Kỷ niệm 65 năm Chiến thắng Ðiện Biên Phủ (7-5-1954 – 7-5-2019)

Huyền thoại pháo binh

Kỳ 1: Chuyện trong sử sách...

Từ bên quốc lộ 279 (đoạn Km 15 + 500 hướng Ðiện Biên - Tuần Giáo) nhìn sang, cụm tượng đài bộ đội kéo pháo bằng tay (thuộc quần thể di tích quốc gia đặc biệt Chiến dịch Lịch sử Ðiện Biên Phủ) nằm trên một sườn đồi không tên (thuộc địa phận xã Nà Nhạn, huyện Ðiện Biên, tỉnh Ðiện Biên). Chính ngọn đồi "vô danh" này là nơi bắt đầu cho rất nhiều câu chuyện xúc động, về những hành động phi thường của quân đội ta và nhân dân ta ngày cả nước hành quân lên Ðiện Biên Phủ, cả nước dồn sức cho trận quyết chiến chiến lược mang mật danh "Trần Ðình"...

Mô phỏng cảnh tượng bộ đội ta kéo pháo trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ tại Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Ðiện Biên Phủ. Ảnh: Lê Lan
Mô phỏng cảnh tượng bộ đội ta kéo pháo trong Chiến dịch Ðiện Biên Phủ tại Bảo tàng Chiến thắng Lịch sử Ðiện Biên Phủ. Ảnh: Lê Lan

65 năm đã trôi qua kể từ thời khắc tướng Ðờ Cát (Ðờ Ca-xtơ-ri) cùng bộ tham mưu của y kéo cờ trắng ra hàng (chiều 7-5-1954), Chiến thắng Ðiện Biên Phủ vẫn là một đề tài hấp dẫn với các văn nghệ sĩ nói chung và báo chí nói riêng; trong đó, chuyện "kéo pháo vào, kéo pháo ra" với gương hy sinh anh dũng của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, dường như lúc nào cũng mới.

Theo các tài liệu lịch sử, ngày 13-1-1954, tại hội nghị bàn kế hoạch tiến công tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ, Bộ chỉ huy chiến dịch nhất trí phương châm "đánh nhanh, thắng nhanh". Ðể giữ bí mật, Bộ chỉ huy quyết định dùng sức người kéo pháo vào trận địa. Bắt đầu từ Nà Nhạn, con đường vượt núi An Tao, vòng lên phía bắc và vươn tới bản Nghịu ở phía tây, có ngọn núi cao đến 1.150 mét so mực nước biển. Do tính chất khẩn trương của tình hình chiến trường, con đường kéo pháo với chiều dài 15 ki-lô-mét được hoàn thành chỉ trong... một ngày (15-1-1954) bằng cuốc, xẻng, xà-beng... bởi các cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn 308 và Trung đoàn công binh 151 (Bộ Quốc phòng). Ðể máy bay địch không phát hiện ra, đường mở tới đâu ngụy trang tới đó, nhiều đoạn các chiến sĩ phải đánh cây ở chỗ khác đem về trồng ven đường. Có đoạn phải dùng cành tre dựng thành giàn, trên phủ lá xanh hoặc buộc cành cây lại với nhau thành "con đường ống", khiến máy bay địch không thể phát hiện được.

Ðể kịp cho ngày "N": (25-1-1954) khai hỏa, cán bộ, chiến sĩ Ðại đoàn 312 và Trung đoàn sơn pháo được giao trong thời gian bảy ngày phải kéo pháo vào chiếm lĩnh trận địa. Trọng lượng mỗi khẩu trên hai tấn, lúc đầu lực lượng kéo chủ yếu là các pháo thủ, khi lên dốc phải thêm 10 rồi 20 người, có con dốc phải tăng cường gần ba tiểu đội cho mỗi khẩu pháo. Ðến ngày thứ ba, thứ tư... một số vị trí công binh phải mở rộng thêm mặt đường và hạ bớt độ dốc. Hậu cần mặt trận cũng tăng thêm định lượng từ 8 lạng lên 1 ki-lô-gam gạo cho một chiến sĩ. Qua chín ngày đêm, rạng sáng 25-1-1954, toàn bộ 24 khẩu pháo đã được đưa vào trận địa một cách an toàn và bảo đảm tuyệt đối các yếu tố bí mật.

