Hoạt động thiện nguyện và trách nhiệm của lý trí

Lịch sử đã chứng minh, Việt Nam là một xã hội giàu truyền thống tương thân tương ái.

Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)
Ðoàn viên Ðoàn Thanh niên hỗ trợ bà con vùng lũ tại Mù Cang Chải (Lào Cai). (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Tuy nhiên, việc thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp, năng lực vận hành cũng như khuôn khổ pháp lý trong hoạt động thiện nguyện đã khiến cho nguồn lực xã hội trong nhiều trường hợp không được điều phối hiệu quả, thậm chí còn tạo nên những “vòng xoáy” đáng quan ngại.

Theo báo cáo của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, riêng giai đoạn 2021-2025, các chương trình thuộc Tháng Nhân đạo hằng năm đã huy động hơn 3.000 tỷ đồng, hỗ trợ hàng triệu lượt người có hoàn cảnh khó khăn. Nhiều chiến dịch quy mô lớn, đặc biệt trong các đợt thiên tai, dịch bệnh, đã huy động được nguồn lực xã hội lên tới hàng nghìn tỷ đồng trong khoảng thời gian ngắn.

Nguy cơ khiến niềm tin bị bào mòn

Suốt gần hai thập niên gắn bó với các hoạt động thiện nguyện, điều khiến tôi tin tưởng và tự hào nhất không bao giờ là số tiền huy động được, không phải những công trình đã hoàn thành, mà là một điều giản dị: Người Việt Nam mình vốn thương người. Tinh thần sẻ chia ấy đã trở thành một phần trong bản sắc dân tộc, từ những ngày dựng nước, giữ nước cho đến hôm nay.

Theo dòng chảy thời cuộc, sự phát triển của công nghệ, mạng xã hội, cùng với các nền tảng thanh toán điện tử đã góp phần làm cho việc kết nối, huy động và phân phối nguồn lực trở nên nhanh chóng, thuận tiện hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, chính sự thuận tiện này cũng đặt ra những thách thức không nhỏ. Khi việc kêu gọi thiện nguyện có thể được thực hiện dễ dàng thông qua các tài khoản cá nhân, thông tin lan truyền nhanh nhưng chưa được kiểm chứng đầy đủ, thì nguy cơ sai lệch đối tượng, trùng lặp hỗ trợ hoặc thậm chí bị lợi dụng để trục lợi là điều không thể xem nhẹ.

Bản thân tôi đã từng đi qua những năm tháng mà để xin được vài chục triệu đồng mua sách vở, áo ấm cho trẻ em vùng cao là phải đi khảo sát tận nơi, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, xác nhận từ địa phương, nhà trường, đơn vị liên quan; phải giải trình, chịu trách nhiệm đến cùng với từng đồng tiền nhận được. Đơn giản, sự chặt chẽ là điều bắt buộc. Vậy nên, khi thấy những trường hợp chỉ cần một bài đăng trên mạng xã hội, với vài hình ảnh chưa được kiểm chứng, trong thời gian ngắn đã nhận được số tiền lớn, tôi thật sự lo lắng. Và sau đó, có những vụ việc cơ quan chức năng vào cuộc đã phát hiện thông tin không chính xác, thậm chí là lừa đảo. Bởi vậy, điều khiến tôi trăn trở không phải là chuyện mất tiền, mà là lo sợ niềm tin của nhân dân bị bào mòn.

Bên cạnh đó, từ góc độ thực tiễn, một trong những khó khăn lớn nhất của hoạt động thiện nguyện hiện nay không phải là thiếu nguồn lực, mà là thiếu cơ chế xác định, kết nối và điều phối nguồn lực một cách hiệu quả. Việc xác định đúng đối tượng cần hỗ trợ, tránh tình trạng “cho nhầm, cho trùng” đòi hỏi phải có hệ thống thông tin đáng tin cậy, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức có chức năng.

