Giữ tiếng mõ làng Thủy Xuân

Giữa không gian thanh vắng ở tổ 11, phường Thủy Xuân, thành phố Huế, tiếng cốc cốc khi nhỏ khi to đưa con người về chốn tĩnh tại. Ở vùng đất Cố đô, người ta vẫn còn nhớ đến làng mõ Thủy Xuân.

Công đoạn khoét rỗng mõ là quan trọng nhất
Công đoạn khoét rỗng mõ là quan trọng nhất

Cái nghề thật lắm công phu

Thoạt nhìn, nghề làm mõ Thủy Xuân sẽ có nét tương đồng với nghề mộc truyền thống. Tuy nhiên, hai nghề này chỉ giống ở khâu chạm trổ bề ngoài. Điểm khác biệt rõ nét nhất là mõ Thủy Xuân được người thợ khoét một phôi gỗ nguyên khối trở thành rỗng ruột, không lắp ghép để tạo thành hộp âm.

Cụ thể, phôi gỗ mít được chọn lựa kỹ, không rạn nứt, chỉ lấy phần lõi trong khối gỗ. Phôi gỗ được chuyển sang bước xử lý thô thành dạng hình cầu. Kế đó, người thợ khéo léo thực hiện một đường cưa sâu khoảng một phần ba bán kính khối cầu, đây là vị trí dùng để khoét rỗng ruột cho cả chiếc mõ. Vì không được lắp ghép nhiều mảnh gỗ, đồng thời cần bảo đảm độ dày đều đặn cho toàn bộ chiếc mõ, tay nghề của người thợ sẽ tập trung cao nhất ở khâu này.

Mũi đục, mũi cạo dần đi sâu vào ruột phôi gỗ. Thợ lành nghề chỉ mất khoảng một buổi để hoàn tất công đoạn khoét ruột mõ này. Là thế hệ thứ ba trong gia đình nối nghề, các anh Phạm Ngọc Hải (41 tuổi), Phạm Ngọc Đức (37 tuổi) hiểu rõ tính cách điềm tĩnh, từ tốn rất cần cho nghề làm mõ. Một chiếc mõ chỉ cho âm thanh hay khi quá trình chế tác có độ ổn định của đôi tay, khiêm nhường trong suy nghĩ.

Từ thời ông nội các anh là ông Phạm Ngọc Dư đã vạch ra tiêu chuẩn đó. Làm ra một chiếc mõ, người thợ đặt vào đó niềm tự hào về nghề thủ công, đồng thời tìm đến sự thức tỉnh trong tâm hồn. Tiếng mõ Thủy Xuân vang lên trong các lễ cúng, niệm Phật. Do đó, cái tâm và sự say mê của người thợ sẽ được trải lòng theo từng nhịp gõ cốc cốc. Để đánh giá tay nghề của người thợ làm mõ, anh Đức cho biết cần quan sát hình dạng tròn trịa của chiếc mõ. Kích thước đường kính mõ Thủy Xuân từ khoảng 15 cm, 35 cm, 45 cm… đến những chiếc mõ khổng lồ có đường kính gần 1m.

Tất cả những chi tiết uốn cong, mức độ bo tròn trên bề mặt sản phẩm cần chuẩn xác tuyệt đối. Chiếc mõ càng lớn đòi hỏi tính đối xứng các chi tiết càng cao. “Vùng đất Huế thường gắn liền với hình tượng rồng cho nên khi trang trí cho chiếc mõ, chúng tôi căn chỉnh, thiết kế hai đầu rồng đối xứng nhau trên bề mặt mõ. Phần vảy trên thân rồng được điêu khắc cách điệu tạo nét uyển chuyển nhưng cần phù hợp cho những không gian như trong các ngôi chùa”, anh Đức cho biết.

