Sáng rõ dần văn hóa Óc Eo

Năm 1944, sau cuộc khai quật tại cánh đồng Óc Eo (tỉnh An Giang) của nhà khảo cổ học Pháp Louis Malleret, nền văn hóa Óc Eo chính thức được định danh. Lịch sử hình thành và phát triển văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam đang tiếp tục được làm sáng rõ với nhiều tư liệu khoa học quan trọng, hướng tới đề nghị UNESCO công nhận Khu di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê là Di sản thế giới. 

Toàn cảnh Khu di tích Óc Eo-Ba Thê.
Toàn cảnh Khu di tích Óc Eo-Ba Thê.

Đi tìm hình ảnh quá khứ huy hoàng 

Năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã giao Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện Đề án “Nghiên cứu khu di tích khảo cổ học Óc Eo-Ba Thê, Nền Chùa (văn hóa Óc Eo Nam Bộ)”. Đề án được thực hiện từ năm 2017-2021 nhằm làm rõ lịch sử của văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam, nghiên cứu sâu hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đô thị cổ Óc Eo trong lịch sử Việt Nam, Đông Nam Á và châu Á.

Kết quả khai quật và nghiên cứu đã làm rõ Óc Eo-Ba Thê và Nền Chùa là một phức hợp đô thị cổ, có vai trò quan trọng trong sự hình thành, phát triển vương quốc Phù Nam (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ 7). Quốc gia cổ này hình thành trên nền tảng truyền thống bản địa có mối quan hệ giao thương khá rộng trên con đường hải thương quốc tế. Các di vật, hiện vật ở Óc Eo-Ba Thê chứa đựng những giá trị đặc sắc của một nền văn minh bản địa kết hợp văn minh Ấn Độ cổ đại, tạo nên nền văn hóa Óc Eo, tạo nền tảng cho sự phát triển sớm nhất, tiêu biểu nhất của vương quốc Phù Nam.

Các tài liệu khoa học cho thấy, trong không gian tương đối tách biệt, tính bản địa của văn hóa Óc Eo đến “hậu Óc Eo” được hình thành trong quá trình vận động và phát triển lâu dài khoảng 10 thế kỷ-từ thế kỷ 2-1 trước Công nguyên đến khoảng thế kỷ thứ 8-9 sau Công nguyên. Tính bản địa đó thể hiện qua các công cụ làm gốm, đồ gỗ, đá, kỹ thuật xây dựng kiến ​​trúc tôn giáo, kiểu nhà ở, hình thức chôn cất người chết... Nhiều hiện vật thể hiện trình độ nghệ thuật cao như tượng Phật bằng gỗ, các bức tượng bằng sa thạch, sản phẩm gốm có họa tiết, phiến đá có chạm trổ hoa văn, khắc chữ cổ… Dấu vết những chiếc cột, xà, lan-can bằng gỗ cùng với nhiều dấu vết gỗ phân hủy trên cánh đồng Óc Eo thể hiện rõ hình thức cư trú truyền thống của cư dân Óc Eo xưa. Họ định cư chủ yếu trên nhà sàn gỗ quanh các gò đất cao ở chân núi. Họ đã đào và lấp nhiều kênh mương để khai thác đất trồng trọt theo mùa vụ. Trên các gò cao, sườn núi thường có các công trình kiến ​​trúc tôn giáo, nơi ở của tăng lữ, quý tộc bằng gạch, đá, gỗ. Họ di chuyển bằng thuyền, bè, xuồng theo kênh rạch hoặc ra biển, mang theo những vật dụng cần thiết cho cuộc sống sông nước như bếp nấu ăn, bình uống nước bằng gốm, lưới đánh cá.    

