Tăng tốc cuộc cách mạng thanh toán số

Thanh toán không dùng tiền mặt đang khẳng định vị thế ưu việt với tốc độ tăng trưởng ấn tượng tại nhiều địa phương, dần trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống kinh tế hiện đại.

Phần lớn người trẻ lựa chọn các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. (Ảnh BẢO LONG)
Phần lớn người trẻ lựa chọn các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt. (Ảnh BẢO LONG)

Tuy nhiên, để tiếp đà tăng trưởng, nhất là ở vùng đặc thù như miền núi, vùng sâu, vùng xa, cần tháo gỡ những nút thắt về hạ tầng kỹ thuật và nhận thức của người dân.

Từ thẻ vật lý đến “một chạm”

Hành trình thanh toán không dùng tiền mặt ở Việt Nam, đi từ “có thể dùng được” đến “dễ dùng” và sau đó là “dùng gần như không cần nghĩ”. Ông Phùng Ngọc Hoàng, nhà sáng lập kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ HENO cho rằng: Giai đoạn đầu của thanh toán không dùng tiền mặt là thẻ vật lý, đặt nền móng cho thói quen thanh toán hiện đại. Giai đoạn tiếp theo là mã QR, giúp phổ thông hóa thanh toán số vì chi phí triển khai thấp, ai cũng có thể tham gia. Và hiện nay, thị trường đang bước sang giai đoạn cao hơn, nơi trải nghiệm phải đủ liền mạch, đủ nhanh và đáng tin để cả người mua lẫn người bán không bị ngắt quãng trong giao dịch.

Từ đó, sự trỗi dậy của công nghệ contactless (thanh toán không tiếp xúc) và nhất là tap-to-pay (chạm để thanh toán) đã thay đổi hoàn toàn cuộc chơi. Khảo sát của một tổ chức thẻ quốc tế cho thấy, tại Việt Nam, 80% số người được hỏi ưu tiên mobile wallet (ví di động), 68% dùng tap-to-pay, và đến cuối tháng 11/2024, hơn 75% số giao dịch trực diện trên thẻ Visa là contactless.

Còn theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, năm 2025 so với năm 2024, số giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt tăng 42,21%; riêng mã QR tăng 50,94% về số lượng và 124,06% về giá trị. Do đó, với những người trẻ như chị Nguyễn Hà Khanh (trú phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh), chiếc ví truyền thống đã trở thành khái niệm cũ: “Thay vì thẻ vật lý, việc chỉ cần cầm theo một chiếc điện thoại, mình thấy tiện lợi hơn nhiều, tránh được rủi ro rơi mất hay quên thẻ”.

Dưới góc nhìn chuyên gia ngân hàng số, ông Nguyễn Quang Huy, Thạc sĩ Tài chính ngân hàng Đại học Leicester (Anh) nhận định: Việt Nam đã bước sang giai đoạn hình thành thói quen số toàn diện. Giới trẻ hiện nay là thế hệ mobile-first (ưu tiên di động). Với họ, thanh toán không còn là “một hành động tài chính” đơn thuần mà đã trở thành một phần của lối sống. Người trẻ ưu tiên tốc độ, sự liền mạch, khả năng tích hợp ngay trên điện thoại và trải nghiệm ít ma sát nhất. Họ mua sắm online thường xuyên, nhưng đồng thời cũng đặt yêu cầu rất cao về tính an toàn và sự tin cậy. Nghĩa là thế hệ này muốn mọi thứ nhanh hơn, nhưng cũng muốn được bảo vệ tốt hơn.

Tuy nhiên, tại những địa bàn vùng sâu, vùng xa ở Việt Nam hiện nay, phổ biến thanh toán số dù có tăng trưởng nhưng cũng gặp không ít trở ngại. Nhiều chủ hộ kinh doanh là đồng bào dân tộc thiểu số, người cao tuổi... không sử dụng điện thoại thông minh, ngại ứng dụng công nghệ, chưa kể thói quen sử dụng tiền mặt là rào cản. Ông Nguyễn Hữu Hoan, Trưởng ban Quản lý chợ phường Thục Phán (tỉnh Cao Bằng) cho biết: Hiện nay chợ Sông Bằng trên địa bàn phường đạt 100% số hộ kinh doanh có mã QR, chợ Xanh đạt 98%, chợ Đề Thám đạt 95%. Tỷ lệ này tại chợ Sông Hiến chỉ dừng ở mức 60-70%.

