Hoạt động trải nghiệm văn hóa Óc Eo. (Ảnh: THI PHONG)
Hoạt động trải nghiệm văn hóa Óc Eo. (Ảnh: THI PHONG)

Phát huy giá trị di tích văn hóa Óc Eo - Ba Thê trở thành điểm du lịch hấp dẫn

Hình thành và phát triển từ thế kỷ I đến thế kỷ VII sau công nguyên ở đồng bằng Nam Bộ, gắn với khu vực châu thổ hạ lưu sông Mê Kông, văn hóa Óc Eo là một nền văn hóa lớn trong lịch sử Việt Nam và có quan hệ mật thiết với lịch sử Đông Nam Á cổ đại. Đây cũng là một trong 3 nền văn hóa cổ đại của Việt Nam, gồm Đông Sơn ở miền Bắc, Sa Huỳnh ở miền trung và Óc Eo ở Nam Bộ.

Di tích được đánh thức

Năm 1879, những cổ vật đầu tiên của nền văn hóa Óc Eo tại khu vực di tích Óc Eo - Ba Thê (tỉnh An Giang) đã được bác sĩ A.Corre đề cập trong tập san “Excursions et Reconnaisances” (tạm dịch “Du ngoạn và trinh sát”). Đáng chú ý, ngoài những công cụ bằng đá, tác giả còn đề cập tới “hai bản minh văn chữ Phạn và chữ Khmer cổ” khắc trên hai khối đá sa thạch nhưng không xác định chính xác vị trí phát hiện, một kiến trúc cổ chỉ còn lại phần móng, những phế tích cổ của chùa Prasat Brah Dhal (nay là chùa Linh Sơn)…

Sau đó, các học giả người Pháp như H.Parmentier, L.Finot, S.Karpeles… đã tiến hành nhiều chuyến khảo sát và xác định rằng khu vực núi Ba Thê là một quần thể di tích kiến trúc rất lớn với nhiều phế tích được xây bằng gạch, đá, với các cấu kiện như mi cửa, các hiện vật như tượng Phật, tượng thần, linh vật…

Hiện vật được khai quật tại di tích văn hóa Óc Eo-Ba Thê.

Hiện vật được khai quật tại di tích văn hóa Óc Eo-Ba Thê.

Đến năm 1937, nhà khảo cổ học người Pháp Louis Malleret đã tiến hành khảo sát chuyên sâu, nghiên cứu nhiều di tích kiến trúc cổ và những di vật có liên quan tại nhiều điểm rải rác trên toàn Nam Bộ, trên cơ sở đó ghi nhận một số địa điểm có vết tích khảo cổ học trong vùng Ba Thê. Kết quả của những đợt khảo sát, khai quật và nghiên cứu của L.Malleret được công bố trong bộ sách “Khảo cổ học Đồng bằng sông Cửu Long” gồm bốn tập, được xuất bản từ năm 1959 đến năm 1963.

Được sự cho phép của tác giả, Ban Quản lý di tích văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang đã dịch và Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã xuất bản tập II (Văn minh vật chất Óc Eo) và tập III (Văn hóa Phù Nam) năm 2021. Đích thân Giám đốc Ban Quản lý di tích văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang Nguyễn Hữu Giềng tham gia tổ chức, chỉ đạo việc biên dịch và giới thiệu bộ sách giá trị này. Nhờ đó giới nghiên cứu và bất kỳ ai quan tâm đều có thể dễ dàng tiếp cận nguồn tư liệu khả tín, giúp hình dung tương đối đầy đủ về nền văn minh Óc Eo trong quá khứ.

Gương đồng thế kỷ II-VII.

Gương đồng thế kỷ II-VII.

Nhẫn bò Nandin Giồng Cát.

Nhẫn bò Nandin Giồng Cát.

Đồng thời, các cuộc khai quật được tiến hành trong nhiều thập kỷ qua đã giúp các nhà khoa học tìm thấy khối lượng lớn di tích, di vật, góp phần minh chứng sinh động cho lịch sử hình thành và phát triển của nền văn hóa Óc Eo, cho thấy Óc Eo là một trung tâm đô thị lớn, sầm uất và nổi tiếng bậc nhất của Vương quốc Phù Nam.

