Phép thử năng lực nội tại của nền kinh tế

Dù đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, song ngành đường sắt Việt Nam vẫn đang có khoảng cách khá xa so các quốc gia phát triển.

Nhiều nhà thầu Việt Nam đã chuẩn bị về nhân sự, thiết bị và tài chính để tham gia các dự án lớn triển khai tại Việt Nam. Ảnh KHIẾU MINH
Nhiều nhà thầu Việt Nam đã chuẩn bị về nhân sự, thiết bị và tài chính để tham gia các dự án lớn triển khai tại Việt Nam. Ảnh KHIẾU MINH

Đặc biệt, tỷ lệ nội địa hóa trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo còn rất thấp, năng lực hiện tại của ngành đường sắt trong nước mới dừng ở sửa chữa, bảo dưỡng và đóng mới toa xe thông thường.

Từng bước tham gia sâu vào chuỗi cung ứng

Ngày 12/12/2025, Chính phủ ban hành Nghị định 319/NĐ-CP về cơ chế đặc thù trong khoa học, công nghệ đối với các công trình đường sắt trọng điểm quốc gia, tạo hành lang quan trọng để thúc đẩy tự chủ công nghệ và nâng cao vai trò của doanh nghiệp trong nước. Nhiều doanh nghiệp đã khởi động các dự án để đón đầu cơ hội này. Tiêu biểu như dự án Nhà máy sản xuất ray đường sắt và thép đặc biệt của Tập đoàn Hòa Phát, được đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại với hệ thống giá cán bốn trục có độ chính xác cao, đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của đường sắt cao tốc.

Với nhận định, cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào các dự án đường sắt quy mô lớn đang mở ra, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Hòa Phát Trần Đình Long cho biết, tập đoàn sẽ tập trung phát triển các dòng thép chất lượng cao, trong đó có thép ray đường sắt tốc độ cao, hướng tới mục tiêu làm chủ công nghệ và góp phần hình thành ngành công nghiệp đường sắt trong nước. Dự kiến, sản phẩm ray đường sắt tốc độ cao đầu tiên của Hòa Phát sẽ ra mắt vào năm 2027.

Bước sang năm 2026, trước yêu cầu tự chủ công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong các dự án đường sắt được đặt ra ngày càng rõ nét, Công ty Cổ phần Tập đoàn Trường Hải (THACO) đã khởi động đầu tư Tổ hợp công nghiệp đường sắt và cơ khí đa dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh, dự kiến đưa vào vận hành trong tháng 9/2026. Dự án được định hướng phục vụ trực tiếp các công trình đường sắt với những sản phẩm chủ lực như đầu máy, toa xe, thiết bị chuyên dụng và cấu kiện hạ tầng công nghệ cao, nhất là các thiết bị thi công then chốt như máy khoan hầm TBM, thiết bị lao dầm.

Ông Đoàn Đạt Ninh, Phó Tổng Giám đốc THACO cho biết: Tập đoàn đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt khoảng 25% nội địa hóa đầu máy cho các dự án đường sắt đô thị và nâng lên khoảng 70% đối với toa xe, vật tư, thiết bị vào năm 2035.

Với vai trò đầu tàu, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) cũng đã kiến nghị Chính phủ phê duyệt đề án xây dựng Tổ hợp công nghiệp đường sắt với quy mô khoảng 250 ha, tổng mức đầu tư hơn 17.500 tỷ đồng, thực hiện các khâu lắp ráp, sửa chữa tiến tới chế tạo các cấu kiện cốt lõi cho đường sắt. Đáng chú ý, đối với đường sắt tốc độ cao bắc - nam, tổ hợp này sẽ tham gia lắp ráp đoàn tàu theo hình thức chuyển giao công nghệ, hướng tới tỷ lệ nội địa hóa khoảng 20% vào năm 2035 và tăng lên 80% trong giai đoạn 2040 - 2050. Đây là lộ trình khả thi, kết hợp giữa phát huy nội lực và đẩy mạnh hợp tác quốc tế, từng bước đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Rộng mở cơ hội cho doanh nghiệp trong nước

Dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam đang bước vào triển khai với tiến độ gấp rút. Theo kế hoạch, Chính phủ dự tính khởi công hai đoạn ưu tiên là Hà Nội - Vinh và Thành phố Hồ Chí Minh - Nha Trang trong năm 2026; các đoạn còn lại khởi công từ năm 2028 và phấn đấu cơ bản hoàn thành toàn tuyến vào năm 2035.

