Làng nghề chiếu cói Hoài Nhơn

Dệt chiếu cói là nghề truyền thống lâu đời ở xã Hoài Châu Bắc, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định (nay là phường Hoài Nhơn Bắc, tỉnh Gia Lai).

Công nhân Hợp tác xã chiếu cói Hoài Châu Bắc hoàn thiện một công đoạn làm ra chiếc chiếu thành phẩm. (Ảnh MỸ HÀ)
Công nhân Hợp tác xã chiếu cói Hoài Châu Bắc hoàn thiện một công đoạn làm ra chiếc chiếu thành phẩm. (Ảnh MỸ HÀ)

Làng nghề chiếu cói Hoài Nhơn đã hình thành hơn 300 năm. Chiếu ở đây nổi tiếng với độ óng mượt, dẻo dai, mầu sắc tươi thắm, được tiêu thụ khắp cả nước, nhất là thị trường Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.

Người dân trồng cói và thu hoạch hai mùa mỗi năm. Năm nào thời tiết thuận lợi sẽ được ba mùa. Mùa trồng cói được chia làm 2 vụ chính: vụ chiêm rơi vào khoảng tháng 3 đến tháng 4 và vụ mùa kéo dài từ tháng 7 đến giữa tháng 9. Chúng tôi có dịp ghé thăm làng Hoài Nhơn vào lúc cánh đồng cói đang chuẩn bị thu hoạch.

Do đặc thù đất ở đây nhiễm mặn cho nên hầu hết diện tích 50 ha đất đều chỉ trồng cói. Vì là một làng nghề nên khi đi trên Quốc lộ 1 qua địa bàn các thôn của phường Hoài Nhơn Bắc, mọi người dễ dàng bắt gặp những cánh đồng cói trải dài ngút ngàn. Người dân Hoài Nhơn Bắc đã có một hành trình biến vùng đất bị nhiễm phèn chua ở xứ dừa thành một cánh đồng cói bạt ngàn, vượt qua nghịch cảnh của thiên nhiên.

Cói còn gọi là lác, loại cây thân thảo, mềm, xốp, mọc hoang nơi đầm lầy hoặc trồng ở những ruộng bị nhiễm phèn chua. Khi đi qua các cánh đồng cói ở Hoài Nhơn Bắc mọi người có ấn tượng mạnh bởi mầu xanh xen lẫn mầu nâu nhạt của hoa cói tựa như một tấm lụa.

Cói sau khi thu hoạch, sẽ được người dân lựa chọn các sợi cói bảo đảm chất lượng, đem chẻ, phơi khô dọc lề đường hoặc bãi đất trống cho đến khi sợi cói đủ nắng, có độ bền và chắc (sợi cói đã khô chừng 70%) thì người dân bắt đầu thu gom lại. Nếu cói dính phải nước mưa thì sợi cói sẽ bị giảm giá trị rất nhiều, không cho ra sợi cói bền nhất. Sau đó người dân sẽ chia cói ra để nhuộm hoặc không nhuộm.

Để có được một chiếc chiếu, người thợ dệt cần phải có cói, trân, chỉ, phẩm nhuộm và khung cửi hoặc máy dệt chiếu. Vật liệu quan trọng nhất là cói, cói tốt thì chiếu bền, còn chiếu đẹp thì phụ thuộc vào người thợ dệt. Người làm chiếu không xem nhẹ bất kỳ yếu tố nào, công đoạn nào.

Ông Ngô Nhạc (55 tuổi, ở thôn Gia An Đông) chia sẻ: “Mùa thu hoạch cói gắn liền với cái nắng chói chang của miền trung nên từ sáng sớm mọi người phải ra đồng. Gia đình tôi có 5 sào cói. Khi thu hoạch cói ở dưới ruộng lên, đem chẻ ra, phơi khô rồi bán cho Hợp tác xã Hoài Châu Bắc. Giá nguyên liệu khoảng 15.000 đồng/kg, một sào cói có thể thu hoạch được 500 kg cói khô”.

Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường Hoài Nhơn Bắc Trần Thế Nguyên cho biết: Sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, lãnh đạo phường đã khảo sát làng nghề dệt chiếu cói ở đây tập trung tại 5 thôn: Gia An Đông, Gia An Nam, Gia An, Quy Thuận và Chương Hòa, với khoảng 800 hộ sinh sống chủ yếu bằng nghề này. Với lịch sử hình thành hơn 300 năm, làng nghề làm chiếu cói Hoài Nhơn đã được UBND tỉnh Bình Định cũ công nhận là làng nghề truyền thống. Hiện nay phường đang tập trung hoàn thiện hồ sơ để đề nghị các sở, ngành trong tỉnh quan tâm nâng cấp Đền thờ ông tổ nghề chiếu thành di tích cấp tỉnh.

Sản phẩm chiếu cói Bình Định có hai loại: chiếu trơn và chiếu hoa, với nhiều kích cỡ, độ dày-mỏng. Chiếu trơn được dệt từ cói trắng, đơn giản, mộc mạc nhưng cũng không kém phần lịch sự. Vì vậy, người ta hay dùng chiếu trắng trong mỗi lần cúng bái. Bà Lê Thị Anh, ở thôn Gia An Đông cho biết: Dệt chiếu hoa công phu hơn nhiều. Chúng tôi lấy phẩm nấu lên và nhúng sợi cói vào, nhúng từng nạm một và đem phơi khô, sau đó mới đem dệt thành chiếu hoa.

“Để có chiếc chiếu đẹp, bền, người thợ dệt trước hết phải dựng khung dệt. Đồng thời có một trợ thủ đắc lực ngồi bên cạnh để đưa sợi chiếu vào và người thợ rập khổ xuống khiến cho các sợi chiếu nằm ngang khít đều với nhau. Họ cứ tiếp tục như thế cho đến khi hoàn thành tấm chiếu”, bà Anh cho biết thêm.

Khoảng 4 năm trở lại đây, cùng với dệt chiếu theo kiểu truyền thống đã có một số hợp tác xã đầu tư dệt chiếu bằng máy cho năng suất cao hơn và phù hợp với những đơn hàng lớn. Chúng tôi đến thăm Hợp tác xã chiếu cói Hoài Châu Bắc, thôn Gia An Đông, do anh Lý Văn Khánh làm Giám đốc, một đơn vị đang hoạt động hiệu quả trong thời gian qua. Anh Khánh cho biết: Hợp tác xã thành lập năm 2021. Chúng tôi liên kết với 20 hộ dân địa phương cung cấp nguyên liệu cói thô cho hợp tác xã, dân địa phương trồng, thu hoạch, phơi khô chuyển cho hợp tác xã.

“Chúng tôi nhuộm, phơi và tiến hành dệt sản phẩm chiếu bằng máy để xuất khẩu. Hằng ngày nhân công làm theo sản phẩm, sẽ có 6 nhân công đứng máy, 4 nhân công ở ngoài làm các việc khác, thu nhập trung bình mỗi người 6 triệu đồng/ tháng. Tất cả đều là lao động địa phương. Hiện nay Hợp tác xã nhận làm theo yêu cầu đơn hàng do khách mong muốn, bất cứ kích cỡ nào khổ ngang (rộng) 1m; 1,2m; 1,4m; 1,6m; 1,8m và dài 2m. Với 6 máy chạy liên tục chúng tôi sản xuất trung bình khoảng 100 chiếc/ngày. Giá bán tùy theo kích thước dao động từ 70-220 nghìn đồng/chiếc, đây là giá bỏ sỉ kể cả khách vào mua 1-2 chiếc vẫn bán”, anh Khánh cho biết.

Trước đây, vì thấy làm chiếu thủ công quá vất vả, anh Khánh mua một chiếc máy dệt chiếu về làm thử với kinh phí 35 triệu đồng. Sau một thời gian sản xuất có hiệu quả, anh đầu tư mua thêm máy mới, đến nay anh có tất cả 6 máy. Lượng chiếu của Hợp tác xã sản xuất ra đến đâu bán hết đến đó, nhất là vào tháng 7 và 8 hằng năm. Hầu hết các trường THCS và tiểu học trên địa bàn tỉnh và lân cận đều đặt mua chiếu của hợp tác xã phục vụ năm học mới cho học sinh bán trú.

Đồng chí Trần Thế Nguyên cho biết: Thời gian tới, địa phương sẽ phối hợp Ngân hàng Chính sách xã hội bố trí nguồn vốn khi các hộ kinh doanh chiếu cói có nhu cầu vay để mở rộng sản xuất, kinh doanh, cũng như làm đồ thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu cói sẵn có. Ngoài ra địa phương dự kiến sẽ mời một đơn vị chủ trì, hướng dẫn hộ kinh doanh, các kỹ năng livestream bán hàng, giới thiệu và quảng bá sản phẩm truyền thống địa phương thông qua các nền tảng số thông dụng hiện nay.

