Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club
Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Bà Nguyễn Thị Thu Hoan, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia:

Nỗ lực chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật

Thời gian để thực hiện số hóa toàn bộ số lượng hơn 200 nghìn tài liệu, hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia phải từ khoảng 5 - 10 năm, tùy vào mức độ và các điều kiện đáp ứng. Trong điều kiện hiện có, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã số hóa một phần số lượng hiện vật gốc, phục vụ các chuyên đề giới thiệu bảo tàng ảo 3D và một số tài liệu trong tình trạng bảo quản cấp thiết.

Đến nay, Bảo tàng đã hoàn thiện Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu giai đoạn 2025-2030 trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Định hướng chuyển đổi số của Bảo tàng tập trung vào ba mục tiêu chính. Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật, tiến hành tư liệu hóa, số hóa hệ thống tài liệu, hiện vật, xây dựng nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, làm cơ sở cho các hoạt động trưng bày, nghiên cứu và giáo dục. Thứ hai, ứng dụng công nghệ số trong trưng bày, đặc biệt là các trưng bày chuyên đề; phát triển hệ thống tham quan ảo và sản phẩm trải nghiệm số, như nâng cấp các tour tham quan ảo, trưng bày 3D, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR)... để nâng cao trải nghiệm cho khách tham quan. Thứ ba, xây dựng tài liệu giáo dục số; đẩy mạnh giáo dục di sản qua nền tảng số; nghiên cứu, hệ thống hóa tư liệu, số hóa để tạo “ngân hàng dữ liệu” phục vụ giáo dục; xây dựng các chương trình giáo dục di sản trực tuyến, bài giảng tương tác, hoạt động trải nghiệm có ứng dụng công nghệ số phù hợp với học sinh, sinh viên và giáo viên.

Nếu có dịp tham quan trưng bày ảo 3D về bảo vật quốc gia của Bảo tàng, công chúng sẽ thấy hiện vật được giới thiệu không chỉ qua hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau mà còn có nhiều trường thông tin kèm theo. Đối với nguồn thông tin về hiện vật không phải do Bảo tàng thực hiện, chúng tôi vẫn tích hợp nhằm cung cấp cho khách tham quan thêm những kênh/nguồn tham khảo, tạo thuận lợi nếu họ có nhu cầu tra cứu, tìm hiểu, nghiên cứu sâu. Đồng thời, việc này góp phần hình thành mạng lưới cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều hơn, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về tài liệu, hiện vật Bảo tàng đang giới thiệu.

Ông Trịnh Công Quang, Nhà sáng lập, Giám đốc Công ty cổ phần Giải pháp chuyển đổi số VR360:

5-1.jpg

Thay đổi cách tiếp cận di sản của thế hệ trẻ

Các chủ trương, chương trình, đề án số hóa của Đảng, Nhà nước và Chính phủ không chỉ mở đường về mặt chính sách mà còn tạo động lực để nhiều địa phương, đơn vị quản lý di sản chủ động tìm đến các giải pháp công nghệ. Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ như VR360 đồng hành cùng công cuộc số hóa di sản văn hóa quốc gia.

Tuy nhiên, không phải là không có những khó khăn. Nhìn từ góc độ một đơn vị công nghệ tham gia lĩnh vực đặc thù như số hóa di sản, chúng tôi cho rằng khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà nằm ở sự đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và yêu cầu số hóa.

Với một số di tích, hiện vật lịch sử cấp quốc gia, công tác số hóa phải được thực hiện hết sức thận trọng, cần có sự tham vấn chặt chẽ với các chuyên gia bảo tồn, tránh sai lệch thông tin hay làm mất đi tính nguyên bản của di sản.

Là một đơn vị bên ngoài cơ quan quản lý, vận hành di sản, trước khi tiếp cận hiện trường để tiến hành số hóa, chúng tôi thường phải qua nhiều bước làm việc với các cấp quản lý khác nhau ở địa phương và ban quản lý di tích. Vì vậy, chúng tôi mong muốn có hướng dẫn cụ thể và thống nhất để giúp quá trình phối hợp giữa các đơn vị/công ty công nghệ, cơ quan quản lý di sản và chủ đầu tư thuận lợi hơn.

Tính tới thời điểm hiện tại và riêng trong lĩnh vực văn hóa, VR360 đã triển khai số hóa cho hơn 300 dự án khác nhau trên cả nước, bao gồm từ di tích lịch sử, bảo tàng, khu lưu niệm đến các hiện vật riêng lẻ.