Tuy nhiên lúc này, qua công tác trinh sát, ta phát hiện Pháp cũng đã hoàn thành việc tăng cường quân số và vũ khí, phương tiện cho Ðiện Biên Phủ, nhằm biến Ðiện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm "bất khả xâm phạm" với những đơn vị đồn trú tinh nhuệ, khí tài mạnh và hệ thống hầm hào kiên cố. Sau khi nghiên cứu, phân tích, so sánh lực lượng hai bên, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định thay đổi phương châm từ "Ðánh nhanh, thắng nhanh" sang "Ðánh chắc, tiến chắc". Với chủ trương đó, một mệnh lệnh của Bộ chỉ huy chiến dịch ban hành: "... Tất cả lực lượng pháo binh kéo trở lại vị trí tập kết chiến dịch cũ trên đường 41, ngay trong đêm nay, 26-1-1954". Với cán bộ, chiến sĩ lực lượng pháo binh, mệnh lệnh đó đã gây không ít xáo trộn về tâm lý khi đã phải đổ biết bao mồ hôi, công sức mới đưa được pháo vào trận địa, giờ lại phải kéo pháo ra... Nắm bắt tư tưởng chiến sĩ, các chi bộ kịp thời họp để quán triệt việc kéo pháo ra và chập tối 26-1-1954, cuộc vật lộn với đèo cao, vực thẳm, dốc trơn... được lặp lại, chỉ có điều lần này mũi pháo... quay về hậu cứ. Lượt kéo pháo vào trận địa đã rất gian khổ, nhưng không gian khổ bằng lượt kéo pháo ra. Dường như không quân Pháp đã phát hiện thấy hoạt động của ta, nên chúng liên tục cho máy bay trinh sát và sau đó là phản lực oanh tạc.

Ðêm 1-2-1954 là đêm thứ bảy các chiến sĩ thực hiện mệnh lệnh kéo pháo trở ra. Ðỉnh Pha Sông cao hơn 1.100 mét là một trong những đỉnh cao nhất của dãy Pú Pha Sông lừng lững mà bộ đội phải kéo pháo qua, trên đoạn đường từ ngã ba Nà Nhạn vòng qua bản Tấu (bản Tố) tới cánh đồng Na Hí. Anh em gọi vui đây là "Dốc ông Mậu" (đồng chí Phạm Ngọc Mậu, Chính ủy Ðại đoàn công pháo 351). Hồi chiến dịch, một bộ phận nhỏ của Ðại đoàn 351 và Ðại đoàn 312 đóng quân chung trong một thời gian ngắn để hiệp đồng kéo pháo theo kế hoạch "đánh nhanh, thắng nhanh". Sau này, cả hai Ðại đoàn đóng quân gần bản Búng Tôm, xã Nà Nhạn.

Ông Nguyễn Hữu Chấp nguyên là lính pháo binh tham gia trận Ðiện Biên Phủ từ đầu chiến dịch tới ngày quân ta toàn thắng (hiện cư trú tại tổ dân phố 20, phường Him Lam, thành phố Ðiện Biên Phủ, tỉnh Ðiện Biên) nhớ lại: Lượt kéo pháo ra, xuất hiện một tấm gương cứu pháo vô cùng quả cảm, đó là anh Tô Vĩnh Diện, Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37mm thuộc Ðại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367. Ðêm 1-2-1954, đơn vị của Tô Vĩnh Diện kéo pháo ra đến dốc Chuối, mặt đường rất hẹp và nghiêng tới 70 độ. Trời lác đác mưa phùn, rừng núi hoang vu và màn đêm đen đặc, hai bên đường "mốc giới" được xác định bởi những cành củi mục lờ mờ ánh lân tinh. Trung đội trưởng Trần Quốc Chân đi trước dẫn đường, mình mặc áo mưa lộn trái cho mầu trắng ra ngoài làm tín hiệu. Hai người là Tô Vĩnh Diện và pháo thủ Nguyễn Văn Chi trực tiếp lái càng khẩu pháo đầu tiên xuống dốc. Chiến sĩ Ðài và chiến sĩ Ước cầm cục gỗ chèn hai bánh pháo, một người gõ mõ làm hiệu lệnh.

