Hoạt động thiện nguyện và trách nhiệm của lý trí

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam là một xã hội giàu truyền thống tương thân tương ái.

Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)
Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Tuy nhiên, việc thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp, năng lực vận hành cũng như khuôn khổ pháp lý trong hoạt động thiện nguyện đã khiến cho nguồn lực xã hội trong nhiều trường hợp không được điều phối hiệu quả, thậm chí còn tạo nên những “vòng xoáy” đáng quan ngại.

Theo báo cáo của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, riêng giai đoạn 2021-2025, các chương trình thuộc Tháng Nhân đạo hằng năm đã huy động hơn 3.000 tỷ đồng, hỗ trợ hàng triệu lượt người có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều chiến dịch quy mô lớn, đặc biệt trong các đợt thiên tai, dịch bệnh, đã huy động được nguồn lực xã hội lên tới hàng nghìn tỷ đồng trong khoảng thời gian ngắn.

Nguy cơ khiến niềm tin bị bào mòn

Suốt gần hai thập niên gắn bó với các hoạt động thiện nguyện, điều khiến tôi tin tưởng và tự hào nhất không bao giờ là số tiền huy động được, không phải những công trình đã hoàn thành, mà là một điều giản dị: Người Việt Nam mình vốn thương người. Tinh thần sẻ chia ấy đã trở thành một phần trong bản sắc dân tộc, từ những ngày dựng nước, giữ nước cho đến hôm nay.

Theo dòng chảy thời cuộc, sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội, cùng với các nền tảng thanh toán điện tử đã góp phần làm cho việc kết nối, huy động và phân phối nguồn lực trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, chính sự thuận tiện này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Khi việc kêu gọi thiện nguyện có thể được thực hiện dễ dàng thông qua các tài khoản cá nhân, thông tin lan truyền nhanh nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ, thì nguy cơ sai lệch đối tượng, trùng lặp hỗ trợ hoặc thậm chí bị lợi dụng để trục lợi là điều không thể xem nhẹ.

Bản thân tôi đã từng đi qua những năm tháng mà để xin được vài chục triệu đồng mua sách vở, áo ấm cho trẻ em vùng cao là phải đi khảo sát tận nơi, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, xác nhận từ địa phương, nhà trường, đơn vị liên quan; phải giải trình, chịu trách nhiệm đến cùng với từng đồng tiền nhận được. Đơn giản, sự chặt chẽ là điều bắt buộc. Vậy nên, khi thấy những trường hợp chỉ cần một bài đăng trên mạng xã hội, với vài hình ảnh chưa được kiểm chứng, trong thời gian ngắn đã nhận được số tiền lớn, tôi thật sự lo lắng. Và sau đó, có những vụ việc cơ quan chức năng vào cuộc đã phát hiện thông tin không chính xác, thậm chí là lừa đảo. Bởi vậy, điều khiến tôi trăn trở không phải là chuyện mất tiền, mà là lo sợ niềm tin của nhân dân bị bào mòn.

Bên cạnh đó, từ góc độ thực tiễn, một trong những khó khăn lớn nhất của hoạt động thiện nguyện hiện nay không phải là thiếu nguồn lực, mà là thiếu cơ chế xác định, kết nối và điều phối nguồn lực một cách hiệu quả. Việc xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, tránh tình trạng “cho nhầm, cho trùng” đòi hỏi phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức có chức năng.

Tôi may mắn vì có lợi thế là một nhà báo, một người làm trong môi trường quân đội, nên có thể tiếp cận những kênh thông tin chính thống: Từ đơn vị cơ sở, chính quyền địa phương, nhà trường, đặc biệt là lực lượng biên phòng... Nhưng ngay cả như vậy, tôi vẫn luôn phải rất cẩn trọng, kỹ càng. Mỗi khi có cơ hội và thời gian, tôi luôn lao đến thẳng điểm trường, địa phương để kiểm chứng, để nhìn tận mắt.

trang-4-moi-3440.jpg
Tác giả trong một chuyến thiện nguyện “Thắp lên một que diêm” hỗ trợ trẻ em và người dân vùng cao. (Ảnh NVCC)

Xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất

Chúng ta thường nói: Làm thiện nguyện là làm bằng cái tâm. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Tôi nghĩ, “cái tâm” là điều kiện cần, nhưng không thể thay thế cho “cái lý”. Trong một xã hội hiện đại, nơi nguồn lực xã hội có thể lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, thì hoạt động thiện nguyện không thể chỉ dựa vào cảm xúc và thiện chí. Từ thực tiễn của mình, tôi luôn tự đặt ra một nguyên tắc: Không để hoạt động vượt quá khả năng kiểm soát. Không chỉ vậy, nhìn từ khía cạnh thể chế, có thể thấy khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đã bước đầu được hình thành nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể.