Kể từ khi bắt đầu triển khai, chúng tôi nhận thấy một sự thay đổi rất rõ trong cách công chúng, đặc biệt là giới trẻ và học sinh, sinh viên, tiếp cận với di sản văn hóa. Một trong những dự án tiêu biểu mà chúng tôi tự hào đồng hành là số hóa hơn 300 địa chỉ đỏ tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi ra mắt vào năm 2024, sản phẩm vẫn đang được Thành Đoàn Hà Nội sử dụng làm tư liệu giúp các đoàn viên thanh niên hiểu rõ về những giá trị lịch sử của từng địa chỉ đỏ. Ngoài ra, dự án cũng được xem như một cổng học liệu mở, phục vụ việc giảng dạy lịch sử của các trường học trên cả nước. Theo ghi nhận từ VR360, liên kết trực tiếp của dự án thu hút gần 100 nghìn lượt truy cập, tính từ thời điểm sản phẩm ra mắt đến cuối năm 2025. Chúng tôi coi đây là minh chứng cho thấy nhu cầu tiếp cận di sản qua không gian số của công chúng đang tăng lên rất nhanh chóng.

Trong hợp tác với các tổ chức, cơ quan liên quan, VR360 đặc biệt coi trọng an ninh dữ liệu vì dữ liệu số hóa di sản, nhất là dữ liệu 3D, hình ảnh độ phân giải cao của hiện vật có giá trị rất lớn và cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Các dự án của chúng tôi, trước khi chuyển giao cho khách hàng, chủ đầu tư, đều có cơ chế bảo mật, mã hóa dữ liệu, phân quyền truy cập theo từng vai trò cũng như có chính sách, quy trình sao lưu rõ ràng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An, Khoa Thiết kế truyền thông thị giác, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương:

5-2.jpg

Số hóa để phục vụ và bảo vệ di sản gốc

Ở góc độ của một nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ, tôi nghĩ rằng, việc số hóa di sản văn hóa nói chung là tốt, để lại dữ liệu lâu dài cho thế hệ sau. Thông thường, để tiếp cận di tích, hiện vật, bảo vật quốc gia, nhà nghiên cứu phải đến tận nơi, xin phép qua nhiều thủ tục, và đôi khi không thể quan sát cận cảnh. Bởi vậy, tư liệu số hóa di sản, với các hình ảnh 3D, 2D độ phân giải cao, giúp có thể phóng to từng nét đục, nét chạm, lật trở các góc cạnh để soi rõ từng chi tiết, các góc khuất của hiện vật mà không bị giới hạn bởi ngoại cảnh hoặc lý do an ninh, an toàn.

Tuy nhiên, việc chăm sóc, bảo vệ di sản thật ngoài đời vẫn vô cùng cần thiết, để con người cảm nhận được sâu sắc và rung động nhất vẻ đẹp, giá trị nhiều mặt của di tích/di sản/hiện vật. Một hiện vật hay di tích cổ có giá trị là bởi nó hàm chứa yếu tố thời gian. Cảm giác đứng trước một mái đình hàng trăm năm tuổi, chạm tay vào thớ gỗ sần sùi, ngửi mùi rêu ẩm sau mưa, hay nhìn bóng nắng đổ dài trên một pho tượng cổ... là những trải nghiệm mang tính thức tỉnh các giác quan. Bảo vệ di sản vật thể ngoài đời thực chính là bảo vệ gốc rễ để dòng chảy văn hóa không bị đứt gãy. Công nghệ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện chứ không bao giờ có thể là mục đích cuối cùng hay sự thay thế hoàn toàn cho thực tại.

Tựu chung, số hóa để phục vụ công chúng và bảo vệ di sản gốc. Nếu có biến cố xảy ra, dữ liệu số hóa sẽ cung cấp thông tin về hiện vật thật một cách chính xác nhất, tránh nguy cơ làm sai lệch hay làm mới di sản một cách vô tri. Số hóa góp phần giảm áp lực phục vụ con người cho di sản thật. Một di tích nếu thường xuyên đón quá nhiều khách tham quan thì sẽ đối mặt với nguy cơ xuống cấp nhanh chóng; ô nhiễm không khí, độ ẩm thay đổi từ hơi người làm hỏng hiện vật... Lúc này, trải nghiệm số hóa như phòng trưng bày ảo, kính AR tại chỗ, giúp người xem vẫn thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu mà không trực tiếp xâm hại đến hiện vật gốc.

Mặt khác, qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, các em sinh viên rất nhạy bén với công nghệ khi lên ý tưởng sáng tạo theo các chuyên ngành minh họa, hoạt hình và ngành công nghiệp game. Tuy nhiên, hiện nay, khi làm đồ án tốt nghiệp hoặc các dự án phim hoạt hình, làm game lấy bối cảnh Việt Nam, sinh viên mất quá nhiều thời gian tìm kiếm tư liệu và đôi khi, không tránh khỏi sự nhầm lẫn, sai sót về lịch sử, đặc điểm nhận diện.