Đời sống cư dân Óc Eo gắn liền với môi trường sông và ven biển. Quá trình biển xâm thực trong khoảng thế kỷ 7-8 đã nhấn chìm đất canh tác, bồi lấp kênh rạch, phá hủy các khu dân cư, cơ sở sản xuất, kiến ​​trúc đền đài (những tinh thể muối còn đọng lại trong nhiều lớp gạch của khu di tích Gò Cây Thị đã chứng minh điều đó). Cùng với sự dịch chuyển của con đường hàng hải từ Óc Eo đến Palembang-kinh đô của vương quốc cổ Srivijaya (thuộc Sumatra, Indonesia) từ thế kỷ thứ 7, đô thị cổ Óc Eo mất dần vị trí trung tâm trung chuyển trọng yếu. Môi trường thiên nhiên biến đổi và những biến động của lịch sử khiến đô thị cổ Óc Eo suy tàn. Trải qua nhiều biến động của đời sống xã hội và cả chiến tranh, cư dân sau này trong vùng di sản đã xây trùm lên di tích nhiều công trình kiến ​​trúc, mồ mả, khu sản xuất… Nhiều di tích cổ đã bị chôn vùi hoặc bị phá hủy. 

Một vùng đô thị phát triển rực rỡ trong quá khứ

Óc Eo-Ba Thê là điểm trung chuyển chính giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương qua eo biển Kra ở miền nam Thailand thời bấy giờ. Những thế kỷ đầu Công nguyên, Óc Eo-Ba Thê đã nổi lên như một khu vực có trình độ sản xuất và thương mại phát triển, nối liền giao thương giữa phương Tây và phương Đông. Đô thị cổ Óc Eo với những xưởng thủ công lớn, trình độ kỹ thuật cao, vừa đa ngành, vừa chuyên môn hóa, đặc biệt là kim hoàn, chế tác thủy tinh, đá quý... Sản phẩm ở đây đã được tiêu thụ sang các nước, vùng, lãnh thổ mà ngày nay là Nam Thailand, Bắc Malaysia, Java, miền trung Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc... Đây cũng là điểm giao thoa, tiếp biến văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghệ thuật, tôn giáo, chữ viết... với các quốc gia cổ có nguồn gốc từ Ấn Độ và các quốc gia khác ở Địa Trung Hải, Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương thông qua các sản phẩm thương mại và quan hệ quốc tế trong thời kỳ hưng thịnh của vương quốc Phù Nam từ thế kỷ thứ 2 đến thế kỷ thứ 7.

Hàng triệu mảnh gốm tìm thấy trong các hố khai quật, được xử lý sơ bộ đã hé lộ những bí ẩn của mạng lưới thương mại hàng hải thời bấy giờ mà đô thị cổ này có vai trò rất quan trọng, như một điểm dừng chân trong các chuyến hải trình Đông-Tây thời bấy giờ. PGS, TS Bùi Minh Trí đã phát hiện ra nhiều đồ gốm nước ngoài trong các sưu tập đồ gốm Óc Eo, đặc biệt là những đồ gốm mới được tìm thấy tại các di tích Nền Chùa, Lung Lớn và Gò Giồng Cát. Đó là những đồ gốm có nguồn gốc từ La Mã (thế kỷ 2), Ấn Độ (thế kỷ 1-6), Trung Quốc (thế kỷ 2-7) và Tây Á (thế kỷ 8). Theo GS Nguyễn Văn Kim, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia: “Các phát hiện khoa học đó là những minh chứng tin cậy, sát thực về vai trò, năng lực kết tụ, truyền phát cũng như chất biển, tư duy hướng biển, tính chất thương nghiệp điển hình của trung tâm kinh tế-văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam”.

Sáng rõ dần văn hóa Óc Eo -0
Nhẫn Nandin. 