Làng nghề chiếu cói Hoài Nhơn đang chuyển mình không chỉ để tồn tại mà còn để phát triển. Sự kết hợp giữa truyền thống và công nghệ hiện đại mở ra một chương mới cho nghề chiếu ở địa phương. Chiếu cói hôm nay không được dệt thủ công bằng đôi tay chai sạn của người thợ dệt nhưng trong từng sợi cói vẫn là tâm huyết của những người giữ nghề.

Có thể bạn quan tâm

Nghệ nhân trẻ Phan Tấn Đạt bên một sản phẩm khảm ốc.

Lưu giữ nét đẹp khảm ốc xà cừ

Từ chiếc vỏ ốc lấp lánh đủ màu, nghệ nhân trẻ Phan Tấn Đạt (34 tuổi, trú phường Kim Long, thành phố Huế) đã cho ra đời những bức khảm đầy tinh xảo. Từng mảnh ốc nhỏ bé được ghép nối dựa trên những nguyên tắc mỹ thuật giúp anh Đạt hiện thực mục tiêu bảo tồn nghề xưa.

Bia Ma Nhai khắc trên vách núi Thành Nam, xã Con Cuông, Nghệ An.

Độc đáo bia Ma Nhai khắc trên núi đá

Gần 700 năm trường tồn giữa đại ngàn miền tây Nghệ An, bia Ma Nhai là chứng tích đặc biệt về lịch sử giữ nước, khẳng định chủ quyền lãnh thổ và giá trị văn hóa thời Trần.

Thế hệ trẻ Thanh Hóa trong một cuộc về nguồn, tìm hiểu vai trò lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ cách mạng.

Những địa chỉ đỏ khơi dậy lòng yêu nước

Xã Thọ Lập, tỉnh Thanh Hóa có diện tích tự nhiên gần 34 km 2 , bao trùm một vùng di sản. Lấy con người là trung tâm, cấp ủy, chính quyền xã xác định phát triển kinh tế luôn đi đôi với bảo tồn, phát huy nguồn lực nội sinh từ truyền thống lịch sử, cách mạng.

Chị Hoàng Kim Ngọc Uyên Nhi vẽ thủ công lên tà áo dài.

Khát vọng làm mới tà áo dài

Từ tình yêu với văn hóa Huế, vợ chồng nhà thiết kế Hoàng Kim Ngọc Uyên Nhi (sinh năm 1992, phường An Cựu, thành phố Huế) đã đưa họa tiết cung đình và hình ảnh di tích lên những tà áo dài linen.

Thác Tà Puồng trong xanh, hùng vĩ giữa núi rừng Trường Sơn.

Vẻ đẹp hoang sơ nơi đại ngàn

Nằm trong không gian xanh rừng nguyên sinh phía đông dãy Trường Sơn, thác Tà Puồng trở thành điểm đến hấp dẫn nhờ vẻ đẹp hoang sơ và mô hình du lịch cộng đồng của đồng bào Bru-Vân Kiều. Không chỉ khai thác hiệu quả vẻ đẹp tự nhiên, mô hình này còn tạo sinh kế, nâng cao thu nhập và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.

Theo các già làng, mỗi món ăn đều chứa đựng ký ức của dân tộc mình.

Đánh thức hương vị đại ngàn

Lễ hội Ẩm thực truyền thống các dân tộc miền núi thành phố Huế tại xã A Lưới 2 đã níu chân du khách bởi những món ăn truyền thống của đồng bào Pa Cô, Tà Ôi, Cơ Tu... mở ra cơ hội để văn hóa ẩm thực vùng cao trở thành sản phẩm du lịch cộng đồng đặc trưng, góp phần gìn giữ bản sắc, nâng cao sinh kế cho người dân.

Chùa Phạm Thông ở làng cổ Đông Sơn, phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa.

Hàm Rồng - một vùng di sản, danh thắng

“Thanh Hóa thắng địa là nơi/Rồng vờn hạt ngọc, hạc bơi chân thành”. Câu ca được cộng đồng lưu truyền, gợi mở, mời gọi du khách trải nghiệm một vùng di sản, danh thắng ở Hàm Rồng.