Nhìn cách anh Đức liên tục đảo hướng mũi đục trên bề mặt gỗ mít, không ai nghĩ hồi mới học nghề, anh Đức đã làm hỏng hàng chục phôi gỗ. Trải qua 15 năm làm mõ, anh Đức cho hay người thợ nghề này cần thuyết phục được đôi tai các sư thầy trong chùa qua sản phẩm được tạo tác. Sở dĩ có việc đó là bởi chỉ các sư thầy mới có khả năng nhập tâm vào từng nhịp gõ mõ để hiểu cặn kẽ chất âm.

Gọi tiếng cho mõ

Trong quá trình chế tác, mõ làng Thủy Xuân rất dễ mất tiếng. Đây là một điều thực tế trong việc canh chỉnh âm thanh cho mõ. Sau khi người thợ hoàn tất công đoạn tạo phôi, khoét rỗng ruột, chiếc mõ được mang đi phơi nắng (vào mùa nắng) hoặc sấy trong lò điện (vào mùa mưa). Sau công đoạn làm khô đó, phôi gỗ bị co giãn, vì thế tiếng mõ rất dễ lệch âm so với ban đầu, thậm chí là mất tiếng.

“Đây chính là điều các thợ làm mõ thường gặp. Để lấy lại âm thanh cho mõ, chúng tôi cân chỉnh bằng việc tiếp tục khoét rỗng phần ruột. Vừa đục lớp gỗ trong ruột vừa dùng dùi gõ thử âm liên tục. Nhờ bước “lấy âm” lần hai này mà sản phẩm mõ Thủy Xuân sau khi bán ra thị trường sẽ bảo đảm phát ra âm thanh trọn đời”, anh Hải nói. Chính từ mức độ quan trọng của việc lấy âm cho mõ, không gian nơi làm việc của đội thợ vắng lặng tuyệt đối. Tiếng cốc cốc vang đều khắp xóm nhỏ giúp dễ dàng xác định vị trí nơi những chiếc mõ được ra đời.

Vài tháng trở lại đây, nhu cầu mua mõ kích thước đường kính 35 cm tăng lên, đây cũng là loại mõ chính được làm ở làng Thủy Xuân. Mỗi tháng, một người thợ làm ra được khoảng hơn 10 chiếc mõ, với giá bán một chiếc mõ từ vài triệu đồng đến 10 triệu đồng (đối với mõ có đường kính gần 1m), công việc này đã giúp cải thiện đời sống kinh tế các hộ gia đình. Các khách hàng tìm đến làng Thủy Xuân để mua mõ đều là khách hàng quen thuộc trên khắp cả nước.

Vì là khách quen cho nên họ thường thiết kế sẵn các hình mẫu để người thợ tạo hình trên bề mặt chiếc mõ. Qua các năm, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm mõ gỗ mít dần tăng lên, ổn định thường xuyên. Đáng chú ý, thương hiệu mõ làng Thủy Xuân đã được xuất ngoại sang Mỹ, đó là những đơn hàng do các Phật tử Việt Nam đang sinh sống tại Mỹ mong muốn nghe được tiếng mõ Thủy Xuân, tiếng mõ từ quê hương.

Được sống trong một không gian yên tĩnh, an lành, chung quanh là những ngôi chùa như Từ Hiếu, Giác Minh, Viên Quang, Thiền Lâm,… các anh Ngọc Hải, Ngọc Đức thấy rõ trách nhiệm của bản thân trong việc giữ nghề làm mõ. Việc giữ được âm thanh riêng có cho mõ chính là sự thành công của nghề này.

Nếu thay gỗ mít bằng các loại gỗ khác, âm thanh khi gõ mõ sẽ thay đổi, không còn độ vang. Bởi vậy, nói việc làm được bầu âm từ gỗ mít tạo nên dấu ấn của làng nghề mõ Thủy Xuân là điều hiển nhiên. “Anh em chúng tôi tự dặn lòng mình rằng cần giữ được nghề cha ông để lại. Mỗi chiếc mõ gỗ mít đi ra từ làng Thủy Xuân sẽ mang theo sự khéo léo cùng tấm lòng của những người thợ như chúng tôi”, anh Hải bày tỏ.