Xây dựng niềm tin số

Việc thay đổi nhận thức về giao dịch số là một hành trình bền bỉ. Chị Dương Thị Thái, Chủ tịch Công đoàn Ban Quản lý chợ phường Thục Phán thông tin: Nhờ kiên trì giải thích về các tiện ích khi thanh toán không dùng tiền mặt, các hộ kinh doanh ở Cao Bằng dần thay đổi quan điểm. Nếu tiểu thương đã bắt nhịp với thanh toán số thì nhận thấy rõ hiệu quả. Ông Nông Văn Cảnh, chủ sạp giày dép tại chợ Sông Bằng chia sẻ: “Nhiều năm nay, cửa hàng tôi sử dụng mã QR để thanh toán không dùng tiền mặt: Tiện lợi, không lo nhầm lẫn, thanh toán nhanh, không phải đếm tiền, bù tiền. Tài chính công khai giúp tôi dễ kiểm soát dòng tiền, tính doanh thu cửa hàng. Nếu có sai sót, nhầm lẫn, đã có chứng từ thanh toán để liên hệ với khách hàng xử lý”.

Theo chuyên gia Nguyễn Quang Huy, với tiểu thương, vấn đề cốt lõi không phải là “họ có thích công nghệ hay không”, mà là “tiền có vào ngay không, có nhìn thấy ngay không, có dùng ngay được không?”. Muốn vậy, các ngân hàng cần thực hiện bốn lớp giải pháp. Thứ nhất, ghi có tức thì sau mỗi giao dịch mã QR hoặc chuyển khoản, để người bán thấy tiền về ngay trong tài khoản. Thứ hai, xác nhận giao dịch theo thời gian thực bằng âm thanh, tin nhắn hoặc thông báo trên ứng dụng, để họ yên tâm tương tự như khi cầm tiền mặt. Thứ ba, đối soát đơn giản theo ngày/ca bán, giúp tiểu thương biết ngay hôm nay bán được bao nhiêu, ai đã trả, còn thiếu gì. Thứ tư, gắn dòng tiền với vốn lưu động, thí dụ có thể ứng trước, có hạn mức nhỏ theo doanh thu, hoặc chuyển tiền sang nhà cung cấp rất nhanh.

Công ty fintech HENO từ giữa năm 2023 đã đưa ra giải pháp loa thanh toán Tingee đọc rõ thành công của giao dịch ngay sau khi khách hàng quét mã. Tốc độ cao, giá trị xác thực gần như tức thì có thể giúp nhiều đối tượng khách hàng như tiểu thương, chủ hộ kinh doanh... rảnh tay, an tâm sử dụng. Vì thế, sau ba năm, từ con số không, Tingee đã có khoảng 200.000 tài khoản đăng ký sử dụng. “Xây dựng niềm tin số cho khách hàng phổ thông không thể bắt đầu từ việc yêu cầu họ hiểu công nghệ, mà phải “dịch” công nghệ sang ngôn ngữ đời sống. Họ cần một tín hiệu rõ ràng, một thao tác đơn giản và một kết quả dễ kiểm chứng. Nghĩa là nghe được, nhìn được, dùng được và sai thì biết hỏi ai. Khi người lớn tuổi hoặc người lao động bình dân cảm thấy kiểm soát được đồng tiền, không bị phụ thuộc vào màn hình hay thuật ngữ kỹ thuật, niềm tin số mới hình thành bền vững”, Tổng Giám đốc HENO Phùng Ngọc Hoàng nhấn mạnh.

Thực tế, văn hóa mua bán ở Việt Nam có những sự khác biệt đặc trưng, bị chi phối bởi cả tính vùng miền, sự chênh lệch phát triển vùng... Thời gian tới, để thật sự hướng đến phổ cập thanh toán số, các tổ chức tài chính cần chú trọng vào ba yếu tố: Hạ tầng ổn định, bảo mật đa tầng và đơn giản hóa thao tác cho người cao tuổi, người ít tiếp xúc công nghệ. Từ đó, mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 20-25% hằng năm về số lượng và giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt sẽ không còn là nhiệm vụ bất khả thi ■

Quyết định số 1813/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021-2025 nhấn mạnh việc khuyến khích, phát triển các sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt phù hợp với hành vi tiêu dùng ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.