Tầm nhìn của đại biểu phải rộng hơn, xa hơn

“Người đại biểu dân cử phải hiểu rằng mình đại diện cho nhân dân, chứ không phải đại diện cho một nhóm lợi ích nào đó. Mọi quyết định, mọi phát biểu đều phải đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết”.

TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nay là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội
TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nay là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội

TS Nguyễn Viết Chức, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, nay là Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, đã nhấn mạnh điều này khi trao đổi với Nhân Dân cuối tuần về cuộc bầu cử diễn ra ngày 15/3/2026 tới đây.

Mở rộng cơ hội lựa chọn những người thật sự xứng đáng

- Thưa ông, cuộc bầu cử lần này diễn ra trong bối cảnh nhiều đổi mới về tổ chức bộ máy và phương thức quản trị. Theo ông, đâu là những điểm mới đáng chú ý nhất?

- Có thể nói cuộc bầu cử lần này diễn ra trong một bối cảnh rất đặc biệt. Trước hết, nó diễn ra ngay sau Đại hội XIV của Đảng, tức là quá trình kiện toàn bộ máy nhà nước được triển khai gần như ngay lập tức. Trước đây, khoảng cách giữa Đại hội và bầu cử thường dài hơn, còn lần này việc tổ chức sớm hơn nhằm nhanh chóng hoàn thiện hệ thống lãnh đạo và điều hành của đất nước.

Điểm mới thứ hai là gắn với việc sắp xếp lại bộ máy, đặc biệt là mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Khi chính quyền địa phương hai cấp vận hành thì cơ quan Hội đồng nhân dân cũng tương ứng hai cấp. Điều đó có nghĩa là trách nhiệm và quyền hạn của các đại biểu, nhất là đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã và cấp tỉnh, thành phố sẽ lớn hơn trước rất nhiều.

Ngày xưa một xã có thể nhỏ, dân số ít, phạm vi quản lý hẹp. Bây giờ sau khi sắp xếp lại địa giới hành chính, nhiều xã, phường có quy mô lớn hơn, dân số đông hơn. Khi quyền hạn được giao nhiều hơn, thì vai trò giám sát và quyết sách của Hội đồng nhân dân cũng nặng nề hơn.

Nói một cách dễ hiểu: bộ máy đã tinh gọn thì trách nhiệm của từng người phải lớn lên. Đây là quy luật tất yếu!

- Một điểm được nhiều cử tri quan tâm là tỷ lệ số dư ứng cử viên nhiệm kỳ này khá cao, nhiều ứng cử viên có trình độ cao, giàu kinh nghiệm. Theo ông, điều này có ý nghĩa như thế nào đối với chất lượng đại biểu dân cử?

- Tôi cho rằng đây là một tín hiệu rất tích cực. Số dư càng lớn thì quyền lựa chọn của cử tri càng rộng. Thật ra trong lịch sử bầu cử của chúng ta, số dư ứng cử viên không phải là chuyện mới.

Thí dụ trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa I (năm 1946), ở Hà Nội có tới hàng chục ứng cử viên nhưng chỉ bầu một số ít đại biểu. Tuy nhiên, điều đáng nói ở đây là chất lượng ứng cử viên ngày nay đã khác.

Dân trí cao hơn, trình độ của đội ngũ cán bộ cũng cao hơn. Nhiều người đủ năng lực, đủ uy tín để tham gia các cơ quan dân cử. Vì thế, việc có số dư lớn không phải là điều đáng lo, mà ngược lại là cơ hội để cử tri lựa chọn những người thật sự xứng đáng.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh: số dư nhiều hay ít không quan trọng bằng việc cung cấp thông tin đầy đủ cho cử tri. Nếu cử tri hiểu rõ ứng cử viên là ai, năng lực thế nào, chương trình hành động ra sao, thì họ sẽ có quyết định sáng suốt. Trong một xã hội dân chủ, điều quan trọng nhất là cử tri có thông tin đầy đủ và minh bạch.

- Một điểm mới dễ nhận thấy là trước ngày bầu cử chính thức diễn ra, công tác truyền thông rất tích cực. Các ứng cử viên cũng đã và đang đăng đàn thuyết trình bảo vệ chương trình hành động, tiếp xúc cử tri không chỉ trực tiếp mà còn trên các phương tiện thông tin đại chúng. Theo ông, sự thay đổi này có ý nghĩa gì?