Xuống được nửa dốc, mọi người đang nín thở ghìm sợi dây chão thì bỗng đâu tiếng pháo địch nổ chát chúa, những ánh chớp xanh lẹt làm cả khu rừng bừng sáng. Ðất đá rơi rào rào cùng tiếng cành cây kêu răng rắc bị mảnh pháo phạt gãy. Ðoàn quân kéo pháo đã có người bị thương nhưng tất cả vẫn bám chắc sợi dây, ai cũng hiểu chỉ cần một vài người mất bình tĩnh, lỏng tay thì ngay lập tức khẩu pháo sẽ lao xuống vực. Thêm một loạt bom của địch giội xuống, dây tời chính (ở giữa) bị mảnh bom cắt đứt, hai sợi dây hai bên còn căng hơn cả dây đàn với hàng trăm cánh tay cuồn cuộn đang cố ghìm lại khối thép nặng hơn hai tấn. Vài người ngã còng queo trên sườn dốc, chiến sĩ Chi bị càng pháo hất bay xuống vực. Một mình Tô Vĩnh Diện đang dồn hết sức bình sinh, cố kiểm soát chiếc càng pháo đang quăng quật một cách hung hãn như muốn đập nát bất cứ thứ gì.

Trong lúc nguy biến, Tô Vĩnh Diện hô to: "Anh em, thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo!". Rồi, bằng một hành động phi thường, anh chạy thật nhanh lên phía trước lấy thân mình chèn vào bánh pháo. Do một bên bánh bị vướng, khẩu pháo mất thăng bằng, trọng lượng dồn nghiêng vào sườn núi và dừng lại. Khẩu pháo cao xạ 37mm được an toàn, nhưng Tô Vĩnh Diện đã vĩnh viễn ra đi. Trung đội trưởng Trần Quốc Chân ra lệnh kê chèn thật kỹ rồi moi đất gỡ Tô Vĩnh Diện ra, bốn chiến sĩ tức tốc đưa anh về trạm xá tiền phương đóng ở bản Tẩu Pung (xã Nà Nhạn). Nhưng muộn mất rồi, trên cánh tay đồng đội anh trút hơi thở cuối cùng với câu hỏi xé lòng: "Các đồng chí... ơi... pháo có việc gì... không?".

Toàn đơn vị đứng nghiêm một phút mặc niệm người anh hùng, rồi tất cả lại bắt tay vào việc kéo pháo ra trước khi trời sáng để tránh máy bay địch. Khoảng 5 giờ sáng hôm đó (2-2-1954), khẩu pháo được đưa ra vị trí đã định. Ðến ngày 5-2-1954 (mồng 3 Tết Âm lịch Giáp Ngọ), khẩu pháo cuối cùng được kéo về vị trí tập kết an toàn. Tận ngày 7-2-1954 (mồng 5 Tết Âm lịch Giáp Ngọ), các đơn vị mới ăn Tết. Dưới những cơn mưa ngàn, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm và chúc Tết, biểu dương cán bộ, chiến sĩ đã làm tròn nhiệm vụ chuyển pháo vào trận địa rồi lại chuyển pháo ra theo đúng phương châm tác chiến của trên...

Ðược biết khẩu cao xạ 37mm mà Tô Vĩnh Diện lấy thân chèn bánh mang số hiệu 510681, thuộc loại pháo phòng không 37mm một nòng, mẫu 61-K kiểu M1939, do Liên Xô sản xuất và viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong 56 ngày đêm của chiến dịch Ðiện Biên Phủ, khẩu cao xạ đó đã lập thành tích bắn rơi ba máy bay và bắn bị thương 13 chiếc khác. Kết thúc chiến dịch, năm 1958, khẩu pháo được đưa về trưng bày tại Phòng truyền thống của Bộ Tư lệnh Phòng không, nay là Bảo tàng quân chủng Phòng không - Không quân. Ngày 1-10-2012, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 1426/QÐ-TTg, công nhận khẩu pháo cao xạ 37mm số hiệu 510681, là "Bảo vật quốc gia".

Tấm gương hy sinh anh dũng của Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong chiến dịch "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu". Dịp kỷ niệm hai năm Chiến thắng Ðiện Biên Phủ (7-5-1956), anh được truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Tổng Tư lệnh, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Bộ đội Trường Sơn. Ði bên cạnh là Tư lệnh Ðồng Sỹ Nguyên. (Ảnh tư liệu).

