Đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và số hóa

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà quản lý, nhà nghiên cứu và đại diện đơn vị công nghệ tham gia số hóa di tích, di sản văn hóa về tác động xã hội của thành quả ban đầu trong công tác số hóa di sản văn hóa, cũng như những khả thể trong kiến thiết một nền tảng dữ liệu lớn về di sản văn hóa Việt Nam.

Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club
Đồ án tốt nghiệp thiết kế bao bì và đồ chơi 3D mang tên Thanh Cầm của sinh viên Bùi Khánh Linh, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương, lấy cảm hứng từ trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: NUAE Photography Club

Bà Nguyễn Thị Thu Hoan, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia:

Nỗ lực chuẩn hóa, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật

Thời gian để thực hiện số hóa toàn bộ số lượng hơn 200 nghìn tài liệu, hiện vật tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia phải từ khoảng 5 - 10 năm, tùy vào mức độ và các điều kiện đáp ứng. Trong điều kiện hiện có, Bảo tàng Lịch sử quốc gia đã số hóa một phần số lượng hiện vật gốc, phục vụ các chuyên đề giới thiệu bảo tàng ảo 3D và một số tài liệu trong tình trạng bảo quản cấp thiết.

Đến nay, Bảo tàng đã hoàn thiện Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu giai đoạn 2025-2030 trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Định hướng chuyển đổi số của Bảo tàng tập trung vào ba mục tiêu chính. Thứ nhất, hoàn thiện cơ sở dữ liệu số về hiện vật, tiến hành tư liệu hóa, số hóa hệ thống tài liệu, hiện vật, xây dựng nền tảng dữ liệu chuẩn hóa, làm cơ sở cho các hoạt động trưng bày, nghiên cứu và giáo dục. Thứ hai, ứng dụng công nghệ số trong trưng bày, đặc biệt là các trưng bày chuyên đề; phát triển hệ thống tham quan ảo và sản phẩm trải nghiệm số, như nâng cấp các tour tham quan ảo, trưng bày 3D, ứng dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR)... để nâng cao trải nghiệm cho khách tham quan. Thứ ba, xây dựng tài liệu giáo dục số; đẩy mạnh giáo dục di sản qua nền tảng số; nghiên cứu, hệ thống hóa tư liệu, số hóa để tạo “ngân hàng dữ liệu” phục vụ giáo dục; xây dựng các chương trình giáo dục di sản trực tuyến, bài giảng tương tác, hoạt động trải nghiệm có ứng dụng công nghệ số phù hợp với học sinh, sinh viên và giáo viên.

Nếu có dịp tham quan trưng bày ảo 3D về bảo vật quốc gia của Bảo tàng, công chúng sẽ thấy hiện vật được giới thiệu không chỉ qua hình ảnh ở nhiều góc độ khác nhau mà còn có nhiều trường thông tin kèm theo. Đối với nguồn thông tin về hiện vật không phải do Bảo tàng thực hiện, chúng tôi vẫn tích hợp nhằm cung cấp cho khách tham quan thêm những kênh/nguồn tham khảo, tạo thuận lợi nếu họ có nhu cầu tra cứu, tìm hiểu, nghiên cứu sâu. Đồng thời, việc này góp phần hình thành mạng lưới cung cấp thông tin đầy đủ, đa chiều hơn, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về tài liệu, hiện vật Bảo tàng đang giới thiệu.

Ông Trịnh Công Quang, Nhà sáng lập, Giám đốc Công ty cổ phần Giải pháp chuyển đổi số VR360:

5-1.jpg

Thay đổi cách tiếp cận di sản của thế hệ trẻ

Các chủ trương, chương trình, đề án số hóa của Đảng, Nhà nước và Chính phủ không chỉ mở đường về mặt chính sách mà còn tạo động lực để nhiều địa phương, đơn vị quản lý di sản chủ động tìm đến các giải pháp công nghệ. Chúng tôi cho rằng đây là thời điểm thuận lợi để các doanh nghiệp công nghệ như VR360 đồng hành cùng công cuộc số hóa di sản văn hóa quốc gia.

Tuy nhiên, không phải là không có những khó khăn. Nhìn từ góc độ một đơn vị công nghệ tham gia lĩnh vực đặc thù như số hóa di sản, chúng tôi cho rằng khó khăn lớn nhất không nằm ở công nghệ, mà nằm ở sự đồng bộ giữa yêu cầu bảo tồn và yêu cầu số hóa.