Hiện hồ sơ mời thầu cho các gói khảo sát và lập báo cáo nghiên cứu khả thi đang được hoàn thiện, dự kiến lựa chọn nhà thầu trong quý II/2026. Cùng với đó, việc mở rộng nghiên cứu các phương thức đầu tư như đối tác công - tư (PPP) hay đầu tư kinh doanh được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân có tiềm lực tài chính, kinh nghiệm và năng lực quản trị tham gia sâu hơn vào dự án.

Theo tính toán, việc đầu tư xây dựng đường sắt tốc độ cao bắc - nam sẽ tạo ra thị trường xây dựng giá trị khoảng 33,5 tỷ USD. Nếu tính cả mạng lưới đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị tới năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ tạo ra thị trường xây dựng khoảng 76 tỷ USD. Ông Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam chia sẻ, mặc dù chưa từng làm đường sắt tốc độ cao, nhưng nhiều nhà thầu xây dựng lớn trong nước đã có sự chuẩn bị từ nhân sự, thiết bị, tài chính… và đưa ra cam kết đủ năng lực để đảm đương phần hạ tầng xây dựng trong dự án hạ tầng giao thông lớn nhất từ trước đến nay.

Có một số tên tuổi đáng chú ý như: THACO; Liên danh nhà đầu tư Mekolor và Great USA; Công ty cổ phần Tập đoàn Vinaconey; Công ty cổ phần Quản lý quỹ đầu tư FARM13…

Trong lĩnh vực công nghệ, cuối năm 2025, FPT đã thành lập đơn vị công nghệ chiến lược FPT Railway Mobility Technology nhằm phát triển các giải pháp cho đường sắt. Tại đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026, Chủ tịch Tập đoàn FPT Trương Gia Bình cho biết, FPT đang tập trung vào phát triển “hệ thống não bộ” của ngành đường sắt, bao gồm phần mềm và các hệ thống điều khiển. Công nghệ đường sắt hiện đại vẫn là lĩnh vực có dư địa lớn khi mới chỉ có một số ít quốc gia làm chủ, trong khi nhu cầu tại các nước đang phát triển ngày càng tăng. Đây là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn, tiến tới vươn ra thị trường quốc tế…

Việt Nam đã lên kế hoạch triển khai ít nhất 37 dự án đường sắt đô thị và đường sắt tốc độ cao. Đây không còn là câu chuyện thuần túy về hạ tầng, mà gắn chặt với yêu cầu bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, và là “phép thử” đối với năng lực nội tại của nền kinh tế. Phát huy hiệu quả nội lực sẽ là chìa khóa để Việt Nam từng bước giảm phụ thuộc vào bên ngoài, tiến tới làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực thi công, vận hành và bảo trì các hệ thống đường sắt hiện đại ■

Theo VNR, quy hoạch mạng lưới đường sắt quốc gia sẽ phát triển lên 25 tuyến với tổng chiều dài hơn 6.300 km. Dự báo đến năm 2050, nhu cầu phương tiện lên tới gần 16.800 đầu máy, toa xe các loại, với quy mô thị trường khoảng 251.000 tỷ đồng. Riêng đối với đường sắt tốc độ cao, nhu cầu 125 toa xe EMU đã tương đương hơn 137.000 tỷ đồng. Đây là “dư địa” đủ lớn để hình thành và phát triển một nền công nghiệp đường sắt trong nước, nếu có chiến lược đầu tư phù hợp.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.