Với giá trị đặc biệt và tầm vóc to lớn của văn hóa Óc Eo trong lịch sử Việt Nam, năm 2015, Thủ tướng Chính phủ giao Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam thực hiện đề án “Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê, Nền Chùa (Văn hóa Óc Eo - Nam Bộ)” (gọi tắt là Đề án Óc Eo). Đây là đề án khoa học có quy mô lớn nhất từ trước đến nay, quy tụ được số lượng các nhà nghiên cứu lớn nhất; cập nhật đầy đủ và toàn diện nhất về tư liệu nghiên cứu; tiến hành khảo sát, thăm dò và khai quật với tổng diện tích lớn nhất, quy mô nhất với các phương tiện, phương pháp tiên tiến; phát hiện khối lượng di tích, di vật lớn nhất; đạt được những thành tựu mới nhất trong nghiên cứu về địa tầng, tính chất, chức năng, niên đại và vai trò của khu di tích Óc Eo-Ba Thê trong không gian, thời gian văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam.

Mô hình Tượng thần Brahma Giồng Xoài.

Mô hình Tượng thần Brahma Giồng Xoài.

Mô hình Tượng phật đá Khánh Bình.

Mô hình Tượng phật đá Khánh Bình.

Mô hình bộ Linga-Yoni.

Mô hình bộ Linga-Yoni.

Năm 2012 Khu di tích khảo cổ Óc Eo – Ba Thê được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt. Hiện Di tích văn hóa Óc Eo- Ba Thê có 8 bảo vật quốc gia.

Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam gửi Báo cáo tóm tắt Hồ sơ Khu Di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO để đề nghị đưa vào Danh sách dự kiến lập hồ sơ di sản thế giới. Ngày 4/1/2022, UNESCO chính thức đưa hồ sơ Khu di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê vào danh sách dự kiến lập hồ sơ Di sản văn hóa Thế giới. Hiện nay tỉnh An Giang phấn đấu đến năm 2026 hoàn thành và bảo vệ hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê là di sản Văn hóa thế giới.

Khai thác giá trị di tích để phát triển du lịch

Theo đánh giá của chuyên gia các di tích lịch sử-văn hóa tại tỉnh An Giang là nguồn tài nguyên du lịch đầy tiềm năng và sức hấp dẫn mạnh mẽ, hoàn toàn có thể được khai thác và từng bước trở thành một sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng của địa phương mà không một nơi nào có được.

Từ năm 2005 Khu di tích Óc Eo-Ba Thê, chính thức đưa vào khai thác phục vụ du lịch với các điểm đón khách đến di tích nằm rải rác quanh thị trấn và bao bọc núi Ba Thê như: di tích Gò Cây Thị, di tích Nam Linh Sơn Tự, khu Nhà Trưng Bày Cổ Vật Óc Eo trên đỉnh núi, chùa Phật Bốn tay…

Thời điểm đó, số lượng nhân viên làm việc tại khu di tích (thuộc quản lý của Ban Quản lý du lịch văn hóa huyện Thoại Sơn) mới chỉ có 10 nhân viên bao gồm thuyết minh viên, bảo vệ, phục vụ phòng.

Chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật bốn tay núi Ba Thê, tọa lạc tại xã Vọng Thê (nay là thị trấn Óc Eo), huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích cấp quốc gia, và là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh.

Chùa Linh Sơn còn được gọi là chùa Phật bốn tay núi Ba Thê, tọa lạc tại xã Vọng Thê (nay là thị trấn Óc Eo), huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, Việt Nam. Đây là một di tích cấp quốc gia, và là một trong những địa điểm hành hương nổi tiếng của tỉnh.

Năm 2013, Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang (Ban Quản lý) được thành lập. Năm 2016, Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo được xây dựng mới và đưa vào sử dụng. Ban Quản lý đã bước đầu tổ chức đón tiếp và phục vụ khách tham quan. Từ đó cho đến nay đã thu hút được một lượng khách nhất định và tăng dần đều theo các năm. Nếu như năm 2014 số khách tham chỉ 5.032 người thì đến năm 2015 con số này đã tăng lên 8.603.

Thời điểm dịch Covid-19 bùng phát, các hoạt động du lịch, dịch vụ trên cả nước cũng như tại khu di tích văn hóa Óc Eo gần như bị tê liệt. Bước sang năm 2023, Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo đã tổ chức tiếp đón khoảng 25.000 lượt khách, đông hơn gấp đôi so với những năm trước, song chủ yếu là khách nội địa, khách nước ngoài đến khu di tích chủ yếu là khách tham quan nghiên cứu đến từ các nước Australia, Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia, Thái Lan…

Một hiện vật của nền văn minh Óc Eo.

