện dự báo diễn biến El Nino, nhiệt độ, lượng mưa, dòng chảy, hạn hán và xâm nhập mặn cho chu kỳ từ tháng 8/2026 đến tháng 5/2027.

Trên cơ sở hai kịch bản rủi ro (Cao và Rất cao) đã xây dựng, Cục đã khoanh vùng các khu vực ưu tiên, đồng thời định lượng hóa các nguy cơ tác động đối với nguồn nước, nông nghiệp, năng lượng, cấp nước sinh hoạt và phòng cháy chữa cháy rừng.

Quan trọng hơn cả, Cục đã đề xuất rõ ràng chuỗi chuyển đổi thông tin từ ENSO đến cảnh báo tác động, xác định cụ thể các lớp dữ liệu cần tích hợp và vai trò của từng nhóm cơ quan. Đây chính là khung cơ sở kỹ thuật để ngành Khí tượng thủy văn tiếp tục làm việc, kết nối dữ liệu liên ngành với các Bộ, ngành và địa phương, bảo đảm mọi thông tin cảnh báo đưa ra đều phục vụ trực tiếp cho các quyết định hành động sớm, giảm thiểu được tối đa những tác động của El Nino.

- Trân trọng cảm ơn Phó Cục trưởng!

Về các ngành kinh tế, El Nino 2026-2027 sẽ tác động đến 5 lĩnh vực nhạy cảm với các điều kiện khí tượng thủy văn:

- Nông - Lâm - Thủy sản: Nguy cơ thiếu nước tưới cho cây trồng chủ lực và xâm nhập mặn diện rộng.

- Năng lượng: Lưu lượng nước về các hồ thủy điện giảm, gây áp lực cực lớn cho vận hành hệ thống điện quốc gia trong cao điểm nắng nóng.

- Cấp nước sinh hoạt và Đô thị: Nguy cơ suy giảm nguồn nước thô cho các nhà máy nước.

- Lâm nghiệp: Bốc thoát hơi nước cao làm gia tăng nguy cơ cháy rừng có thể lên cấp IV và cấp V ở nhiều khu vực.

- Thương mại và Giá cả: Hạn hán toàn cầu có thể làm sụt giảm sản lượng nông sản, đẩy giá hàng hóa lên cao - vừa là thách thức, vừa là cơ hội nếu chúng ta quản trị tốt nguồn nước để giữ vững sản xuất.

Có thể bạn quan tâm

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.