Có thể bạn quan tâm

Các sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ ở thành phố Đà Nẵng được chú ý tại các hội chợ.

Tạo thêm hành lang pháp lý để sản phẩm OCOP vươn xa

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, sản phẩm nông nghiệp nông thôn của các chủ thể OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tăng lên đáng kể về số lượng, mẫu mã. Bên cạnh tập trung vào những sản phẩm đã và đang có niên hạn, thành phố Đà Nẵng còn có riêng một nghị quyết để phát triển các sản phẩm OCOP theo hướng bền vững.

Sau khóa đào tạo photovoice, trang bị máy ảnh cho người dân, đã có nhiều tác phẩm ảnh được trưng bày tới cộng đồng trong vùng di sản.

Cộng đồng tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di sản

Thành nhà Hồ tọa lạc ở xã Tây Đô, tỉnh Thanh Hóa, được UNESCO công nhận Di sản văn hóa thế giới năm 2011. Cùng với thực hiện nghiêm các cam kết theo khuyến nghị của UNESCO, tỉnh Thanh Hóa ưu tiên sự tham gia của cộng đồng trong bảo tồn, phát huy giá trị di tích Thành nhà Hồ và vùng phụ cận gắn với phát triển du lịch.

Ra mắt bộ trang phục sinh hoạt cộng đồng của dân tộc Chứt ở phía tây tỉnh Quảng Trị.

Khôi phục trang phục truyền thống dân tộc Chứt

Trong khi các dân tộc ở nước ta đều có trang phục truyền thống phản ánh bản sắc văn hóa, phong tục của từng cộng đồng thì đồng bào dân tộc Chứt ở phía tây tỉnh Quảng Bình (trước đây), nay là Quảng Trị lại thiếu trang phục truyền thống.

Du khách tìm hiểu các công đoạn chế tác nón ngựa tại cơ sở của Nghệ nhân Ưu tú Đỗ Văn Lan.

Chiến lược phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa

Xã Xuân An, tỉnh Gia Lai đang có những bước đi mạnh mẽ, bài bản nhằm phát triển kinh tế-xã hội theo hướng bền vững. Trong đó, sản phẩm du lịch làng nghề nón ngựa Phú Gia trở thành điểm nhấn quan trọng, mở đường cho chiến lược phát triển du lịch cộng đồng gắn với bảo tồn văn hóa truyền thống.

Nghệ nhân Nguyễn Thị Hương, người truyền lửa cho Câu lạc bộ Dân ca Ví, Giặm Nghệ Tĩnh Hưng Tân. (Ảnh TRỌNG TÂM)

Để ví, giặm ngân dài cùng năm tháng

Giữa những ngày cuối thu xứ Nghệ, trong không gian ấm áp của Nhà văn hóa Hưng Tân, xã Hưng Nguyên Nam (Nghệ An), tiếng ví, tiếng giặm lại ngân lên mộc mạc mà sâu lắng. Không chỉ là âm thanh của ký ức, đó còn là nhịp cầu nối quá khứ với hiện tại, được gìn giữ và trao truyền bằng tâm huyết của những con người bình dị nơi làng quê.

Giáo viên và học sinh Trường tiểu học và trung học cơ sở A Xing sử dụng nhạc cụ của người Vân Kiều, Pa Kô do trường sưu tầm, trưng bày để sinh hoạt văn hóa văn nghệ.

Gìn giữ văn hóa bản địa

Trường tiểu học và trung học cơ sở A Xing, xã Lìa (tỉnh Quảng Trị) đã xây dựng một không gian trưng bày những giá trị văn hóa đặc sắc của người Vân Kiều và Pa Kô ngay trong khuôn viên nhà trường, qua đó giáo dục học sinh lòng tự hào dân tộc, yêu quê hương, tôn trọng và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc mình.