Tôi may mắn vì có lợi thế là một nhà báo, một người làm trong môi trường quân đội, nên có thể tiếp cận những kênh thông tin chính thống: Từ đơn vị cơ sở, chính quyền địa phương, nhà trường, đặc biệt là lực lượng biên phòng... Nhưng ngay cả như vậy, tôi vẫn luôn phải rất cẩn trọng, kỹ càng. Mỗi khi có cơ hội và thời gian, tôi luôn lao đến thẳng điểm trường, địa phương để kiểm chứng, để nhìn tận mắt.

trang-4-moi-3440.jpg
Tác giả trong một chuyến thiện nguyện “Thắp lên một que diêm” hỗ trợ trẻ em và người dân vùng cao. (Ảnh NVCC)

Xây dựng hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất

Chúng ta thường nói: Làm thiện nguyện là làm bằng cái tâm. Điều đó đúng, nhưng chưa đủ. Tôi nghĩ, “cái tâm” là điều kiện cần, nhưng không thể thay thế cho “cái lý”. Trong một xã hội hiện đại, nơi nguồn lực xã hội có thể lên tới hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, thì hoạt động thiện nguyện không thể chỉ dựa vào cảm xúc và thiện chí. Từ thực tiễn của mình, tôi luôn tự đặt ra một nguyên tắc: Không để hoạt động vượt quá khả năng kiểm soát. Không chỉ vậy, nhìn từ khía cạnh thể chế, có thể thấy khung pháp lý điều chỉnh hoạt động thiện nguyện tại Việt Nam đã bước đầu được hình thành nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể.

Hiện nay, hoạt động vận động, tiếp nhận và phân phối các nguồn đóng góp tự nguyện được điều chỉnh chủ yếu bởi Nghị định số 93/2021/NĐ-CP của Chính phủ, quy định về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện để hỗ trợ khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố. Nghị định này đã mở rộng phạm vi cho phép cá nhân được đứng ra kêu gọi từ thiện, đồng thời quy định một số nguyên tắc về công khai, minh bạch. Tuy nhiên, trên thực tế, việc triển khai vẫn còn gặp nhiều vướng mắc do thiếu các hướng dẫn chi tiết, thiếu cơ chế giám sát hiệu quả và chưa có chế tài đủ mạnh đối với các hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, việc thành lập và hoạt động của các quỹ xã hội, quỹ từ thiện hiện được quy định tại Nghị định số 93/2019/NĐ-CP (nay được thay thế, sửa đổi bởi các văn bản liên quan), cùng với các quy định trong Luật Ngân sách nhà nước, Luật Kế toán, Luật Phòng, chống tham nhũng... Tuy nhiên, các quy định này còn phân tán, chưa tạo thành một hệ thống pháp lý đồng bộ, thống nhất dành riêng cho lĩnh vực thiện nguyện và an sinh xã hội do cộng đồng thực hiện. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động thiện nguyện nhưng không nắm rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình, trong khi cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn trong việc kiểm soát và hướng dẫn.

Một vấn đề đáng chú ý khác là sự thiếu hụt các tiêu chuẩn nghề nghiệp và năng lực vận hành trong hoạt động thiện nguyện. Trong bối cảnh nguồn lực xã hội ngày càng lớn, việc quản lý tài chính, lập kế hoạch, đánh giá tác động và truyền thông minh bạch đòi hỏi những kỹ năng chuyên môn nhất định. Tuy nhiên, phần lớn các nhóm thiện nguyện hiện nay hoạt động dựa trên tinh thần tự nguyện, thiếu đào tạo bài bản, dẫn đến nguy cơ lúng túng trong tổ chức, khó duy trì bền vững. Chúng ta thường nói “làm bằng cái tâm”, nhưng “cái tâm” là thứ không thể đo lường, không thể lấy đạo đức để thay thế cho pháp luật. Trong khi đó, chính những người làm thiện nguyện chân chính cũng cần được bảo vệ.

Một điều tôi luôn tự nhắc mình: Không để vượt quá khả năng kiểm soát. Mỗi năm, tôi chỉ làm các dự án trong phạm vi vài tỷ đồng. Không phải vì không thể làm nhiều hơn, mà vì tôi hiểu: Nếu nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro sẽ rất lớn. Nếu một ngày có vài trăm tỷ đồng đổ vào tài khoản cá nhân, tôi không chắc mình có đủ hệ thống để kiểm soát, mà việc làm thiện nguyện không thể chỉ dựa vào một cá nhân. Chính vì vậy, tôi không bao giờ coi thiện nguyện là một “nghề”. Nó là một hoạt động xã hội, một phần trong cuộc sống nhưng không thể thay thế công việc chính.

