Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.
Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Từ đòi hỏi cấp bách…

Là loại hình vận tải hiện đại, tốc độ cao, nên biên độ sai sót cho phép đối với đường sắt tốc độ cao là rất nhỏ, do đó mọi thiết bị, quy trình và con người tham gia hệ thống đều phải được chuẩn hóa nghiêm ngặt. Chính vì vậy, công tác đào tạo nguồn nhân lực cho loại hình vận tải này không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thiết bị, mà yêu cầu cao trong việc hình thành năng lực hiểu hệ thống, làm chủ quy trình, biết đánh giá trạng thái kỹ thuật và xử lý tình huống theo đúng nguyên tắc an toàn.

Tuy nhiên với loại hình đường sắt tốc độ cao, ở Việt Nam chưa có bất cứ trường đại học, học viện, trường nghề nào có hệ thống giáo trình, giảng viên đào tạo hoàn chỉnh, đồng bộ, và cũng không có cơ sở đào tạo nghề nào được trang bị máy móc, thiết bị, phòng học tiêu chuẩn cho đào tạo lĩnh vực này. Chính vì vậy, ngay từ năm 2025, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR) đã xây dựng kế hoạch, lộ trình đào tạo, chủ động đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh mới.

Cụ thể, VNR đã giao nhiệm vụ cho Trường cao đẳng Đường sắt liên kết đào tạo với các học viện, trường đại học trong nước và nước ngoài như: Trung Quốc; Hàn Quốc; Nhật Bản; Đức…, đồng thời bố trí nguồn vốn sẵn sàng cho công tác đào tạo trước nguồn nhân lực quan trọng này. Đặc biệt, với các ngành quan trọng như điện khí hóa, tự động hóa, cần tuyển dụng, đào tạo cập nhật kiến thức kịp thời đáp ứng yêu cầu cấp bách về nguồn nhân lực trong giai đoạn chuyển giao ban đầu, vừa chuẩn bị nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu phục vụ giai đoạn tự chủ cả về công tác vận hành, công nghệ, cũng như bảo trì sửa chữa sau này. Song hành cùng đào tạo chuyển đổi, VNR chú trọng đào tạo mới đối với các chức danh hiện chưa có tại đường sắt hiện hữu hoặc không liên quan nhiều đến an toàn như: hệ thống điện, cơ điện, nhân viên trên tàu, dưới ga…; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp đường sắt.

… Đến khởi đầu thuận lợi

Là đơn vị đầu mối, Trường cao đẳng Đường sắt đối mặt nhiều thách thức lớn khi chính giảng viên chưa được tiếp cận nhiều, thiết bị giảng dạy hiện chỉ đáp ứng phục vụ cho các tuyến đường sắt hiện hữu và đường sắt đô thị. Chia sẻ về vấn đề này, TS Trương Trọng Vương, Hiệu trưởng Trường cao đẳng Đường sắt cho biết, với phương châm biến thách thức thành cơ hội, nhà trường đã chủ động xây dựng phương án đào tạo phù hợp, tham khảo, học tập kinh nghiệm, và đặc biệt là tăng cường hợp tác với các nước sở hữu hệ thống đường sắt cao tốc hiện đại.

Đơn cử, chỉ sau ba tháng đàm phán và chuẩn bị, nhà trường đã thống nhất xây dựng khung chương trình đào tạo, đề cương bài giảng bảo đảm sát thực tế và mở khóa đào tạo cập nhật kiến thức đầu tiên với hai ngành: công trình đường sắt và thông tin tín hiệu đường sắt với Học viện Đường sắt Liễu Châu và Học viện Đường sắt Côn Minh (Trung Quốc). Giám đốc Trung tâm Tư vấn giáo dục nghề nghiệp Đặng Thanh Phương chia sẻ thông tin, khóa đầu tiên khai giảng ngày 10/6/2025, với 180 học viên là công nhân, kỹ thuật viên của các Công ty cổ phần đường sắt, Thông tin tín hiệu đường sắt cùng giảng viên Trường cao đẳng Đường sắt cử đi học. Sau ba tháng học lý thuyết tại Trường cao đẳng Đường sắt do các giảng viên, chuyên gia đường sắt cao tốc Trung Quốc giảng dạy, các học viên đã được tham gia khóa đào tạo thực hành, thực tập thực tế tại Trung Quốc.