Với một số di tích, hiện vật lịch sử cấp quốc gia, công tác số hóa phải được thực hiện hết sức thận trọng, cần có sự tham vấn chặt chẽ với các chuyên gia bảo tồn, tránh sai lệch thông tin hay làm mất đi tính nguyên bản của di sản.

Là một đơn vị bên ngoài cơ quan quản lý, vận hành di sản, trước khi tiếp cận hiện trường để tiến hành số hóa, chúng tôi thường phải qua nhiều bước làm việc với các cấp quản lý khác nhau ở địa phương và ban quản lý di tích. Vì vậy, chúng tôi mong muốn có hướng dẫn cụ thể và thống nhất để giúp quá trình phối hợp giữa các đơn vị/công ty công nghệ, cơ quan quản lý di sản và chủ đầu tư thuận lợi hơn.

Tính tới thời điểm hiện tại và riêng trong lĩnh vực văn hóa, VR360 đã triển khai số hóa cho hơn 300 dự án khác nhau trên cả nước, bao gồm từ di tích lịch sử, bảo tàng, khu lưu niệm đến các hiện vật riêng lẻ.

Kể từ khi bắt đầu triển khai, chúng tôi nhận thấy một sự thay đổi rất rõ trong cách công chúng, đặc biệt là giới trẻ và học sinh, sinh viên, tiếp cận với di sản văn hóa. Một trong những dự án tiêu biểu mà chúng tôi tự hào đồng hành là số hóa hơn 300 địa chỉ đỏ tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi ra mắt vào năm 2024, sản phẩm vẫn đang được Thành Đoàn Hà Nội sử dụng làm tư liệu giúp các đoàn viên thanh niên hiểu rõ về những giá trị lịch sử của từng địa chỉ đỏ. Ngoài ra, dự án cũng được xem như một cổng học liệu mở, phục vụ việc giảng dạy lịch sử của các trường học trên cả nước. Theo ghi nhận từ VR360, liên kết trực tiếp của dự án thu hút gần 100 nghìn lượt truy cập, tính từ thời điểm sản phẩm ra mắt đến cuối năm 2025. Chúng tôi coi đây là minh chứng cho thấy nhu cầu tiếp cận di sản qua không gian số của công chúng đang tăng lên rất nhanh chóng.

Trong hợp tác với các tổ chức, cơ quan liên quan, VR360 đặc biệt coi trọng an ninh dữ liệu vì dữ liệu số hóa di sản, nhất là dữ liệu 3D, hình ảnh độ phân giải cao của hiện vật có giá trị rất lớn và cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Các dự án của chúng tôi, trước khi chuyển giao cho khách hàng, chủ đầu tư, đều có cơ chế bảo mật, mã hóa dữ liệu, phân quyền truy cập theo từng vai trò cũng như có chính sách, quy trình sao lưu rõ ràng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Quách Thị Ngọc An, Khoa Thiết kế truyền thông thị giác, Trường đại học Sư phạm nghệ thuật Trung ương:

5-2.jpg

Số hóa để phục vụ và bảo vệ di sản gốc

Ở góc độ của một nhà nghiên cứu mỹ thuật cổ, tôi nghĩ rằng, việc số hóa di sản văn hóa nói chung là tốt, để lại dữ liệu lâu dài cho thế hệ sau. Thông thường, để tiếp cận di tích, hiện vật, bảo vật quốc gia, nhà nghiên cứu phải đến tận nơi, xin phép qua nhiều thủ tục, và đôi khi không thể quan sát cận cảnh. Bởi vậy, tư liệu số hóa di sản, với các hình ảnh 3D, 2D độ phân giải cao, giúp có thể phóng to từng nét đục, nét chạm, lật trở các góc cạnh để soi rõ từng chi tiết, các góc khuất của hiện vật mà không bị giới hạn bởi ngoại cảnh hoặc lý do an ninh, an toàn.