Một hiện vật của nền văn minh Óc Eo.

Chính nhờ các hoạt động du lịch khai thác giá trị của di tích văn hóa Óc Eo đã từng bước thay đổi nhận thức, hành vi chính người dân địa phương. Cụ thể người dân đã ý thức rõ hơn về việc khai thác lợi thế của tài nguyên thiên nhiên, văn hóa, thiên nhiên và mạnh dạn đầu tư phát triển du lịch. Các khách sạn, nhà hàng bắt đầu mọc lên. Mặc dù nguồn thu từ du lịch tuy chưa nhiều song phần nào đã giúp người dân cải thiện đời vật chất và tinh thần; các dịp lễ Tết người dân có thêm điểm tham quan, vui chơi, ngắm cảnh, giải trí và sinh hoạt lành mạnh.

Bộ tem Văn hóa Óc Eo.

Bộ tem Văn hóa Óc Eo.

Tuy nhiên khách quan đánh giá, việc khai thác di sản văn hóa Óc Eo-Ba Thê phục vụ phát triển du lịch còn nhiều hạn chế, chưa xứng với tiềm năng sẵn có. Trong số những nguyên nhân chủ yếu có thể kể đến đó là công tác đầu tư cho cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng còn hạn chế, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, sản phẩm du lịch còn chưa hấp dẫn, công tác quảng bá chưa thực sự hiệu quả. Thực tế này đặt ra những yêu cầu có tính cấp bách đối với việc khai thác các giá trị văn hóa để phát triển du lịch, từ đó tạo nguồn thu để đóng góp lại cho công tác bảo tồn di tích càng trở nên quan trọng và cấp thiết hơn.

Yêu cầu trong thời gian tới

Ngày 23/01/2021 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 115/QĐ-TTg Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo-Ba Thê, thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Đáng chú ý, trong các mục tiêu được đề ra xác định rõ yêu cầu: “Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị Di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo-Ba Thê trở thành khu nghiên cứu khảo cổ học để nhận diện đầy đủ và làm sáng tỏ giá trị của nền văn minh Óc Eo rực rỡ đã từng tồn tại, góp phần phát triển kinh tế -xã hội, văn hóa, du lịch của huyện Thoại Sơn và tỉnh An Giang. Kết nối với các điểm đến quan trọng của tỉnh An Giang và vùng đồng bằng sông Cửu Long để hình thành các sản phẩm du lịch đặc thù về lịch sử-văn hóa, sinh thái sông nước, đồng quê, nông nghiệp và du lịch, chuyên đề khảo cổ học văn hóa Óc Eo”. Trên cơ sở mục tiêu đề ra, Quy hoạch phân khu chức năng đã dành diện tích 231,6ha là khu vực phát huy giá trị di tích và phục vụ du lịch.

Khách tham quan Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo. (Ảnh: Thi Phong)

Khách tham quan Nhà trưng bày văn hóa Óc Eo. (Ảnh: Thi Phong)

Quyết định số 115/QĐ-TTg cũng định hướng rõ việc phát huy giá trị di tích gắn với du lịch trên cơ sở xác định cụ thể các sản phẩm du lịch chủ yếu bao gồm: Du lịch trải nghiệm và du lịch sinh thái.

Với loại hình du lịch trải nghiệm, du khách sẽ được tham quan, tìm hiểu văn hóa Óc Eo bằng công nghệ 3D thực tế ảo; trải nghiệm đời sống sông nước của cộng đồng dân cư bản địa như tham gia câu lạc bộ đờn ca tài tử, ẩm thực, cây kiểng Nam bộ,…; trải nghiệm nghiên cứu khảo cổ học gắn với hoạt động điều tra, thăm dò và thực hành khai quật khảo cổ. Với loại hình du lịch sinh thái sẽ khai thác tuyến kênh Ba Thê mới, kênh vành đai núi Ba Thê và kênh Thổ Mộ để hình thành tuyến du lịch đường thủy.

