Tăng tốc cuộc cách mạng thanh toán số

Thanh toán không dùng tiền mặt đang khẳng định vị thế ưu việt với tốc độ tăng trưởng ấn tượng tại nhiều địa phương, dần trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế hiện đại.

Phần lớn người trẻ lựa chọn các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. (Ảnh BẢO LONG)
Phần lớn người trẻ lựa chọn các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. (Ảnh BẢO LONG)

Tuy nhiên, để tiếp đà tăng trưởng, nhất là ở vùng đặc thù như miền núi, vùng sâu, vùng xa, cần tháo gỡ những nút thắt về hạ tầng kỹ thuật và nhận thức của người dân.

Từ thẻ vật lý đến “một chạm”

Hành trình thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam, đi từ “có thể dùng được” đến “dễ dùng” và sau đó là “dùng gần như không cần nghĩ”. Ông Phùng Ngọc Hoàng, nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ HENO cho rằng: Giai đoạn đầu của thanh toán không dùng tiền mặt là thẻ vật lý, đặt nền móng cho thói quen thanh toán hiện đại. Giai đoạn tiếp theo là mã QR, giúp phổ thông hóa thanh toán số vì chi phí triển khai thấp, ai cũng có thể tham gia. Và hiện nay, thị trường đang bước sang giai đoạn cao hơn, nơi trải nghiệm phải đủ liền mạch, đủ nhanh và đáng tin để cả người mua lẫn người bán không bị ngắt quãng trong giao dịch.

Từ đó, sự trỗi dậy của công nghệ contactless (thanh toán không tiếp xúc) và nhất là tap-to-pay (chạm để thanh toán) đã thay đổi hoàn toàn cuộc chơi. Khảo sát của một tổ chức thẻ quốc tế cho thấy, tại Việt Nam, 80% số người được hỏi ưu tiên mobile wallet (ví di động), 68% dùng tap-to-pay, và đến cuối tháng 11/2024, hơn 75% số giao dịch trực diện trên thẻ Visa là contactless.

Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2025 so với năm 2024, số giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,21%; riêng mã QR tăng 50,94% về số lượng và 124,06% về giá trị. Do đó, với những người trẻ như chị Nguyễn Hà Khanh (trú phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh), chiếc ví truyền thống đã trở thành khái niệm cũ: “Thay vì thẻ vật lý, việc chỉ cần cầm theo một chiếc điện thoại, mình thấy tiện lợi hơn nhiều, tránh được rủi ro rơi mất hay quên thẻ”.

Dưới góc nhìn chuyên gia ngân hàng số, ông Nguyễn Quang Huy, Thạc sĩ Tài chính ngân hàng Đại học Leicester (Anh) nhận định: Việt Nam đã bước sang giai đoạn hình thành thói quen số toàn diện. Giới trẻ hiện nay là thế hệ mobile-first (ưu tiên di động). Với họ, thanh toán không còn là “một hành động tài chính” đơn thuần mà đã trở thành một phần của lối sống. Người trẻ ưu tiên tốc độ, sự liền mạch, khả năng tích hợp ngay trên điện thoại và trải nghiệm ít ma sát nhất. Họ mua sắm online thường xuyên, nhưng đồng thời cũng đặt yêu cầu rất cao về tính an toàn và sự tin cậy. Nghĩa là thế hệ này muốn mọi thứ nhanh hơn, nhưng cũng muốn được bảo vệ tốt hơn.

Tuy nhiên, tại những địa bàn vùng sâu, vùng xa ở Việt Nam hiện nay, phổ biến thanh toán số dù có tăng trưởng nhưng cũng gặp không ít trở ngại. Nhiều chủ hộ kinh doanh là đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi... không sử dụng điện thoại thông minh, ngại ứng dụng công nghệ, chưa kể thói quen sử dụng tiền mặt là rào cản. Ông Nguyễn Hữu Hoan, Trưởng ban Quản lý chợ phường Thục Phán (tỉnh Cao Bằng) cho biết: Hiện nay chợ Sông Bằng trên địa bàn phường đạt 100% số hộ kinh doanh có mã QR, chợ Xanh đạt 98%, chợ Đề Thám đạt 95%. Tỷ lệ này tại chợ Sông Hiến chỉ dừng ở mức 60-70%.

Xây dựng niềm tin số

Việc thay đổi nhận thức về giao dịch số là một hành trình bền bỉ. Chị Dương Thị Thái, Chủ tịch Công đoàn Ban Quản lý chợ phường Thục Phán thông tin: Nhờ kiên trì giải thích về các tiện ích khi thanh toán không dùng tiền mặt, các hộ kinh doanh ở Cao Bằng dần thay đổi quan điểm. Nếu tiểu thương đã bắt nhịp với thanh toán số thì nhận thấy rõ hiệu quả. Ông Nông Văn Cảnh, chủ sạp giày dép tại chợ Sông Bằng chia sẻ: “Nhiều năm nay, cửa hàng tôi sử dụng mã QR để thanh toán không dùng tiền mặt: Tiện lợi, không lo nhầm lẫn, thanh toán nhanh, không phải đếm tiền, bù tiền. Tài chính công khai giúp tôi dễ kiểm soát dòng tiền, tính doanh thu cửa hàng. Nếu có sai sót, nhầm lẫn, đã có chứng từ thanh toán để liên hệ với khách hàng xử lý”.