Nhà nước cần thể hiện rõ vai trò kiến tạo và dẫn dắt

Trong bối cảnh đó, vai trò của Nhà nước cần được nhìn nhận lại theo hướng chủ động hơn, không chỉ dừng ở quản lý mà còn là kiến tạo và dẫn dắt. Hoạt động thiện nguyện, xét cho cùng, là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, góp phần bổ trợ cho các chính sách công và huy động nguồn lực từ cộng đồng. Do đó, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng, có tính khả thi cao là yêu cầu cấp thiết. Một số chuyên gia đã đề xuất cần nghiên cứu xây dựng Luật về hoạt động nhân đạo hoặc luật chuyên ngành về thiện nguyện, nhằm thống nhất các quy định hiện hành, đồng thời thiết lập các tiêu chuẩn về minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị.

Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý và điều phối hoạt động thiện nguyện. Việc xây dựng các nền tảng số cho phép công khai thông tin về nguồn thu - chi, đối tượng hỗ trợ, tiến độ triển khai không chỉ giúp tăng tính minh bạch mà còn tạo điều kiện để cộng đồng giám sát. Thí dụ, dự án tài khoản ngân hàng thiện nguyện bốn số của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội (MB) về tài khoản chuyên biệt cho hoạt động thiện nguyện, cho phép theo dõi dòng tiền theo thời gian thực, đã cho thấy hiệu quả bước đầu và cần được nghiên cứu nhân rộng.

Thực tiễn gần hai thập niên tham gia các hoạt động thiện nguyện giúp tôi nhận thức: Giới hạn lớn nhất không nằm ở tấm lòng của con người, mà ở khả năng tổ chức và kiểm soát hoạt động. Khi nguồn lực vượt quá năng lực quản lý, rủi ro về sai sót, thất thoát hoặc lệch mục tiêu là điều khó tránh khỏi. Do đó, việc xác định rõ phạm vi hoạt động, xây dựng quy trình chặt chẽ và phối hợp với các cơ quan, tổ chức có chức năng là yêu cầu tất yếu.
Giữ gìn lòng nhân ái là trách nhiệm của mỗi người. Nhưng bảo vệ được lòng nhân ái, gìn giữ được niềm tin xã hội là trách nhiệm chung của cả cộng đồng, của các tổ chức và của Nhà nước.

Và hơn hết, đó là trách nhiệm của lý trí ■

Phần lớn các hoạt động thiện nguyện tự phát hiện nay vẫn dựa nhiều vào niềm tin cá nhân, kinh nghiệm riêng lẻ, thiếu quy trình chuẩn hóa và công cụ hỗ trợ chuyên nghiệp. Điều này khiến hiệu quả hỗ trợ chưa cao, thậm chí trong một số trường hợp còn gây ra sự phân bổ nguồn lực không đồng đều, nơi thừa, nơi thiếu.

Có thể bạn quan tâm

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.

Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes.

“Gìn giữ và làm phong phú thêm di sản hữu nghị Việt Nam – Cuba”

Trao đổi với Nhân Dân cuối tuần, Đại sứ Cuba tại Việt Nam Rogelio Polanco Fuentes bày tỏ niềm tin tưởng vào tương lai tươi sáng của mối quan hệ hữu nghị sắt son giữa hai dân tộc, cũng như những định hướng về chính sách đối ngoại được Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua.

Nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam rất cần những khuôn khổ hợp tác ổn định. Ảnh: Thành Đạt

Rộng mở không gian hợp tác kinh tế từ các FTA thế hệ mới

Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới mà Việt Nam đã tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục, với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới. Đây là cơ hội để Việt Nam kết nối sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Song, cơ hội chỉ trở thành sức bật khi Việt Nam chuyển hóa được các cam kết FTA thành động lực cải cách thể chế, nâng cấp doanh nghiệp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW coi văn hóa là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và là động lực của phát triển nhanh, bền vững. Trong ảnh: Chương trình “Tổ quốc trong tim” năm 2026 do Báo Nhân Dân tổ chức. Ảnh: Thành Đạt

Từ mùa thu độc lập đến sức mạnh văn hóa thời đại

Tám mươi mốt năm trước, mùa Thu năm 1945 mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc Việt Nam. Hôm nay, khi đất nước bước vào một chặng phát triển mới, nội hàm của khái niệm “độc lập” đang được làm giàu thêm bằng yêu cầu tự chủ phát triển, tự chủ sáng tạo và khả năng tự thích ứng của quốc gia.