Đồng thời, liên kết di tích Óc Eo-Ba Thê với các điểm du lịch quan trọng của vùng Tứ giác Long Xuyên để du khách trải nghiệm, khám phá cảnh quan vùng quê sông nước vào mùa nước nổi, khám phá cảnh quan thiên nhiên gắn với núi Ba Thê. Ngoài ra còn có các sản phẩm du lịch được hỗ trợ thông qua hoạt động nghiên cứu, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể liên quan đến di tích Óc Eo.

Chủ trương, đường hướng đã được xác định rõ ràng, điều quan trọng lúc này là sự vào cuộc tích cực, chủ động của chính quyền địa phương và các ngành chức năng, huy động sự tham gia của người dân để tạo ra những bước phát triển đột phá trong hoạt động du lịch trên địa bàn. Hiện nay nhờ nguồn ngân sách cùng với việc huy động từ nhiều nguồn đóng góp đã giúp cho cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện Thoại Sơn và các khu vực lân cận từng bước được cải thiện, đường xá được cải tạo, nâng cấp, mở rộng, du khách có thể chạy xe ô tô lên đỉnh núi Ba Thê, đường ra di tích Gò Cây Thị. Nhiều sản phẩm du lịch khai thác giá trị di sản cũng được triển khai. Công tác duy tu, tôn tạo các di tích, danh lam thắng cảnh được chú trọng.

Đường lên chùa Linh Sơn đã được cải tạo khang trang.

Đường lên chùa Linh Sơn đã được cải tạo khang trang.

Để tạo ra một điểm đến thu hút khách du lịch, chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác vệ sinh môi trường, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, an ninh trật tự, kiên quyết xử lý nghiêm các tệ nạn xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, an toàn và thân thiện tại các khu, điểm du lịch, các cơ sở nghỉ ngơi, ăn uống, các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, các cửa hiệu thương mại… Đáng chú ý, địa phương cũng như các đơn vị có liên quan đã quan tâm đưa đi đào tạo đại học, hướng dẫn viên cho hàng chục người có chuyên môn văn hóa-du lịch trong Ban Quản lý Du lịch Văn hóa huyện Thoại Sơn trước đây, nay là Ban Quản lý Di tích Văn hóa Óc Eo tỉnh An Giang. UBND tỉnh cũng đã điều động và cho đào tạo nhiều cán bộ, công chức, viên chức có học vị Cử Nhân, Thạc Sỹ, Tiến Sỹ…, trong đó có một số người làm hướng dẫn viên du lịch chuyên về văn hóa Óc Eo. Nhờ vậy, nguồn nhân lực tại chỗ đã từng bước đáp ứng được nhu cầu phát triển của địa phương, nhất là lĩnh vực văn hóa, du lịch trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài.

Ngày càng có nhiều người trẻ tìm đến khám phá và trải nghiệm văn hóa Óc Eo-Ba Thê.

Ngày càng có nhiều người trẻ tìm đến khám phá và trải nghiệm văn hóa Óc Eo-Ba Thê.

Đây là những tiền đề quan trọng giúp khu di tích văn hóa Óc Eo- Ba Thê từng bước trở thành điểm đến thân thiện, hấp dẫn, thu hút ngày càng đông du khách tìm đến để trải nghiệm và khám phá những giá trị văn hóa độc đáo. Thực tế cho thấy việc khai thác các di tích lịch sử-văn hóa để phát triển du lịch là hướng đi đúng đắn, không những đem lại các lợi ích kinh tế-xã hội, mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích thông qua việc giới thiệu đến với khách du lịch trong và ngoài nước. Do đó, thời gian tới, việc khai thác, bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa Óc Eo cần được chú trọng đẩy mạnh hơn nữa để đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành du lịch An Giang nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung.

Có thể bạn quan tâm

Giấy bản được dùng để ghi chép tri thức dân gian, lễ nghi và phong tục, lưu giữ những ký ức văn hóa cộng đồng.

Giấy bản – mạch nối ký ức vùng cao

Ẩn mình giữa núi rừng vùng cao, những tấm giấy bản mỏng nhẹ nhưng dai bền vẫn lặng lẽ gìn giữ kho tàng tri thức dân gian của đồng bào dân tộc thiểu số. Giấy bản không chỉ là chất liệu, mà còn là minh chứng sống động cho một nghề thủ công giản dị, âm thầm bền bỉ trước sự bào mòn của thời gian.