Kỳ vọng ghi danh di sản thế giới

Năm 2012, di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê đã được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt, được xác định phạm vi bảo vệ để bảo tồn và phát huy giá trị theo “Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo-Ba Thê”, được Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 115/QĐ-TTg ngày 23/01/2021. Ngày 18/10/2021, Văn phòng Chính phủ đã giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam gửi Báo cáo tóm tắt Hồ sơ Khu Di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê tới Trung tâm Di sản thế giới UNESCO để đề nghị đưa vào danh sách dự kiến lập hồ sơ di sản thế giới. Ngày 27/12/2021, Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam đã có công hàm chính thức đệ trình UNESCO về báo cáo này. Cho đến ngày 4/1 năm nay, UNESCO đã chính thức đưa hồ sơ Khu Di tích khảo cổ Óc Eo-Ba Thê vào danh sách dự kiến lập hồ sơ Di sản văn hóa thế giới. 

Năm 2021, tỉnh An Giang có hai hiện vật thuộc Quần thể di tích quốc gia đặc biệt Óc Eo-Ba Thê được công nhận bảo vật quốc gia. Đó là Nhẫn Nandin Giồng Cát bằng vàng có niên đại thế kỷ 5, phát hiện trong cuộc khai quật năm 2018 tại di tích Gò Giồng Cát; và Phù điêu Phật Linh Sơn Bắc bằng đá granite có niên đại thế kỷ 3-4, phát hiện khi khai quật khảo cổ ở di tích Linh Sơn Bắc năm 2019.

Tại Hội thảo khoa học tại Hà Nội, ngày 25/3, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng giới thiệu cuốn sách “Văn hóa Óc Eo-Những phát hiện mới khảo cổ học tại di tích Óc Eo-Ba Thê và Nền Chùa 2017-2020”. Với 360 trang sách, ngoài các bản vẽ, ảnh di tích và hiện vật khảo cổ học còn có nhiều bức không ảnh chụp các địa điểm khảo cổ học thuộc Đề án, các mô hình 3D di tích được phục dựng từ kết quả nghiên cứu so sánh.

Có thể bạn quan tâm

Nhà văn Lê Phương Liên (giữa) cùng nhà văn Nguyễn Nhật Ánh, TS giáo dục Thụy Anh trong một cuộc giao lưu của Câu lạc bộ Đọc sách cùng con. Ảnh: QUANG HƯNG

Người đi đường dài cùng trẻ thơ

Hơn nửa thế kỷ cầm bút, nhà văn Lê Phương Liên đã đi trên con đường vun đắp cho văn học thiếu nhi Việt Nam bằng sự bền bỉ hiếm có. Từ những truyện ngắn đầu tay viết cho thiếu nhi, những năm tháng làm biên tập ở NXB Kim Đồng đến cuốn "Bạn văn của tuổi thơ" vừa ra mắt, hành trình ấy không chỉ là hành trình của một người sáng tác, mà còn là hành trình lưu giữ ký ức của văn học thiếu nhi Việt Nam.

Đến thư viện, các em được các cô tận tình chỉ dạy từng nét vẽ.

Hè trong trang sách

Đó là chủ đề được Thư viện tỉnh Lai Châu triển khai hiệu quả trong hè 2026, giúp các bạn nhỏ thoát khỏi sự lệ thuộc vào các thiết bị điện tử như: Ipas, ti vi, điện thoại…

Nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ Bàng Ái Thơ đón nhận 3 cuốn sách của nữ sĩ Canada Linda Mazur.

Đặc sắc thư viện Đồi Nghệ sĩ

Ẩn mình giữa không gian thanh bình của núi rừng Yên Bài (Hà Nội), Đồi Nghệ sĩ hơn 5 năm qua đã trở thành điểm hẹn văn hóa của nhiều văn nghệ sĩ trong và ngoài nước. Chỉ mới xây dựng từ mùa xuân 2026, Thư viện Đồi Nghệ sĩ ra đời như một bước đi kết nối di sản chữ nghĩa.

Neo lại tình yêu, sự hy sinh

Neo lại tình yêu, sự hy sinh

Viết truyện cho thiếu nhi đã khó, dựng một huyền thoại vừa chân thực vừa sống động trong thế giới của những đứa trẻ càng khó hơn. Nhưng lật từng phần trong tập truyện thiếu nhi “Huyền thoại trên đồi cao” của Lệ Hằng, tôi đã thấy nhà văn thật thành công trong việc không dễ này.