Lời thừa nhận từ đối phương

Kho lưu trữ tại Đại học Texas Tech chứa hàng triệu trang tài liệu giải mật về Đường Trường Sơn, trong đó phía Mỹ thừa nhận đây là “kỳ tích hậu cần” và “một trong những thành tựu vĩ đại nhất của kỹ thuật quân sự thế kỷ 20”, bất khả chiến bại trước sức mạnh công nghệ hiện đại của họ.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Người dân thực hiện thủ tục hành chính tại Trung tâm phục vụ hành chính công phường Lâm Viên - Đà Lạt.

Tết năm nay sẽ lưu vào ký ức

Lễ hội hoa Mai anh đào Đà Lạt vào dịp cuối năm nay có thêm nhiều cư dân mới của tỉnh Lâm Đồng cùng gia đình dạo phố, chụp ảnh lưu dấu lần đầu với loài thảo mộc đặc trưng phố núi.

Đoàn tàu giữa không gian hùng vĩ, nên thơ của "thiên hạ đệ nhất hùng quan" Hải Vân. (Ảnh Trần Ngọc Tiến, Xí nghiệp Đầu máy Sài Gòn)

Trên hành trình hạnh phúc

Một hành khách đứng lặng trên sân ga, dõi theo đoàn tàu vừa lăn bánh. Trên thân tàu, sắc đỏ và vàng của cờ Tổ quốc nổi bật, hòa cùng sắc xanh rừng núi mây trời với những họa tiết cách điệu thanh nhã và logo Báo Nhân Dân nổi bật chạy dài theo từng toa.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.

Chương trình văn nghệ Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh tại Quảng trường Ba Đình sáng 2/9/2025.

Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân!

Đó là câu cuối trong bài diễn văn súc tích, ý nghĩa của Tổng Bí thư Tô Lâm trên Quảng trường Ba Đình lịch sử tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua. Cũng tại nơi đây, lời Quốc ca vang lên cùng những hình ảnh cờ hoa, những gương mặt ngời lên rạng rỡ của vạn người sẽ mãi mãi ghi vào tâm khảm nhân dân.

Nhà báo Hồng Châu, tức Thép Mới (bên phải) và nhà báo Cao Kim, tức Kim Toàn - hai nhà báo của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam từng bí mật hoạt động báo chí tại Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968.

Nhà báo Kim Toàn - Người truyền cảm hứng

Câu chuyện bắt đầu từ giữa năm 2024, khi Bảo tàng Báo chí Việt Nam “nhận lệnh” của lãnh đạo Hội Nhà báo Việt Nam, chính thức khởi động việc xây dựng kế hoạch hoạt động cho năm 2025 - một năm đặc biệt vì có rất nhiều ngày lễ lớn trọng đại của đất nước.

Cổng đình Phú Gia.

Làng Chăm nghìn tuổi giữa đất Hà thành

Chuyện mà tôi đang kể là về vùng đất Phú Gia, một ngôi làng đặc biệt. Làng nằm cách trung tâm Hà Nội hơn mười cây số về phía tây bắc. Phú Gia xưa tên Nôm là làng Gạ, tục gọi làng Già rồi Bà Già hương; đến thời Minh Mạng là tổng Phú Gia, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, trấn Sơn Tây.

Trung tâm huyện Đạ Huoai, nơi có nhiều người dân Huế lập cư.

Một vùng quê Huế trên đất nam Tây Nguyên

Trong rất nhiều chương trình di dân sau ngày thống nhất đất nước, có câu chuyện về một vùng quê mới của người xứ Huế, được lập ra từ gần nửa thế kỷ trước. Vùng quê ấy xưa gọi là khu kinh tế mới Hương Lâm, nay thuộc xã Đạ Lây, huyện Đạ Huoai-vùng đất phía nam Lâm Đồng…

Hai cán bộ của Ban Binh vận đặc khu Sài Gòn- Gia Định: Ông Lê Quang Đức (người ngồi) và ông Cao Đức Trường (người đứng).

Kỳ 2: Những con đường “không giống ai” của tình yêu đất nước

Khác với hầu hết các lực lượng cách mạng cùng tham gia chiến đấu giành lại hoà bình, độc lập cho dân tộc, những cán bộ làm công tác binh vận phải nhận về mình rất nhiều nguy hiểm, thiệt thòi, khi luôn phải sống “hai mặt”, che giấu thân phận thật sự của mình, trong khi tìm mọi cách để cảm hoá, vận động các đối tượng binh sĩ ngụy quyền trở về với chính nghĩa, với dân tộc…