Nếu có một kho dữ liệu lớn chính thống và mở về di sản văn hóa Việt Nam, bao gồm hình ảnh và tài liệu liên quan, thì đó sẽ là một cú huých lịch sử cho sáng tạo và thúc đẩy phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa của thế hệ trẻ hôm nay cũng như trong tương lai. Khi có sẵn dữ liệu với độ phân giải cao, sinh viên làm minh họa truyện, hoạt hình 3D hay làm game có thể bóc tách, trích đoạn hoa văn từ các tệp thông tin về bảo vật quốc gia, hiện vật giàu giá trị thẩm mỹ qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn... để tham khảo, mô phỏng, làm nguồn cảm hứng trong thiết kế trang phục nhân vật, vũ khí, hay xây dựng bối cảnh. Nói cách khác, các em có cơ hội sáng tạo dựa trên nền tảng tri thức vững chắc, tạo nên sản phẩm vừa mang tính hiện đại vừa có chiều sâu văn hóa dân tộc đậm nét.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Xây dựng văn hóa hành động trong đội ngũ cán bộ

Tâm lý e ngại, sợ sai, sợ rủi ro và thói quen đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ đã được nhận diện là một “điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn”, làm trì hoãn không ít cơ hội phát triển của đất nước. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đánh dấu bước đột phá về định hướng tư duy trong công tác cán bộ.

Cán bộ đồn biên phòng Phó Bảng (Tuyên Quang) lắng nghe ý kiến của bà con. Ảnh: Thành Đạt

Khơi dậy khát vọng cống hiến cho đất nước

Trong hành trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu người dám nghĩ, dám làm, dám xông vào nơi đầu sóng ngọn gió để mở đường cho cuộc sống. Từ khát vọng chinh phục thiên tai của người nông dân đến tính tiên phong, bản lĩnh của những cán bộ trước một quyết định lớn, luôn là nguồn sức mạnh đưa đất nước tiến lên. Nghị quyết số 24 -NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị, vì thế, không chỉ đáp ứng yêu cầu công tác cán bộ, mà còn khơi dậy khát vọng chinh phục đã được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử, làm nên cốt cách con người Việt Nam.

TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội.

“Nghị quyết 24 đã đánh đúng và trúng vào điểm nghẽn của công tác cán bộ”

Để luận giải sâu hơn về những “nút thắt” thể chế được tháo gỡ cũng như tính khả thi khi đưa Nghị quyết số 24-NQ/TW vào đời sống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Nguyễn Viết Chức - nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội. 

Lãnh đạo Thành ủy Quảng Ninh cùng phường Bãi Cháy và các cơ quan chức năng trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho các dự án chậm tiến độ trên địa bàn phường.

Khuyến khích hành động và kiểm soát rủi ro bằng thể chế

Nhiều năm qua, thực tiễn đã chứng minh Quảng Ninh luôn là một trong những địa phương được Trung ương đánh giá cao về tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đi trước, làm trước với những kết quả tích cực, qua đó tạo sự phát triển vượt bậc, bứt phá.

Cán bộ xã Sơn Tây Thượng (Quảng Ngãi) hướng dẫn người dân trồng cà-phê xen canh.

Những chuyển động từ cơ sở

Sau một năm triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hành chính tỉnh Quảng Ngãi đã có nhiều chuyển biến rõ nét. Việc đẩy mạnh phân cấp, phân quyền giúp chính quyền cơ sở tự tin, chủ động đưa nhiều quyết sách hợp với thực tiễn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới.

Chương trình nghệ thuật đặc biệt Xuân Quê hương 2026. Ảnh: An Đăng

Nối vòng tay lớn, phát huy nguồn lực kiều bào

Trong giai đoạn phát triển mới, việc ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW là yêu cầu khách quan, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về người Việt Nam ở nước ngoài và công tác người Việt Nam ở nước ngoài.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Canada. Ảnh: Thống Nhất

Tầm nhìn chiến lược trong giai đoạn phát triển mới

Nhất quán tinh thần đoàn kết trong đường lối chiến lược về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW - văn kiện chính trị quan trọng thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược của Đảng trong giai đoạn phát triển mới.

TS Trần Hải Linh.

Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Cộng đồng người Việt tại Nga - nhịp cầu vững chắc nối tình hữu nghị Việt-Nga. Ảnh: Tâm Hằng

Chất xúc tác khơi lên tiềm lực kiều bào

Hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ hướng về quê hương, mà nhờ sự gắn kết của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, có thể cùng hơn 100 triệu người Việt Nam trong nước tạo thành một mạng lưới chung của trí tuệ, khát vọng và hành động.

Nghị quyết số 23-NQ/TW mang tới những định hướng quan trọng và rất mới về giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn kết với quê hương. Ảnh: Xuân Giao

Xây những nhịp cầu mang văn hóa Việt Nam ra thế giới

Bên cạnh câu hỏi quen thuộc “Kiều bào có thể đóng góp gì cho đất nước?”, chúng ta cần đặt thêm một câu hỏi quan trọng không kém: “Đất nước có thể tạo điều kiện ra sao để kiều bào phát huy tốt nhất khả năng đóng góp của mình?”. Đây là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt đối với một cộng đồng đông đảo, đa dạng và có lịch sử hình thành rất khác nhau như người Việt Nam ở nước ngoài.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.