Tuy nhiên, việc chăm sóc, bảo vệ di sản thật ngoài đời vẫn vô cùng cần thiết, để con người cảm nhận được sâu sắc và rung động nhất vẻ đẹp, giá trị nhiều mặt của di tích/di sản/hiện vật. Một hiện vật hay di tích cổ có giá trị là bởi nó hàm chứa yếu tố thời gian. Cảm giác đứng trước một mái đình hàng trăm năm tuổi, chạm tay vào thớ gỗ sần sùi, ngửi mùi rêu ẩm sau mưa, hay nhìn bóng nắng đổ dài trên một pho tượng cổ... là những trải nghiệm mang tính thức tỉnh các giác quan. Bảo vệ di sản vật thể ngoài đời thực chính là bảo vệ gốc rễ để dòng chảy văn hóa không bị đứt gãy. Công nghệ, suy cho cùng, chỉ là phương tiện chứ không bao giờ có thể là mục đích cuối cùng hay sự thay thế hoàn toàn cho thực tại.

Tựu chung, số hóa để phục vụ công chúng và bảo vệ di sản gốc. Nếu có biến cố xảy ra, dữ liệu số hóa sẽ cung cấp thông tin về hiện vật thật một cách chính xác nhất, tránh nguy cơ làm sai lệch hay làm mới di sản một cách vô tri. Số hóa góp phần giảm áp lực phục vụ con người cho di sản thật. Một di tích nếu thường xuyên đón quá nhiều khách tham quan thì sẽ đối mặt với nguy cơ xuống cấp nhanh chóng; ô nhiễm không khí, độ ẩm thay đổi từ hơi người làm hỏng hiện vật... Lúc này, trải nghiệm số hóa như phòng trưng bày ảo, kính AR tại chỗ, giúp người xem vẫn thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu mà không trực tiếp xâm hại đến hiện vật gốc.

Mặt khác, qua thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy, các em sinh viên rất nhạy bén với công nghệ khi lên ý tưởng sáng tạo theo các chuyên ngành minh họa, hoạt hình và ngành công nghiệp game. Tuy nhiên, hiện nay, khi làm đồ án tốt nghiệp hoặc các dự án phim hoạt hình, làm game lấy bối cảnh Việt Nam, sinh viên mất quá nhiều thời gian tìm kiếm tư liệu và đôi khi, không tránh khỏi sự nhầm lẫn, sai sót về lịch sử, đặc điểm nhận diện.

Nếu có một kho dữ liệu lớn chính thống và mở về di sản văn hóa Việt Nam, bao gồm hình ảnh và tài liệu liên quan, thì đó sẽ là một cú huých lịch sử cho sáng tạo và thúc đẩy phát triển sản phẩm công nghiệp văn hóa của thế hệ trẻ hôm nay cũng như trong tương lai. Khi có sẵn dữ liệu với độ phân giải cao, sinh viên làm minh họa truyện, hoạt hình 3D hay làm game có thể bóc tách, trích đoạn hoa văn từ các tệp thông tin về bảo vật quốc gia, hiện vật giàu giá trị thẩm mỹ qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn... để tham khảo, mô phỏng, làm nguồn cảm hứng trong thiết kế trang phục nhân vật, vũ khí, hay xây dựng bối cảnh. Nói cách khác, các em có cơ hội sáng tạo dựa trên nền tảng tri thức vững chắc, tạo nên sản phẩm vừa mang tính hiện đại vừa có chiều sâu văn hóa dân tộc đậm nét.

Có thể bạn quan tâm

Các bạn trẻ tương tác với màn hình ở kios tìm hiểu thông tin về Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Ảnh: Đại Dương

Cần một “nhạc trưởng”

Mọi lĩnh vực của đời sống văn hóa đang chuyển động theo chiều hướng tích cực nhờ ứng dụng các công nghệ hiện đại. Trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam, việc triển khai Chương trình số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và có hiệu lực kể từ ngày ký, ngày 2/12/2021, đã cho thấy rất rõ một thực tiễn: Công nghệ đã giúp mở rộng tầm nhìn về di sản.

Lâu đài Shuri trước khi bị hỏa hoạn. Nguồn: CC BY-SA 4.0

Phương thức tiếp cận linh hoạt và hiệu quả

Trước những tác động của thời gian, biến đổi khí hậu, thiên tai và quá trình đô thị hóa, việc số hóa di sản đã và đang trở thành một xu hướng được nhiều quốc gia quan tâm như một giải pháp hỗ trợ công tác bảo tồn, nghiên cứu và quảng bá di sản.

