Tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách

Việc "hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập" được xem là một trong những nhóm nhiệm vụ và giải pháp quan trọng đã được đề ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Để làm rõ hơn vấn đề này và những kết quả đã đạt được trong thực tiễn, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc phỏng vấn ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Giáo dục thường xuyên (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

- Xin ông cho biết, sau 10 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, chủ trương xây dựng, phát triển "hệ thống giáo dục mở" đã được triển khai trên thực tế ra sao?

- Luật Giáo dục 2019 đã luật hóa nhiều nội dung của Nghị quyết 29. Đặc biệt đối với giáo dục thường xuyên, thể hiện bằng một mục riêng: Mục 2 - Giáo dục thường xuyên (từ Điều 41 đến Điều 46). Các điều khoản chi tiết trong Luật cho thấy rõ hơn rằng hệ thống giáo dục quốc dân là hệ thống giáo dục mở, liên thông gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên - đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập. Nhằm cụ thể hóa mục tiêu trong Nghị quyết đối với giáo dục thường xuyên: Bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững - cần hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa, Luật Giáo dục đã có quy định cụ thể.

Như vậy, mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên cùng với các chương trình và hình thức giáo dục thường xuyên, thời gian qua, đã thúc đẩy việc học tập suốt đời của người dân, góp phần xây dựng xã hội học tập từ cơ sở. Tuy nhiên, việc thực thi tại địa phương, cơ sở cần được cụ thể, phù hợp với đặc thù, điều kiện thực tế. Chính quyền địa phương các cấp căn cứ các quy định, quy hoạch, kế hoạch cụ thể để cụ thể hóa các phần việc của địa phương theo phân cấp. Chẳng hạn như các điều kiện thực hiện liên quan tới con người, cơ sở vật chất, trang thiết bị,…

- Theo ông, đâu là "nút thắt" cần tháo gỡ ở thời điểm hiện tại, cả về chính sách và thực tiễn?

- Trước tiên, có một số vấn đề cần tiếp tục được triển khai thực hiện đồng bộ từ quy định và thực thi tại địa phương, cơ sở như:

Một là, cần cụ thể hóa một số quy định dưới Luật trong Nghị định của Chính phủ như: việc phân cấp quản lý nhà nước đối với một số cơ sở giáo dục thường xuyên như đối với trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, các trung tâm khác thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên

Hai là, hoàn thiện các quy định về quy trình, thủ tục thành lập, cấp phép hoạt động, chia tách, giải thể đối với các loại hình cơ sở giáo dục thường xuyên mới được luật hóa. Tạo nền tảng pháp lý cho việc tiếp tục triển khai mô hình tại cơ sở và tạo đà cho việc tăng cường xã hội hóa giáo dục thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân cung ứng các chương trình giáo dục thường xuyên có chất lượng.

Ba là, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các chương trình giáo dục thường xuyên như: Chương trình xóa mù chữ, Chương trình cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông; các chương trình này được xây dựng tương đương với chương trình phổ thông 2018 theo định hướng tiếp cận năng lực và phẩm chất người học theo tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW. Trước khi triển khai thực hiện các Chương trình, Bộ đã tập huấn cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán cho các địa phương. Theo quy định về phân cấp, các điều kiện thực hiện chương trình liên quan tới cán bộ quản lý, giáo viên và điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị dạy học địa phương cần bảo đảm để việc thực hiện các chương trình có chất lượng.

Bốn là, nhận thức về giáo dục thường xuyên ở các bộ, ngành, địa phương các cấp cần thay đổi, phù hợp xu thế phát triển đất nước hiện nay. Trong một giai đoạn lịch sử nhất định, giáo dục thường xuyên giải quyết thực tế của đất nước là xóa mù chữ và bổ túc văn hóa (sau khi thống nhất đất nước, nhiều cán bộ cần nâng cao trình độ văn hóa). Giai đoạn ngày nay là thúc đẩy học tập suốt đời. Chủ trương học tập suốt đời không chỉ có trong tinh thần của Nghị quyết 29-NQ/TW mà còn đề cập trong nhiều nghị quyết của Đảng…

Giáo dục thường xuyên hiện nay, không phải chú trọng vào việc thực hiện chương trình lấy bằng tốt nghiệp phổ thông mà cần đáp ứng nhu cầu cần gì học nấy của người học, thúc đẩy học tập suốt đời. Do đó, tại các cơ sở giáo dục thường xuyên đang triển khai đa dạng hóa các chương trình, khóa học tập, bồi dưỡng ngắn hạn, cung ứng cho người dân cơ hội học tập mọi nơi, mọi lúc, không nhất thiết chỉ có học tập để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân mà theo ghi nhận xu thế hiện nay các khóa học đáp ứng nhu cầu không lấy văn bằng ngày một tăng nhanh.

Vì vậy, nhận thức hiện nay tại các cấp chính quyền địa phương, các ban, ngành cùng với ngành giáo dục cũng cần thay đổi theo quan niệm, xu thế về giáo dục thường xuyên.

Lễ khai giảng năm học 2023-2024 tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên thành phố Chí Linh (Hải Dương). Ảnh: THÙY DƯƠNG
Lễ khai giảng năm học 2023-2024 tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên thành phố Chí Linh (Hải Dương). Ảnh: THÙY DƯƠNG

- Cùng với những nỗ lực cần sự chung tay của toàn xã hội đó, để có thể mang tới những chuyển động tích cực trong định hướng ngắn hạn, theo ông, cần phải tập trung vào những nội dung gì?

- Giáo dục thường xuyên hiện nay phát triển cùng với xu thế chung của thế giới là giáo dục suốt đời. Các quốc gia trên thế giới rất quan tâm tới giáo dục thường xuyên (tên gọi có thể khác Việt Nam như giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy, giáo dục người lớn, giáo dục suốt đời…). Nhiều quốc gia đã có luật giáo dục suốt đời riêng. Luật này tác động, thúc đẩy rất lớn tới việc học tập thường xuyên, liên tục, học suốt đời của mọi người dân, đặc biệt là cho đối tượng người lớn tuổi.

Trong xu thế tất yếu hiện nay, khi nước ta đang từng bước hội nhập quốc tế sâu rộng, thì giáo dục thường xuyên càng phải được quan tâm nhiều hơn. Giáo dục suốt đời góp phần tái tạo tài nguyên con người, không một ai muốn giỏi, muốn làm việc tốt mà không học tập thường xuyên, suốt đời. Do đó, việc tăng cường luật hóa giáo dục suốt đời tại Việt Nam cũng sẽ là xu thế tất yếu mà chúng ta cần sớm quan tâm xây dựng. Cụ thể hóa được điều này, có cơ chế, quy định rõ hơn về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế… trong việc cung ứng các khóa học và tạo điều kiện cho mọi người dân được học tập suốt đời, song song với đó là trách nghiệm học tập suốt đời của mỗi công dân.

Trước mắt, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện thể chế, chính sách về Giáo dục thường xuyên theo Luật Giáo dục 2019 để tạo hành lang pháp lý phát triển giáo dục thường xuyên trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, toàn bộ hệ thống chính trị cần tập trung xây dựng, hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên để người dân các độ tuổi có nơi để học tập, có chương trình học tập thiết thực, hiệu quả, trực tiếp nâng cao năng suất lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, làm giàu cho bản thân, cho gia đình... là nền tảng phát triển xã hội. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân cùng tham gia hỗ trợ, đồng hành xây dựng các mô hình học tập như: cộng đồng học tập, đơn vị học tập, dòng họ học tập, công dân học tập… từng bước hình thành một xã hội học tập.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.