Công nhân Công ty TNHH Ngọc Chung Coir hoàn thiện sản phẩm dây thừng trang trí trước khi xuất xưởng. (Ảnh MỸ HÀ)

Trăn trở nghề sản xuất xơ dừa

Không chỉ nổi tiếng về những món đặc sản gắn liền với dừa, rừng dừa Tam Quan, thị xã Hoài Nhơn (cũ) được đánh giá như “thiên đường dừa thứ hai” của Việt Nam.

Đình làng Lựu Bảo đầy trang nghiêm.

Dấu xưa Lựu Bảo

Qua bao nhiêu năm tháng, ngôi làng Lựu Bảo thuộc phường Kim Long, thành phố Huế vẫn chứa đựng vẻ đẹp nên thơ. Tứ bề gió thổi mây che, làng xưa tựa như nàng thiếu nữ soi bóng xuống dòng sông Bạch Yến trong xanh. Chuyện làng, chuyện sông không thể tách rời là vậy.

Công nhân Hợp tác xã chiếu cói Hoài Châu Bắc hoàn thiện một công đoạn làm ra chiếc chiếu thành phẩm. (Ảnh MỸ HÀ)

Làng nghề chiếu cói Hoài Nhơn

Dệt chiếu cói là nghề truyền thống lâu đời ở xã Hoài Châu Bắc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai).

Nhiều du khách trẻ thích thú khi check-in tại Tháp Pô Klong Garai.

Giữ gìn Bảo vật quốc gia, góp phần thúc đẩy du lịch

Khánh Hòa là vùng đất giao thoa văn hóa với sự chung sống của 36 dân tộc anh em, trong đó nổi bật là văn hóa Chăm và Raglai, thể hiện qua hệ thống đền tháp cổ kính, các lễ hội truyền thống đặc sắc cùng phong tục tập quán giàu bản sắc.

Hòn Vọng Phu trong không gian đô thị ở Thanh Hóa.

Nỗ lực bảo tồn hòn Vọng Phu cùng cụm di tích An Hoạch

Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi An Hoạch (núi Nhồi) ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa cùng những “Vọng Phu thạch” hiện hữu trên nhiều miền đất đã gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước cùng đạo lý, nhận thức thẩm mỹ của dân tộc.

Bãi Làng - khu vực trung tâm Cù Lao Chàm.

Cù Lao Chàm - Viên ngọc thô đang được "mài giũa"

Mùa du lịch năm 2025, cụm đảo gần bờ của thành phố Đà Nẵng là Cù Lao Chàm đón hơn 269.000 du khách. So với năm 2024 và những năm trước đó, con số này cho thấy sự tăng trưởng và là một lời khẳng định: Những tiềm năng du lịch mạnh mẽ của “viên ngọc thô” xứ Quảng đang dần được cụ thể hóa, khai thác một cách hiệu quả và đúng hướng.

Cô gái Chăm trong Lễ hội Katê tại Khánh Hòa.

Thúc đẩy liên kết vùng du lịch trọng điểm

Những năm gần đây, hành trình du lịch nối dài giữa “biển xanh” Khánh Hòa và “đại ngàn” Đắk Lắk đã trở thành xu hướng mới. Sự dịch chuyển đó thể hiện nhu cầu khám phá nhiều hơn của du khách, đồng thời tạo cơ hội hình thành các tour, tuyến liên vùng mang dấu ấn riêng của khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Du khách trải nghiệm làm đồ gốm khi tới thăm làng Thanh Hà.

Độc đáo làng gốm hơn 500 năm tuổi

Tại lễ trao giải thưởng Du lịch Việt Nam năm 2025 vừa qua, làng gốm Thanh Hà là đại diện của thành phố Đà Nẵng được vinh danh tại hạng mục “Điểm du lịch cộng đồng tốt nhất”.