Hiện nay, hoạt động vận động, tiếp nhận và phân phối các nguồn đóng góp tự nguyện được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 93/2021/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện để hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố. Nghị định này đã mở rộng phạm vi cho phép cá nhân được đứng ra kêu gọi từ thiện, đồng thời quy định một số nguyên tắc về công khai, minh bạch. Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do thiếu các hướng dẫn chi tiết, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và chưa có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, việc thành lập và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện hiện được quy định tại Nghị định số 93/2019/NĐ-CP (nay được thay thế, sửa đổi bởi các văn bản liên quan), cùng với các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Phòng, chống tham nhũng... Tuy nhiên, các quy định này còn phân tán, chưa tạo thành một hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất dành riêng cho lĩnh vực thiện nguyện và an sinh xã hội do cộng đồng thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thiện nguyện nhưng không nắm rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình, trong khi cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát và hướng dẫn.

Một vấn đề đáng chú ý khác là sự thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp và năng lực vận hành trong hoạt động thiện nguyện. Trong bối cảnh nguồn lực xã hội ngày càng lớn, việc quản lý tài chính, lập kế hoạch, đánh giá tác động và truyền thông minh bạch đòi hỏi những kỹ năng chuyên môn nhất định. Tuy nhiên, phần lớn các nhóm thiện nguyện hiện nay hoạt động dựa trên tinh thần tự nguyện, thiếu đào tạo bài bản, dẫn đến nguy cơ lúng túng trong tổ chức, khó duy trì bền vững. Chúng ta thường nói “làm bằng cái tâm”, nhưng “cái tâm” là thứ không thể đo lường, không thể lấy đạo đức để thay thế cho pháp luật. Trong khi đó, chính những người làm thiện nguyện chân chính cũng cần được bảo vệ.

Một điều tôi luôn tự nhắc mình: Không để vượt quá khả năng kiểm soát. Mỗi năm, tôi chỉ làm các dự án trong phạm vi vài tỷ đồng. Không phải vì không thể làm nhiều hơn, mà vì tôi hiểu: Nếu nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro sẽ rất lớn. Nếu một ngày có vài trăm tỷ đồng đổ vào tài khoản cá nhân, tôi không chắc mình có đủ hệ thống để kiểm soát, mà việc làm thiện nguyện không thể chỉ dựa vào một cá nhân. Chính vì vậy, tôi không bao giờ coi thiện nguyện là một “nghề”. Nó là một hoạt động xã hội, một phần trong cuộc sống nhưng không thể thay thế công việc chính.

Nhà nước cần thể hiện rõ vai trò kiến tạo và dẫn dắt

Trong bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước cần được nhìn nhận lại theo hướng chủ động hơn, không chỉ dừng ở quản lý mà còn là kiến tạo và dẫn dắt. Hoạt động thiện nguyện, xét cho cùng, là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bổ trợ cho các chính sách công và huy động nguồn lực từ cộng đồng. Do đó, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng, có tính khả thi cao là yêu cầu cấp thiết. Một số chuyên gia đã đề xuất cần nghiên cứu xây dựng Luật về hoạt động nhân đạo hoặc luật chuyên ngành về thiện nguyện, nhằm thống nhất các quy định hiện hành, đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn về minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý và điều phối hoạt động thiện nguyện. Việc xây dựng các nền tảng số cho phép công khai thông tin về nguồn thu - chi, đối tượng hỗ trợ, tiến độ triển khai không chỉ giúp tăng tính minh bạch mà còn tạo điều kiện để cộng đồng giám sát. Thí dụ, dự án tài khoản ngân hàng thiện nguyện bốn số của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) về tài khoản chuyên biệt cho hoạt động thiện nguyện, cho phép theo dõi dòng tiền theo thời gian thực, đã cho thấy hiệu quả bước đầu và cần được nghiên cứu nhân rộng.

Thực tiễn gần hai thập niên tham gia các hoạt động thiện nguyện giúp tôi nhận thức: Giới hạn lớn nhất không nằm ở tấm lòng của con người, mà ở khả năng tổ chức và kiểm soát hoạt động. Khi nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro về sai sót, thất thoát hoặc lệch mục tiêu là điều khó tránh khỏi. Do đó, việc xác định rõ phạm vi hoạt động, xây dựng quy trình chặt chẽ và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có chức năng là yêu cầu tất yếu.
Giữ gìn lòng nhân ái là trách nhiệm của mỗi người. Nhưng bảo vệ được lòng nhân ái, gìn giữ được niềm tin xã hội là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, của các tổ chức và của Nhà nước.

Và hơn hết, đó là trách nhiệm của lý trí ■

Phần lớn các hoạt động thiện nguyện tự phát hiện nay vẫn dựa nhiều vào niềm tin cá nhân, kinh nghiệm riêng lẻ, thiếu quy trình chuẩn hóa và công cụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Điều này khiến hiệu quả hỗ trợ chưa cao, thậm chí trong một số trường hợp còn gây ra sự phân bổ nguồn lực không đồng đều, nơi thừa, nơi thiếu.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.