Chủ homestay Bản Liền Vàng Thị Thông: “Gia đình Haha là kỷ niệm đẹp nhất đời của chúng tôi”

Chủ homestay Bản Liền Vàng Thị Thông: “Gia đình Haha là kỷ niệm đẹp nhất đời của chúng tôi”

Những ngày qua, Bản Liền (Bắc Hà, Lào Cai) là địa danh được biết đến và tìm kiếm nhiều nhất trên mạng xã hội nhờ hiệu ứng của Chương trình Gia đình Haha. Chương trình đã để lại những ấn tượng và cảm xúc đặc biệt không chỉ cho những người tham gia, mà còn cả cho khán giả, và mở ra một chặng đường mới cho bà con người Tày ở đây.

Bạc được kéo thành sợi, nguyên liệu thô cho các công đoạn chế tác vòng cổ, vòng tay và xà tích.

[Video] Chạm bạc - nghề thủ công gắn với bản sắc đồng bào Nùng

Giữa những thửa ruộng bậc thang hùng vĩ ở Hoàng Su Phì, tỉnh Tuyên Quang (trước đây là tỉnh Hà Giang), nghề chạm bạc truyền thống của đồng bào Nùng tại xã Pờ Ly Ngài vẫn được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Không chỉ là sinh kế, nghề còn là biểu tượng văn hóa, gắn liền với tín ngưỡng, tổ tiên và niềm tự hào về cội nguồn.

Nghi thức trao lễ vật nhà trai cho nhà gái trong lễ cưới người Giáy.

Lễ cưới người Giáy - Duyên dáng một bản sắc

Lễ cưới của người Giáy không chỉ là khúc hát se duyên đôi lứa, mà còn là nơi chảy mãi mạch nguồn văn hóa của một tộc người giữa đại ngàn Tây Bắc. Qua từng nghi thức, lễ vật và câu hát giao duyên, hiện lên một bản sắc riêng đầy quyến rũ, góp phần làm nên vẻ đẹp bức tranh văn hóa Việt Nam.

Cây nêu bên mái nhà Gươi, biểu tượng văn hóa của người Cơ Tu. (Ảnh: Thế Dương)

Độc đáo nghệ thuật trang trí cây nêu của đồng bào Cơ Tu

Cây nêu một biểu tượng văn hóa thiêng liêng, giữ vị trí đặc biệt trong đời sống tinh thần của đồng bào Cơ Tu, tỉnh Quảng Nam. Không chỉ là nhịp cầu kết nối giữa con người với thế giới thần linh, cây nêu còn là tác phẩm mỹ thuật dân gian, kết tinh vẻ đẹp, trí tuệ sáng tạo và bản sắc văn hóa của người Cơ Tu.

Phụ nữ Dao quần trắng ở xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. (Ảnh: VŨ LINH)

Bản sắc người Dao quần trắng nơi lòng hồ Thác Bà

Xã Phúc An, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái là nơi cư trú lâu đời của cộng đồng người Dao quần trắng. Trong nhịp sống hiện đại, người Dao quần trắng vẫn gìn giữ những giá trị gắn bó với bản sắc tộc người. Nổi bật là trang phục truyền thống và nghề đan rọ tôm, phản ánh lối sống gắn với thiên nhiên vùng ven hồ Thác Bà.

Những mái nhà phủ rêu ở thôn Khuổi Mỹ, xã Phương Độ, thành phố Hà Giang. (Ảnh: VŨ LINH)

Khuổi My trong sương: Miền cổ tích trên sườn Tây Côn Lĩnh

Chỉ cách trung tâm thành phố Hà Giang hơn chục cây số, thôn Khuổi My, xã Phương Độ như một miền cổ tích còn sót lại giữa núi rừng. Ở độ cao gần 1000m so với mực nước biển, Khuổi My quanh năm sương mù bao bọc, phủ một lớp mỏng manh lên mái nhà, bờ rào, con dốc... Cả thôn như đang trôi giữa những tầng mây.
Ngôi nhà cổ Há Súng ngày càng xuống cấp theo thời gian. (Ảnh: VŨ LINH)

Há Súng - Bóng thời gian trên cao nguyên đá

Nằm vững chãi trên một gò đất cao giữa thôn Há Súng, xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn (Hà Giang), ngôi nhà cổ trăm tuổi vẫn lặng lẽ giữ gìn những dấu ấn của một thời dù lớp bụi thời gian đã nhuộm phai từng mảng tường, từng đường nét chạm khắc.
Đông đảo người dân và du khách tham gia hoạt động trải nghiệm "Giữ màu di sản".