- Tôi nghĩ đây là một xu hướng tất yếu. Thời đại bây giờ là thời đại công nghệ thông tin và truyền thông đa phương tiện. Báo chí, truyền hình, mạng xã hội… tất cả đều trở thành kênh để truyền tải thông tin.

Việc ứng cử viên trình bày chương trình hành động trước cử tri, thậm chí thông qua mạng xã hội, theo tôi là rất đáng hoan nghênh. Thông tin càng nhiều, càng minh bạch thì cử tri càng có cơ sở lựa chọn.

Nhưng điều quan trọng hơn là ở chỗ khác. Tôi thường nói rằng đại biểu Quốc hội có hai kỹ năng quan trọng: nói và nghe. Trong đó, nghe còn khó hơn nói. Người đại biểu phải biết lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cử tri, phải hiểu được nhịp đập của đời sống xã hội.

Khi ứng cử viên tiếp xúc cử tri và trình bày chương trình hành động, đó cũng là một cách để họ “tập dượt” trước khi trở thành đại biểu chính thức. Họ nói để cử tri nghe, nhưng đồng thời họ cũng phải nghe cử tri phản hồi.

Đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết

- Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, nhiều người cho rằng yêu cầu, trách nhiệm và cả áp lực đối với đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp sẽ cao hơn trước kia. Ông nghĩ sao về điều này?

- Tôi hoàn toàn đồng ý! Đất nước đang đặt ra những mục tiêu rất lớn: tăng trưởng cao, phát triển bền vững, hướng tới trở thành quốc gia phát triển vào giữa thế kỷ XXI. Những mục tiêu đó không chỉ là khẩu hiệu, mà phải được cụ thể hóa bằng chính sách và luật pháp. Vì vậy, vai trò của Quốc hội - cơ quan lập pháp cao nhất - càng trở nên quan trọng. Đại biểu Quốc hội không chỉ giám sát mà còn phải tham gia xây dựng luật, thậm chí phải có tư duy kiến tạo và dự báo sáng suốt.

Luật pháp không thể chỉ giải quyết vấn đề của hôm nay, mà phải tính đến những tình huống của ngày mai. Thí dụ khi làm luật về kinh tế, phải nhìn thấy xu hướng chuyển đổi số, thương mại quốc tế, biến động địa chính trị… tất cả đều có thể tác động đến đời sống trong nước.

Nói cách khác, tầm nhìn của đại biểu phải rộng hơn, xa hơn!

Còn đối với Hội đồng nhân dân các cấp thì trách nhiệm cũng rất lớn. Khi chính quyền địa phương được phân cấp mạnh hơn thì Hội đồng nhân dân phải có những quyết sách phù hợp, hiệu quả với đặc thù địa phương.

- Từ góc nhìn của một người nhiều năm gắn bó với hoạt động nghị trường, ông kỳ vọng điều gì ở các đại biểu sẽ trúng cử trong nhiệm kỳ tới?

- Tôi kỳ vọng trước hết ở tâm và tầm của mỗi đại biểu. Người đại biểu dân cử phải hiểu rằng mình đại diện cho nhân dân, chứ không phải đại diện cho một nhóm lợi ích nào đó. Mọi quyết định, mọi phát biểu đều phải đặt lợi ích của đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết.

Thứ hai là trí tuệ và bản lĩnh của các đại biểu. Công việc của Quốc hội ngày càng phức tạp, đòi hỏi đại biểu phải có kiến thức rộng, khả năng phân tích và tranh luận, tranh biện, thậm chí phản biện tốt.

Thứ ba là tinh thần trách nhiệm và sự bền bỉ của mỗi đại biểu. Hoạt động nghị trường không chỉ là phát biểu vài lần trong hội trường. Nó còn là quá trình nghiên cứu chính sách, tiếp xúc cử tri, giám sát việc thực thi pháp luật.

Tôi thường nói vui rằng làm đại biểu không chỉ cần “cái đầu” mà còn cần “cái tâm” và “sức bền”. Phải có sức bền để theo đuổi những vấn đề của nhân dân đến cùng.

Nếu chọn được những đại biểu như vậy, tôi tin rằng Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ tới sẽ hoạt động hiệu quả hơn, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của đất nước, hạnh phúc của nhân dân.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Thời đại công nghệ khiến mọi lời hứa đều được ghi lại. Nếu ứng cử viên hứa điều gì trước cử tri, sau này người dân hoàn toàn có thể kiểm chứng. Vì vậy, lời hứa phải gắn với trách nhiệm!”.

img-20260310-091843.jpg

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.