Các triển lãm, trưng bày phát huy giá trị của lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II thu hút sự quan tâm của công chúng. Nguồn: NAC2

Những cánh cửa đang ngày càng rộng mở

Hàng loạt triển lãm được thiết kế hiện đại, hình ảnh phong phú, tài liệu văn bản được chuyển ngữ tiếng Việt bên cạnh ngoại ngữ phổ biến là tiếng Anh, được trình hiện cả trong không gian vật lý và trực tuyến. Cùng đó, việc số hóa thúc đẩy công tác truyền thông của các Trung tâm lưu trữ quốc gia đã và đang góp phần quan trọng làm rộng mở hơn bao giờ hết lối về lịch sử cho công chúng hôm nay, nhất là lớp trẻ.

Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và đối tác trao đổi về kỹ thuật quét 3D tại Điện Thái Hòa. Ảnh: Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế

Cơ hội lớn cho kinh tế số

Cả nước hiện có 357 bảo vật quốc gia, 153 di tích quốc gia đặc biệt, 6 di sản văn hóa, 2 di sản thiên nhiên, 1 di sản hỗn hợp, 11 di sản tư liệu và 17 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh ở cấp độ thế giới hoặc khu vực. Bên cạnh công tác bảo vệ và phát huy giá trị của các di sản, di tích, hiện vật đặc biệt quý giá này ở định dạng vật lý, việc số hóa một cách bài bản sẽ đem lại rất nhiều lợi ích về văn hóa và kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nguồn: HAI

TỪ ÁP LỰC AN SINH ĐẾN NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN

Khi con người khỏe mạnh hơn và tiếp tục cống hiến lâu hơn, chính khái niệm về tuổi già cũng đang được viết lại. Từ những chuyển động của kinh tế, chính sách đến sự thay đổi trong mỗi gia đình, thế giới đang bước vào một kỷ nguyên dân số mới, nơi giá trị của một quốc gia không chỉ được đo bằng quy mô dân số, mà còn bằng khả năng phát huy nguồn vốn con người ở mọi lứa tuổi.

Thế hệ người cao tuổi hôm nay có sức khỏe và khả năng tham gia các hoạt động kinh tế-xã hội tốt hơn trước. Nguồn: HAI

Viết lại mệnh đề dân số

Thành tựu y tế cùng xu hướng giảm sinh đang tạo nên một cuộc biến đổi nhân khẩu học sâu sắc nhất lịch sử: Già hóa dân số toàn cầu. Đã đến lúc không thể nhìn nhận cục diện này như một bài toán an sinh thuần túy, mà cần chuyển hóa thành động lực đổi mới mô hình phát triển, khơi thông nguồn vốn con người và kiến tạo tương lai bền vững.

Những gia đình bốn thế hệ ngày càng nhiều trong xã hội. Ảnh: HẢI NAM

Để một ngày được già đi trong tự chủ

Chúng ta vẫn quen nói đến già hóa dân số bằng những con số: Tỷ lệ người cao tuổi tăng lên, mức sinh giảm xuống, tuổi thọ ngày càng kéo dài. Nhưng sau những biểu đồ và dự báo ấy là một thay đổi âm thầm hơn rất nhiều: Cấu trúc của mỗi gia đình đang được viết lại.

Một người thợ cao niên đang cần mẫn làm việc, hình ảnh dễ thấy tại Nhật Bản. Ảnh: NYT

Cách thế giới khai thác nền kinh tế bạc

Nhật Bản kéo dài tuổi lao động đến 70 và khuyến khích các doanh nghiệp tuyển dụng người già, còn Trung Quốc muốn thu hút hàng chục nghìn tỷ nhân dân tệ (NDT) từ túi tiền của thế hệ cao niên. Hai chiến lược khác nhau cho cùng một bài toán kinh tế bạc: Làm sao để duy trì tăng trưởng, khi dân số ngày càng già đi?

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chăm sóc người cao tuổi đòi hỏi nhiều kỹ năng chuyên nghiệp. Nguồn: Dự án GRACE

Nghề chưa được gọi đúng tên

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cùng với đà tăng của tuổi thọ, nhu cầu chăm sóc dài hạn sẽ trở thành một trong những thách thức lớn nhất của các quốc gia, đòi hỏi phải phát triển đội ngũ chăm sóc chuyên nghiệp, có kỹ năng và lấy người cao tuổi làm trung tâm.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.