Lời giải cho bài toán “con gà-quả trứng"

Theo kết quả Khảo sát người tiêu dùng trên toàn cầu của Công ty Kiểm toán PwC năm 2024, có tới 54% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng trả thêm tới 10% cho các sản phẩm làm từ vật liệu tái chế hoặc bền vững. Song, khi nhu cầu đã hiện hữu, liệu các doanh nghiệp cùng hành lang chính sách có đủ nhanh nhạy để đáp lại mong muốn ấy?

Người tiêu dùng trẻ ở Việt Nam đang dần thay đổi, chú trọng sử dụng các sản phẩm xanh.
Người tiêu dùng trẻ ở Việt Nam đang dần thay đổi, chú trọng sử dụng các sản phẩm xanh.

Sẵn sàng chi tiêu vì tương lai

Theo Khảo sát người tiêu dùng của Công ty Kiểm toán PwC năm 2024, 85% số người tiêu dùng thuộc nhiều quốc gia khi được hỏi khẳng định: Họ cảm thấy bị ảnh hưởng bởi tình trạng biến đổi khí hậu. Hiển nhiên, vấn đề này cũng tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi mua sắm. Ngày càng nhiều người quan tâm đến việc hạn chế lãng phí thực phẩm, lựa chọn sản phẩm bền vững, giảm thiểu rác thải nhựa, cũng như gia tăng tìm kiếm thông tin về tác động của sản phẩm tới môi trường.

Việt Nam cũng không ngoại lệ. Theo PwC, có tới 54% người tiêu dùng nước ta sẵn sàng trả thêm tới 10% cho các sản phẩm làm từ vật liệu tái chế hoặc bền vững, tỷ lệ này cao hơn mức trung bình của khu vực châu Á-Thái Bình Dương là 50%.

Trên các nền tảng mạng xã hội, thông điệp về “sống xanh” cũng như chung tay góp phần bảo vệ môi trường đang lan tỏa với tốc độ chóng mặt. Hình ảnh các bạn trẻ Việt Nam mang theo bình nước làm từ vật liệu tái chế, hay đeo trên vai những chiếc túi vải để sử dụng tại siêu thị không còn là điều hiếm gặp. Chính họ cũng là đối tượng ủng hộ nhiệt thành cho các thương hiệu có cam kết bảo vệ môi trường.

Khảo sát của Công ty Nghiên cứu thị trường Nielsen cho thấy: 81% người tiêu dùng toàn cầu tin rằng các công ty nên có trách nhiệm cải thiện môi trường. Đồng thời, nhóm người trẻ tuổi chiếm phần lớn trong số những người sẵn sàng chi trả cao hơn cho các sản phẩm xanh - một chỉ dấu dịch chuyển quyền lực: Mỗi quyết định mua sắm hôm nay không đơn thuần chỉ là lựa chọn sản phẩm tốt, mà còn góp phần gửi đi thông điệp mạnh mẽ, buộc các nhà sản xuất cũng như toàn bộ chuỗi cung ứng phải nhanh chóng chuyển mình.

Tiêu chuẩn cho sản phẩm xanh

Theo ông Cù Huy Quang, Trưởng phòng Hiệu quả năng lượng và chuyển đổi xanh, Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công, Việt Nam vẫn đang thiếu nhiều tiêu chuẩn quy định cụ thể "Thế nào là sản phẩm sạch, sản phẩm xanh?". Do đó, Bộ Công thương đang cố gắng đưa ra nhiều tiêu chuẩn, tiêu chí sản phẩm, hàng hóa xanh để người tiêu dùng dễ dàng nhận biết. Ngược lại, các doanh nghiệp cũng cần phải công bố minh bạch các thông số sản phẩm, nguồn gốc nguyên vật liệu, tiêu chuẩn sản xuất, sản phẩm được kiểm chứng bởi cơ quan nào?… Nếu không thể tiếp cận thông tin một cách minh bạch và rõ ràng, người tiêu dùng sẽ khó đưa ra quyết định.

Từ năm 2006, Bộ Công thương đã triển khai việc dán Nhãn năng lượng. Với các chỉ dẫn rõ ràng tương ứng năm ngôi sao, người tiêu dùng hiện nay đã quen với việc kiểm tra nhãn năng lượng khi mua ti-vi, tủ lạnh, điều hòa... Các thiết bị điện hiệu suất thấp dần bị đào thải và được thay thế bằng sản phẩm hiệu suất cao hơn. Đây được xem là hình thức "nhãn xanh" rất thành công ở nước ta.

Song, theo nhận định của ông Quang, ở nhiều nhóm sản phẩm khác, các tiêu chuẩn và nhãn nhận diện sản phẩm xanh còn thiếu và yếu. Thậm chí, số lượng sản phẩm xanh trong nước vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung ở nhóm thực phẩm, đồ ăn, thức uống, trong khi nhiều lĩnh vực khác chưa có sự phát triển tương xứng. Trong thời gian tới, Bộ Công thương đang đẩy mạnh hơn nữa các chương trình nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế chính sách, tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp và người tiêu dùng có thể tiếp cận và sản xuất nhiều sản phẩm xanh hơn.