“Với hầu hết học viên, tất cả đều rất bỡ ngỡ, lạ lẫm”, anh Nguyễn Quang Dương - một học viên cho biết, điểm thuận lợi là toàn bộ chương trình đào tạo đều được phía bạn chuẩn bị chu đáo, dễ hiểu, kèm các hình ảnh, video clip sống động nên dễ hình dung, mọi thắc mắc đều được giảng viên giải đáp, trao đổi kịp thời.

Tự tin hơn với những kiến thức có được từ chuyến thực tập thực tế tại Trung Quốc, anh Dương tâm sự, “trăm nghe không bằng một thấy”, lần đầu trực tiếp thực hành, thao tác trên các mô hình kỹ thuật, phòng thí nghiệm, hệ thống mô phỏng và một số thiết bị tiên tiến, mọi người đều hứng khởi. Không chỉ được nâng cao kiến thức chuyên môn, chương trình đào tạo tại Trung Quốc có tính thực tiễn cao, tập trung vào các lĩnh vực then chốt theo hướng kết hợp chặt chẽ từ nguyên lý đến thao tác hiện trường giúp học viên hình thành tư duy tổng thể, tiếp thu kiến thức có tính hệ thống, tiếp cận các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, vận hành các thiết bị, công nghệ hiện đại.

Theo Giáo sư Phùng Văn Trì, Phó Chủ nhiệm khoa Thông tin tín hiệu (Học viện Đường sắt Liễu Châu), người trực tiếp tham gia giảng dạy khóa học đặc biệt này, công tác đo đạc, kiểm tra và bảo trì đường sắt tốc độ cao ở Trung Quốc được tổ chức theo quy trình chặt chẽ, tiêu chuẩn hóa cao, với mức độ ứng dụng công nghệ hiện đại rất cao, bảo đảm độ chính xác hình học của tuyến đường sắt. Đó là những kiến thức mà chúng tôi mong các học viên tiếp thu, nắm bắt được, từ đó có thể chuyển giao, chủ động vận hành khi các tuyến đường sắt tốc độ cao ở Việt Nam được đưa vào khai thác.

Với hai giảng viên tham gia khóa học, Trưởng khoa Thông tin-tín hiệu-Điện Hoàng Minh Tường và Trưởng khoa Công trình-Cơ khí Hoàng Thanh Hương của Trường cao đẳng Đường sắt, kinh nghiệm thực tế của các giảng viên phía bạn là những kiến thức quý báu, cần học hỏi, cập nhật để đóng góp xây dựng chương trình đào tạo, tham gia giảng dạy hệ đường sắt mới tại Việt Nam.

Đặc biệt, theo giảng viên Hoàng Thanh Hương, ngoài phần lý thuyết và những kinh nghiệm, kiến thức cập nhật được sau khóa thực tập thực tiễn tại Trung Quốc, chúng tôi đã có buổi báo cáo kết quả học tập và những khó khăn, đề xuất với Trường cao đẳng Đường sắt điều chỉnh nhằm hoàn thiện chương trình đào tạo sát thực hơn trong các khóa sau.

Với kết quả khá khả quan từ khóa đào tạo đầu tiên về đường sắt tốc độ cao tại Trung Quốc vừa qua, TS Trương Trọng Vương xác định, để đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đào tạo, cần có lộ trình và đầu tư trọng điểm. “Nhà trường sẽ bổ sung danh mục nghề đào tạo mới, tăng cường liên kết đào tạo với các trường có kinh nghiệm đào tạo đường sắt ở nước ngoài tiến dần đến mục tiêu làm chủ từng phần, sau đó là tự chủ hoàn toàn đào tạo nhân lực đường sắt mới và đường sắt tốc độ cao”, TS Trương Trọng Vương tin tưởng ■

Theo Đề án đào tạo, phát triển nguồn nhân lực đường sắt Việt Nam đến năm 2035, định hướng đến năm 2045 (Đề án 2230), nguồn nhân lực dành cho các dự án đường sắt tốc độ cao là rất lớn. Dự kiến, tuyến đường sắt tốc độ cao trục bắc - nam cần 13.880 lao động; dự án đường sắt Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng cần 2.431 lao động cho 13 nhóm chức danh công việc.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.