Nhiều biên đạo trẻ dùng chất liệu dân gian để sáng tạo nên những hình thức biểu đạt mới. Ảnh: K.MINH

Nghệ thuật múa tăng sức mạnh mềm hội nhập

Trong nhiều cuộc thảo luận về sức mạnh văn hóa của các quốc gia, các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật hay thời trang thường được xem là những lĩnh vực có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác, nghệ thuật múa - đặc biệt là múa dân tộc đang âm thầm trở thành một trong những phương tiện biểu đạt hiệu quả của sức mạnh mềm văn hóa.

Nồng nhiệt cuối hè

Nồng nhiệt cuối hè

Bước vào những ngày nghỉ cuối hè của giới học sinh, sinh viên, tuy cơn nắng nóng bất thường vừa trở lại, nhưng cùng với đó, là hàng loạt sự kiện văn hóa biểu hiện qua võ… và vẽ thật tưng bừng.

Tái hiện lễ cưới Nam Bộ truyền thống tại chương trình "Kết duyên tơ hồng".

Tái hiện lễ cưới Nam Bộ xưa

Thân nghinh - một nghi lễ quan trọng trong đám cưới Nam Bộ truyền thống - vừa được tái hiện trọn vẹn tại sự kiện văn hóa “Kết duyên tơ hồng”. Điều đặc biệt là cả ban tổ chức lẫn khách tham dự đa phần là người trẻ. Họ cùng nhau trải nghiệm nét độc đáo của lễ cưới xưa thông qua chuỗi hoạt động giàu ý nghĩa.

Màn trình diễn tại Lễ hội pháo hoa quốc tế Đà Nẵng 2026 thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Dọn đường đưa văn hóa vào kinh tế sáng tạo

Hiện nay, sức hấp dẫn của các sản phẩm văn hóa phần lớn được quyết định bởi năng lực sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm. Để văn hóa có sức sống bền vững và lan tỏa, Việt Nam cần phát triển hệ sinh thái sáng tạo một cách tương xứng.

Tình thương trên mạng

Gần đây, tôi theo dõi một nhóm Facebook chuyên cho tặng đồ miễn phí ở Hà Nội, thành viên đâu đó hơn 200 nghìn người. Nhóm có nguyên tắc khá đơn giản rằng cho đồ, xin đồ, có thể xin việc, nhưng không xin tiền, cho tiền. Nhờ thế, câu chuyện vẫn còn giữ được chút trong trẻo của việc một người thừa cái gì đó và một người khác vừa hay đang thiếu.

Triển lãm “Địa tầng ký ức" vào ngày khai mạc.

Cuộc đối thoại giữa đất và ánh sáng

Các tác phẩm trong triển lãm “Địa tầng ký ức”, diễn ra tại Bảo tàng nghệ thuật Quang San, TP Hồ Chí Minh từ ngày 24/7 đến 23/8 được họa sĩ Vũ Đức Hiếu (Hiếu Mường) bày chung với đồng nghiệp, được chắt lọc từ quá trình nghiên cứu và thực hành nghệ thuật của anh hơn hai mươi năm.

Ban Chấp hành khóa X ra mắt đại hội.

Chờ gỡ mối buộc cho sân khấu vươn mình

Mở đầu cho chuỗi đại hội các hội văn học, nghệ thuật nhiệm kỳ mới sắp lần lượt diễn ra, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2026-2031 vừa gióng lên những khó khăn, bất cập với đời sống sân khấu và một phần cũng là của đời sống văn học, nghệ thuật. Thời Nay chia sẻ một số nhìn nhận thẳng thắn và kỳ vọng phát đi từ đại hội.

Vợ chồng nhà thơ Vũ Cao.