Vai trò kiến tạo của Nhà nước và địa phương

Với vai trò cơ quan đầu mối triển khai Mục tiêu phát triển bền vững số 12, Bộ Công thương đã xây dựng Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030. Trong 5 năm qua, Chương trình đã tích cực lồng ghép các nội dung ESG và thúc đẩy việc xây dựng tiêu chuẩn xanh. Năm 2024, Bộ đã xây dựng ba tiêu chuẩn cho sản phẩm nhựa tái chế. Năm 2025 sẽ có thêm năm tiêu chuẩn mới trong lĩnh vực này. Song song đó, Bộ cũng triển khai nhiều mô hình tái chế, tái sử dụng chất thải, phát triển nguyên vật liệu mới và áp dụng kinh tế tuần hoàn tại các cụm công nghiệp có tiềm năng, nhằm tạo chuyển biến thực chất trong sản xuất.

Dẫu vậy, theo góp ý của các doanh nghiệp trong nước, nhiều sản phẩm thân thiện với môi trường vẫn chưa nhận được sự ưu tiên về tiêu thụ, so với các sản phẩm gây ô nhiễm như túi nilon, ly nhựa, đồ dùng nhựa một lần... Chính phủ cần sớm ban hành lộ trình và thời gian cụ thể đối với việc cấm hoặc hạn chế sử dụng các sản phẩm không thân thiện với môi trường, thay vì dừng lại ở các chiến dịch kêu gọi tự nguyện.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần ưu tiên mua sắm công đối với hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp đã có đầu tư bài bản trong chuyển đổi xanh. Muốn các nỗ lực xanh hóa được thực hiện hiệu quả và bền vững, cần có hành lang pháp lý rõ ràng, đồng bộ và những cơ chế hỗ trợ thực chất hơn nữa.

Điển hình như ở Thủ đô Hà Nội - thành phố đặt mục tiêu 100% siêu thị, trung tâm thương mại và khoảng 70-80% chợ truyền thống không còn sử dụng túi nilon khó phân hủy trong năm 2025. Các nội dung của chương trình sản xuất và tiêu dùng bền vững sẽ được lồng ghép với các đề án, chương trình trọng điểm hiện có như quản lý và phát triển logistics, phát triển thương mại điện tử, chương trình sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, khuyến công, phát triển sản phẩm công nghiệp chủ lực và công nghiệp hỗ trợ... Địa phương cũng sẽ chú trọng xây dựng và thúc đẩy sự phát triển của các chuỗi cung ứng bền vững, ưu tiên phân phối các sản phẩm thân thiện môi trường, có dán nhãn sinh thái tại các hệ thống phân phối hiện đại.

Đồng thời, Hà Nội cũng đẩy mạnh truyền thông, lồng ghép nội dung về sản xuất và tiêu dùng bền vững vào chương trình giáo dục đào tạo ở tất cả các cấp học, nhằm hình thành tư duy phát triển bền vững cho thế hệ trẻ ngay từ trong nhà trường. Người tiêu dùng sẽ được định hướng rõ ràng thông qua việc phổ biến kiến thức về sản phẩm hữu cơ, sản phẩm được dán nhãn sinh thái và các tiêu chí lựa chọn sản phẩm xanh.

Rõ ràng, bài toán "con gà - quả trứng" sẽ chỉ được giải quyết, khi có sự hợp lực chặt chẽ nhờ vai trò kiến tạo của Nhà nước, nỗ lực chuyển đổi của doanh nghiệp và cú huých mua sắm của thị trường tiêu dùng.

Có thể bạn quan tâm

Nhiều chương trình kết nối của CSIP đã hỗ trợ cộng đồng làm thiện nguyện chia sẻ bài học kinh nghiệm. (Nguồn: CSIP)

Chuyển dịch từ tự phát sang chú trọng bền vững

Nhìn một cách tổng thể, hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt quan trọng, từ những hành động mang tính tự phát, đang dần trở thành một nguồn lực xã hội có khả năng đóng góp vào các mục tiêu phát triển dài hạn.

Sự sụt giảm nguồn tài trợ đang mang đến những hệ lụy to lớn cho hệ thống cứu trợ nhân đạo toàn cầu.

Cân bằng phương trình bất khả thi

Chưa bao giờ, thế giới đối diện nhu cầu cứu trợ nhân đạo lớn như hiện tại. Nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ, nguồn tài trợ dành cho những hoạt động nhân đạo lại “eo hẹp” như lúc này.

Góc tập huấn sơ cứu - Góc “đắt hàng” nhất trong khuôn khổ Lễ phát động Tháng Nhân đạo năm 2026 cấp quốc gia tại Cung Thể thao Quần Ngựa (Hà Nội).

80 năm - Hành trình Nhân ái vì cộng đồng

Tháng Nhân đạo 2026 gắn với dấu mốc kỷ niệm 80 năm thành lập Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và là Chủ tịch danh dự đầu tiên của Hội.

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.