Ông Lê Văn Nghĩa kiểm tra chất lượng sản phẩm rượu cần.

Bảo tồn và phát triển nghề truyền thống

Giữ được hương vị nồng say của rượu cần truyền thống sẽ mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho bà con Cơ Tu. Đó là cách làm kinh tế hiệu quả của ông Lê Văn Nghĩa và một số hộ dân ở thôn Phú Túc, xã Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Người dân và du khách nghe hát bài chòi ở Hội An.

Cân bằng giữa phát triển và gìn giữ ở Hội An

Sau khi mở rộng địa giới thành phố Đà Nẵng, Hội An (cũ) nay gồm ba phường: Hội An, Hội An Đông, Hội An Tây và một xã đảo Tân Hiệp (Cù Lao Chàm) tiếp tục giữ vai trò đặc biệt trong chiến lược phát triển du lịch-văn hóa của thành phố.

Thu gom lưới bẫy bắt chim yến trái phép. (Ảnh CTV)

Cần có giải pháp bảo vệ chim yến

Những năm gần đây, nạn săn bắt chim yến trái phép diễn ra tràn lan ở nhiều địa phương trên cả nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bền vững của quần thể chim yến ở nước ta.

Đảo Lý Sơn, hạt nhân du lịch biển, đảo của tỉnh Quảng Ngãi.

Tìm hướng phát triển bền vững du lịch biển, đảo Quảng Ngãi

Du lịch biển, đảo Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng trở thành trụ cột phát triển kinh tế- xã hội quan trọng. Tỉnh cần tạo ra sức mạnh tổng hợp, cân bằng lợi ích kinh tế-xã hội và môi trường để du lịch biển, đảo Quảng Ngãi phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và khẳng định vị thế trong khu vực.

Võ cổ truyền đã và đang được triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để phát triển một cách bài bản, bền vững

Bảo tồn và lan tỏa võ cổ truyền

Võ cổ truyền Bình Định không chỉ là một di sản văn hóa phi vật thể quốc gia mà còn là một hệ giá trị sống động, có khả năng thích ứng và phát triển trong thời đại mới. Trong bối cảnh đất nước hội nhập sâu rộng, văn hóa truyền thống không thể chỉ lưu giữ trong bảo tàng hay lễ hội mà phải được đưa vào đời sống, đến với thế hệ trẻ.

Hội thi Ẩm thực Yến sào Khánh Hòa.

Độc đáo Lễ hội Yến sào Khánh Hòa

Không chỉ thành kính tri ân, tưởng nhớ công đức lớn lao của thủy tổ, thánh mẫu, các vị tiền bối sáng lập, phát triển ngành nghề yến sào trong suốt 700 năm qua, Lễ hội Yến sào Khánh Hòa đã tạo nên một không gian văn hóa biển, đảo đa dạng và sinh động.

Bề mặt dải đá bằng phẳng, đoạn rộng nhất lên tới 50 mét.

Kỳ quan dưới đáy biển Gia Lai

Làng chài Nhơn Hải, phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai không chỉ nổi tiếng với vẻ đẹp bình yên cùng cảnh sắc biển, trời hùng vĩ, mà còn được nhiều người say đắm bởi một kỳ quan độc đáo.

Phụ nữ Pa Kô làm món Đổi A-lỗq chuẩn bị cho ngày lễ Aza.

Món ăn độc đáo của người Pa Kô

Khi còn nhỏ, tôi biết đến món Đổi A-lỗq (cơm nếp ống tre) của người Pa Kô qua những lần theo bố về thăm quê nội ở thôn A Liêng, xã Tà Rụt (Quảng Trị) bên dòng Krông Klang. Hương vị đặc trưng của món ăn này vẫn in đậm trong ký ức sau những lần tôi dự lễ hội và thưởng thức cùng mọi người.