Theo chuyên gia Nguyễn Quang Huy, với tiểu thương, vấn đề cốt lõi không phải là “họ có thích công nghệ hay không”, mà là “tiền có vào ngay không, có nhìn thấy ngay không, có dùng ngay được không?”. Muốn vậy, các ngân hàng cần thực hiện bốn lớp giải pháp. Thứ nhất, ghi có tức thì sau mỗi giao dịch mã QR hoặc chuyển khoản, để người bán thấy tiền về ngay trong tài khoản. Thứ hai, xác nhận giao dịch theo thời gian thực bằng âm thanh, tin nhắn hoặc thông báo trên ứng dụng, để họ yên tâm tương tự như khi cầm tiền mặt. Thứ ba, đối soát đơn giản theo ngày/ca bán, giúp tiểu thương biết ngay hôm nay bán được bao nhiêu, ai đã trả, còn thiếu gì. Thứ tư, gắn dòng tiền với vốn lưu động, thí dụ có thể ứng trước, có hạn mức nhỏ theo doanh thu, hoặc chuyển tiền sang nhà cung cấp rất nhanh.

Công ty fintech HENO từ giữa năm 2023 đã đưa ra giải pháp loa thanh toán Tingee đọc rõ thành công của giao dịch ngay sau khi khách hàng quét mã. Tốc độ cao, giá trị xác thực gần như tức thì có thể giúp nhiều đối tượng khách hàng như tiểu thương, chủ hộ kinh doanh... rảnh tay, an tâm sử dụng. Vì thế, sau ba năm, từ con số không, Tingee đã có khoảng 200.000 tài khoản đăng ký sử dụng. “Xây dựng niềm tin số cho khách hàng phổ thông không thể bắt đầu từ việc yêu cầu họ hiểu công nghệ, mà phải “dịch” công nghệ sang ngôn ngữ đời sống. Họ cần một tín hiệu rõ ràng, một thao tác đơn giản và một kết quả dễ kiểm chứng. Nghĩa là nghe được, nhìn được, dùng được và sai thì biết hỏi ai. Khi người lớn tuổi hoặc người lao động bình dân cảm thấy kiểm soát được đồng tiền, không bị phụ thuộc vào màn hình hay thuật ngữ kỹ thuật, niềm tin số mới hình thành bền vững”, Tổng Giám đốc HENO Phùng Ngọc Hoàng nhấn mạnh.

Thực tế, văn hóa mua bán ở Việt Nam có những sự khác biệt đặc trưng, bị chi phối bởi cả tính vùng miền, sự chênh lệch phát triển vùng... Thời gian tới, để thật sự hướng đến phổ cập thanh toán số, các tổ chức tài chính cần chú trọng vào ba yếu tố: Hạ tầng ổn định, bảo mật đa tầng và đơn giản hóa thao tác cho người cao tuổi, người ít tiếp xúc công nghệ. Từ đó, mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20-25% hằng năm về số lượng và giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt sẽ không còn là nhiệm vụ bất khả thi ■

Quyết định số 1813/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025 nhấn mạnh việc khuyến khích, phát triển các sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với hành vi tiêu dùng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Có thể bạn quan tâm

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.

Tại Tỉnh Thái Nguyên, các cây máy điện tử tự phục vụ (Kiosk) tích hợp AI được bố trí ở hầu khắp các Trung tâm phục vụ hành chính công cấp xã. Ảnh: Hải Thắng

Xu hướng tất yếu trong mô hình quản trị mới

Trong bối cảnh cả nước đang đẩy mạnh chuyển đổi số, chính quyền cơ sở cần có thêm những công cụ đủ mạnh để xử lý khối lượng dữ liệu ngày càng lớn, phức tạp. Sử dụng hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong xử lý công việc hành chính công đã là một xu hướng tất yếu.

Chị Ngô Thị Minh Trinh (thứ ba từ trái sang), Bí thư Đảng ủy xã Ea Knuếc (tỉnh Đắk Lắk) thường xuyên trực tiếp tham gia các phiên livestream quảng bá, bán nông sản cho bà con địa phương.

Củng cố niềm tin nhờ “Dân vận khéo”

Triển khai vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cấp xã là nơi đảm trách nhiệm vụ trực tiếp giải quyết phần lớn công việc của người dân, doanh nghiệp và xã hội. Điều đó đòi hỏi một sự thay đổi thực chất trong phương thức lãnh đạo, điều hành của đội ngũ cán bộ cơ sở.

Trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng chính quyền số, yêu cầu nâng cao năng lực số, tư duy số và kỹ năng làm việc trong môi trường số của cán bộ cơ sở là bắt buộc.

Thiết lập nền hành chính hiện đại

Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở “ngang tầm nhiệm vụ” không chỉ là câu chuyện về số lượng cán bộ hay bằng cấp có được, mà quan trọng hơn là cách tổ chức, sử dụng và phát huy năng lực, ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.

GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương.

Giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ cơ sở

Kỳ vọng lớn từ chủ trương chọn năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” chỉ có thể trở thành hiện thực nếu chúng ta giải quyết tận gốc bài toán thể chế, cơ chế bảo vệ cán bộ và quan trọng nhất là trả công tác cán bộ về đúng bản chất: Tìm đúng người yêu dân, vì dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với GS, TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương chung quanh vấn đề này.

Công an xã Sín Thầu (tỉnh Điện Biên) hỗ trợ đồng bào dân tộc người Hà Nhì làm các thủ tục hành chính. Ảnh: Thành Đạt

Gia tăng năng lực tuyến đầu của quản trị công

Chưa bao giờ yêu cầu đặt ra đối với cán bộ cơ sở lớn như hiện nay. Khi chính quyền địa phương 2 cấp đi vào vận hành, cấp xã trở thành tuyến đầu của quản trị công, gánh trên vai nhiều trọng trách với phương thức hoạt động hoàn toàn mới. Việc lấy năm 2026 là “Năm cán bộ cơ sở” vì thế không chỉ là khâu đột phá mà còn là kế hoạch lâu dài. Không như trước, công chức xã bây giờ phải là người kiến tạo phát triển ở cơ sở.