Trải nghiệm nét văn hóa vẽ sáp ong trên vải của người Mông tại Thủ đô

Hưởng ứng Ngày Quốc tế Bảo tàng 2025 với chủ đề “Tương lai của bảo tàng trong các cộng đồng thay đổi nhanh chóng”, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam tổ chức sự kiện hoạt động trải nghiệm "Giữ màu di sản". Sự kiện giới thiệu về kỹ thuật tạo hoa văn sáp ong và nhuộm vải gắn liền với đôi bàn tay tài khéo của người phụ nữ Mông.

Phụ nữ Thái ở bản Hoa Tiến vẫn bền bỉ gìn giữ nghề dệt thổ cẩm truyền thống.

Thổ cẩm Hoa Tiến - Dấu ấn văn hóa từ bàn tay người phụ nữ Thái

Bản Hoa Tiến (xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An) từ lâu được xem là “bảo tàng sống” lưu giữ đậm nét văn hóa truyền thống của người Thái vùng Tây Bắc xứ Nghệ. Trong kho tàng ấy, nghề dệt thổ cẩm không chỉ góp phần làm đẹp cho đời sống mà còn là biểu tượng của bản sắc, được gìn giữ và trao truyền qua bao thế hệ. 

Giai điệu mộc mạc của sáo cúc kẹ lan tỏa tinh thần gìn giữ văn hóa truyền thống dân tộc.

[Video] Sáo cúc kẹ, "báu vật" văn hóa của đồng bào Xa Phó

Sáo cúc kẹ, loại nhạc cụ độc đáo của đồng bào Xa Phó ở xã Châu Quế Thượng, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, không chỉ là nhạc cụ dân gian thổi bằng mũi, mà còn là kết tinh của đời sống văn hóa, tín ngưỡng và tâm hồn nghệ thuật vùng cao Tây Bắc.

Người dân tham gia thi giã bánh dày - một hoạt động truyền thống trong ngày hội Kiêng gió.

Tục Kiêng gió - Nét văn hóa tâm linh đặc sắc của đồng bào Dao Thanh Phán ở Quảng Ninh

Mỗi dịp 4/4 (Âm lịch) hằng năm, bản làng người Dao Thanh Phán ở xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh lại rộn ràng trong sắc màu của lễ hội Kiêng gió, một nghi lễ dân gian đậm đà bản sắc văn hóa, thể hiện niềm tin sâu sắc của đồng bào Dao vào sự giao hòa giữa con người với thiên nhiên. Không chỉ là ngày hội văn hóa tâm linh, lễ hội Kiêng gió còn là điểm hẹn của cộng đồng, nơi người dân các dân tộc cùng nhau gặp gỡ, vui chơi và lan tỏa tinh thần đoàn kết.
Nghệ nhân Nay Phai đang thử độ ngân khi chỉnh chiêng. (Ảnh: NX)

Gìn giữ di sản cồng chiêng từ đôi tay nghệ nhân

Giữa không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên - Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, có những con người đặc biệt được giao trọng trách gìn giữ những thanh âm của đại ngàn. Nghệ nhân Nay Phai, người con của mảnh đất Gia Lai, với tài năng và tâm huyết, không chỉ lưu truyền âm thanh đặc trưng của cồng chiêng, mà còn thổi vào từng tiếng ngân vang, làm sống lại sức sống mãnh liệt của di sản vô giá này.

Nghệ nhân Lò Văn Biến đang thổi khèn bè – một trong những loại nhạc cụ truyền thống quan trọng trong đời sống văn hóa của đồng bào Thái.

Nghệ nhân Lò Văn Biến - Di sản Xòe Thái trường tồn

Nghệ nhân Lò Văn Biến, người được ví như "pho sử sống" của văn hóa dân tộc Thái, đã dành cả cuộc đời để gìn giữ và phát huy di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Thái, đặc biệt là điệu Xòe. Ông là một trong những người đầu tiên nghiên cứu và sưu tầm những điệu Xòe cổ, giúp chúng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia vào năm 2015.
Trang phục không chỉ là váy áo – đó là cả một di sản văn hóa được thiếu nữ H’Mông nâng niu gìn giữ

Trang phục truyền thống dân tộc H’Mông - Di sản văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc

Trong kho tàng văn hóa các dân tộc Việt Nam, trang phục truyền thống của đồng bào H’Mông là một trong những biểu tượng nổi bật thể hiện đậm nét bản sắc, đời sống và tâm hồn của cộng đồng. Với thiết kế độc đáo, màu sắc rực rỡ và hoa văn tinh xảo, trang phục dân tộc H’Mông không chỉ là lớp áo khoác ngoài, mà là tấm gương phản chiếu đời sống tinh thần của người H’Mông.
Biểu diễn trống paranưng trong một sự kiện văn hóa của đồng bào Chăm (Ảnh NX)

Tiếng trống, tiếng kèn kể chuyện văn hóa Chăm

Giữa không gian văn hóa đặc trưng của đồng bào Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận, bộ ba nhạc cụ truyền thống gồm trống Paranưng, trống Ghi-năng và kèn Saranai không chỉ đơn thuần là phương tiện biểu diễn, mà còn là biểu tượng văn hóa gắn liền với đời sống tinh thần và tín ngưỡng cộng đồng.

Nghệ sĩ tỳ bà Diệu Thảo (giữa) và các học trò của mình. (Ảnh: NVCC)

Vũ Diệu Thảo phát hành album nhạc cách mạng với 54 bản độc tấu tỳ bà

Nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, nghệ sĩ tỳ bà Vũ Diệu Thảo đã ra mắt khán giả một dự án âm nhạc dân tộc độc đáo: Biểu diễn 54 bản độc tấu tỳ bà với các bài hát cách mạng, mang ý nghĩa tinh thần đại đoàn kết của dân tộc thông qua sự kết nối âm nhạc của 54 dân tộc anh em.

Sin Suối Hồ - Bản tình ca của hoa và những nụ cười

Sin Suối Hồ - Bản tình ca của hoa và những nụ cười

Giữa đại ngàn Tây Bắc, có một bản làng người Mông từng nghèo khó, từng vật lộn với những hủ tục lạc hậu, nay bừng sáng lên bởi hoa, bởi những nụ cười và niềm tin vào tương lai. Đó là Sin Suối Hồ - điểm du lịch cộng đồng nổi bật của Lai Châu, nơi hội tụ vẻ đẹp thiên nhiên, bản sắc Mông và hành trình đổi thay đầy cảm hứng.

Rực rỡ sắc màu Chôl Chnăm Thmây

Rực rỡ sắc màu Chôl Chnăm Thmây

Giữa những ngày tháng 4, khi lúa trên đồng vừa vào đòng, cây thốt nốt vươn cao như đón nắng hè, cũng là lúc đồng bào Kh’mer Nam Bộ hân hoan đón chào Tết Chôl Chnăm Thmây – Tết cổ truyền thiêng liêng và rực rỡ sắc màu. Không chỉ là dịp để tiễn đưa năm cũ, đón năm mới, đây còn là khoảng thời gian đặc biệt để con cháu sum vầy, báo hiếu, cầu an và gìn giữ những giá trị văn hóa tâm linh truyền thống.
Đánh yến - Nét đẹp văn hóa của người Lô Lô đen

Đánh yến - Nét đẹp văn hóa của người Lô Lô đen

Vào lễ hội tháng Giêng hay các dịp lễ, Tết, các bản làng người Lô Lô đen ở Cao Bằng lại rộn rã tiếng hát giao duyên và các trò chơi dân gian đặc sắc. Trong đó, “Đánh yến” không chỉ là thú vui giải trí mà còn mang ý nghĩa tín ngưỡng, gửi gắm mong muốn âm dương hòa hợp, mùa màng bội thu, cuộc sống may mắn.
Từ bao đời nay, cuộc sống của người Thái luôn gắn liền với những con sông, con suối. (Trong ảnh: Bà con thi bắt cá suối.)

Tái hiện đời sống gắn với sông suối của người Thái qua lễ hội Then Kin Pang

Người Thái ở Lai Châu chiếm gần 32% dân số toàn tỉnh. Từ bao đời nay, đời sống của bà con luôn gắn liền với các con sông, con suối. Sông, suối cung cấp nguồn nước sinh hoạt và phục vụ canh tác nông nghiệp. Sông, suối cũng cung cấp nguồn sinh thủy dồi dào, phát triển nghề chài lưới, đánh bắt thủy sản; lưu giữ một phần văn hóa trong đời sống sinh hoạt thường ngày của bà con.