“Kiến tạo” đã trở thành tư duy của một đất nước ngày càng chủ động đóng góp cho hòa bình, ổn định, phát triển và thịnh vượng. Ảnh: Thành Đạt

Lợi ích dân tộc trong lợi ích chung nhân loại

81 năm đã đi qua kể từ thời khắc lịch sử huy hoàng “trời thu xanh ngát sáng Tuyên ngôn”. Hơn tám thập niên là một quãng thời gian đủ dài để một dân tộc đi qua biết bao biến thiên thời cuộc, bao thăng trầm lịch sử

Cần nhiều biện pháp chuyên nghiệp hóa lĩnh vực trồng trọt. Ảnh: Thành Đạt

Chuyên nghiệp hóa bằng chuỗi giá trị

Quá trình phát triển nền nông nghiệp hiện đại sẽ khó đạt mục tiêu, khi tính kỷ luật trong sản xuất không được tuân thủ triệt để. Dù công nghệ có phát triển, cơ giới hóa được đẩy mạnh, nhưng nếu vẫn là tư duy sản xuất nhỏ lẻ, đất đai phân tán, lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật... thì chất lượng bữa ăn của người dân vẫn chưa thật sự an toàn.

Thời gian qua, không ít hội thảo được tổ chức, tìm giải pháp ứng dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Nguồn: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ

Chìa khóa cho phát triển xanh

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) sinh học, còn gọi là chế phẩm sinh học, được xem là chìa khóa để phát triển nông nghiệp xanh, an toàn, bảo vệ môi trường.

Ông Nghiêm Quang Tuấn.

Chặn mối nguy từ hàng hóa có độ rủi ro cao

Thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) là hàng hóa có mức độ rủi ro cao. Nhìn nhận về nguy cơ từ những vi phạm chung quanh sản phẩm này, ông Nghiêm Quang Tuấn, Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật - Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị: Cần xây dựng các quy định hướng dẫn và lộ trình áp dụng truy xuất nguồn gốc một cách minh bạch.

Kỹ sư giới thiệu về phương pháp chăm sóc rau công nghệ cao.

Kinh nghiệm từ hợp tác xã “ngôi sao”

Giữa vùng đất Đà Lạt nổi tiếng cả nước về sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Tân Tiến (phường Lâm Viên-Đà Lạt, Lâm Đồng) đã chọn hướng đi phù hợp, mang lại hiệu quả cao.

Không ít hợp tác xã, nông hộ đầu tư nông nghiệp sạch, nhưng khó tiếp cận thị trường.

Xoay xở giữa khó khăn

Nhiều hợp tác xã (HTX) phát triển nông sản sạch, an toàn đang phải tự “bơi” trước hàng loạt rào cản như: Thủ tục, chi phí chứng nhận, kinh nghiệm đưa hàng vào siêu thị, hạn chế về marketing, thương hiệu và nhất là thiếu vốn đầu tư. Sản phẩm làm ra đạt chất lượng, nhưng để đến được thị trường vẫn là một hành trình đầy gian nan.

Sơ chế, đóng gói sản phẩm rau xanh tại HTX Chúc Sơn để cung cấp cho người dân Thủ đô Hà Nội. Ảnh: Vũ Sinh

Bịt lỗ hổng truy xuất, ngăn chặn thực phẩm bẩn

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm thời gian qua là vấn đề được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, với việc ban hành Luật An toàn thực phẩm cùng hệ thống các văn bản dưới luật. Công tác quản lý chất lượng thực phẩm cũng đã có những quy định cụ thể về hồ sơ, truy xuất nguồn gốc, song vẫn tồn tại nhiều lỗ hổng đáng lo ngại.