Nhà thơ Vũ Cao thực hành văn nghệ

LTS: Gần đây, dư luận xã hội quan tâm bàn luận nhiều về nhà văn, nghề văn, công việc cầm bút, cả những vấn đề nhân cách, đạo đức, quan hệ xã hội, tinh thần lao động nghề nghiệp, ý thức dấn thân, cống hiến… Với nhiều góc nhìn khác nhau và những ý kiến đa chiều, có sự ghi nhận, tôn vinh, nhưng cũng có cả những băn khoăn, những đánh giá chưa đầy đủ hoặc thái độ coi thường…

Bày tranh kể niềm hạnh phúc với Việt Nam

Bày tranh kể niềm hạnh phúc với Việt Nam

Họa sĩ Lester, hội viên Hội Nhà văn Anh Quốc, từng có nhiều triển lãm tại Vương quốc Anh. Chiều qua 2/8 tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), đã diễn ra lễ khai mạc triển lãm “Việt Nam - Niềm đam mê khám phá” của anh.

Về nghe Nguyễn Nhật Ánh kể chuyện tình

Về nghe Nguyễn Nhật Ánh kể chuyện tình

Vẫn chọn không gian làng quê cũ với những mảnh đời ngang trái, trong lần hội ngộ này, nhà văn Nguyễn Nhật Ánh tiếp tục để bạn đọc chứng kiến bao ngã rẽ chông chênh. “Chuyện tình thị trấn” (NXB Trẻ) mang đoạn kết buồn nhưng lại mở ra nhiều hướng đi mới thênh thang hơn cho từng nhân vật.

Chế độ đãi ngộ với nghệ sĩ, diễn viên đang cần được nâng cao hơn trong bối cảnh mới.

Chờ hỗ trợ diễn viên thiết thực hơn

Trong bối cảnh mới, sân khấu đối mặt nhiều đòi hỏi nâng mình lên, trong cả công tác chuyên môn lẫn hoạt động phong trào. Tổ chức hội nghề nghiệp đang đặt ra mục tiêu và cũng được kỳ vọng có tiếng nói giúp nâng cao điều kiện đãi ngộ cho các nghệ sĩ. Cùng với đó, thúc đẩy việc lan tỏa tác phẩm hay đến công chúng.

Ảnh: ANH QUÂN

Hội ngộ di sản với đương đại

Trân trọng và gìn giữ quá khứ, để hướng tới tương lai, là một tinh thần gần như đã rút gọn thành “khẩu hiệu” trong nhiều ngành khác nhau. Cuối tuần qua tại Thủ đô (31/7), vừa khai mạc một triển lãm thú vị liên quan tới mục đích như vậy với tên gọi là “Mật ngữ thời gian” tại Nhà triển lãm Mỹ thuật (16 Ngô Quyền).

Nghệ sĩ Nguyệt Thu và An Như biểu diễn tại Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội).

Âm nhạc lan tỏa yêu thương nơi phòng bệnh

Không phông màn rực rỡ, không có hệ thống âm thanh, ánh sáng chuyên nghiệp hay những hàng ghế xếp ngay ngắn, buổi biểu diễn của dự án “Nơi yêu thương bắt đầu” diễn ra giữa một không gian khác lạ: Sảnh bệnh viện. Ở đó, tiếng đàn tìm đến bệnh nhân, người nhà và nhân viên y tế, trao đi những phút giây bình yên giữa hành trình điều trị vốn đầy âu lo, căng thẳng.

Ảnh: SONG ANH

Góc rẽ

Hàng xe nối dài trước sảnh chung cư. Dưới nắng đầu hè, mặt đường rung lên bởi tiếng động cơ. Một chiếc xe bốn chỗ cố lách vào khoảng trống hẹp còn lại. Tiếng còi xe chát chúa khiến người đàn ông trung niên ngoái đầu. Tay trái ông đeo chiếc ba-lô, tay phải dắt một đứa trẻ. Vừa kịp nhận ra tiếng còi không hướng về mình, ông bước tiếp. Đứa bé gái vẫn nắm chặt tay ông. Phía trước là một góc rẽ.