Khách du lịch nghe giới thiệu về hệ thống hang động Phong Nha-Kẻ Bàng.

Khám phá hang Sơn Đoòng thông qua công nghệ số

Tỉnh Quảng Trị vừa khai trương dịch vụ trải nghiệm khám phá hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng thông qua công nghệ thực tế ảo (VR 5D). Đây là trải nghiệm độc đáo, hấp dẫn cho những người đam mê du lịch khám phá nhưng chưa có điều kiện trực tiếp đến các hang động ở Phong Nha-Kẻ Bàng.

Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Giữ nhịp trống giữa làng quê xứ Nghệ

Trong nhịp sống hiện đại, khi nhiều làng nghề truyền thống dần phai nhạt, ở xã Đại Đồng (tỉnh Nghệ An) vẫn có những con người lặng lẽ giữ lửa nghề làm trống da. Từng nhịp búa, thớ gỗ, tấm da tạo nên âm thanh vang vọng, góp phần gìn giữ hồn cốt văn hóa làng quê xứ Nghệ qua bao thế hệ.

Bà Nguyễn Thị Kiềm (bên trái) cùng nhóm thợ giữ nghề chằm nón lá Vân Thê.

Duyên dáng nón lá Vân Thê

Trong bối cảnh nhiều làng nghề truyền thống đối mặt với nguy cơ thất truyền, nghề chằm nón lá Vân Thê vẫn được người dân nơi đây nỗ lực giữ gìn, phát huy. Trải qua bao thăng trầm, du lịch làng nghề đã có đóng góp quan trọng vào việc bảo tồn, tiếp nối giá trị của nghề chằm nón xưa.

Vùng biển Cổ Thạch (xã Liên Hương) với nhiều thuyền thúng tạo nên cảnh đẹp hoang sơ.

Vẻ đẹp hoang sơ vùng biển Cổ Thạch

Nằm ở khu vực phía đông bắc tỉnh Lâm Đồng, xã Liên Hương có danh thắng quốc gia kế bên bãi biển hoang sơ, rực rỡ với những viên đá đầy màu sắc, tạo nên vẻ đẹp huyền ảo. Trong quần thể du lịch của xã còn có di tích lịch sử-văn hóa giúp nơi đây có tiềm năng trở thành thiên đường trải nghiệm.

Một đoạn tường thành cổ Diên Khánh

Phát huy giá trị di sản thành cổ Diên Khánh

Được công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia từ năm 1988, trong định hướng phát triển, thành cổ Diên Khánh (Khánh Hòa), sẽ trở thành một điểm nhấn quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử, văn hóa địa phương.

Việc tổ chức những chương trình văn hóa-du lịch đặc sắc thu hút lượng khách trong nước và quốc tế đến Gia Lai.

Bản sắc cộng đồng tạo sức bật cho du lịch Gia Lai

Sau sáp nhập, Gia Lai trở thành vùng đất hội tụ độc đáo, nơi núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ giao hòa cùng biển xanh miền trung khoáng đạt. Sự kết hợp ấy đã tạo nên lợi thế riêng biệt, giúp ngành du lịch khẳng định vai trò kinh tế mũi nhọn với những câu chuyện văn hóa, bản sắc và sự đồng hành bền chặt của cộng đồng địa phương.

Phút lắng đọng ở không gian sách cũ Cội Nguồn.

Làm mới cho sách cũ

Lật lại từng trang sách cũ, hình ảnh vùng đất học xứ Huế hiện lên trong dáng vẻ nhẹ nhàng, sâu lắng. Không gian sách Cội Nguồn, phường Thuận Hóa, thành phố Huế của bạn trẻ Nguyễn Thị Mỹ Hằng (27 tuổi) như cánh chim mang theo tri thức nhuốm mầu thời gian.

Đền thờ Vua Hàm Nghi và các tướng sĩ Cần Vương ở Cam Lộ.

Phát triển du lịch ở vùng đất cách mạng

Xã Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị được thiên nhiên ưu ái ban tặng khí hậu ôn hòa, cũng là nơi hội tụ của những tầng nấc văn hóa, lịch sử trầm mặc. Từ “Kinh đô kháng chiến” với thành Tân Sở vang bóng một thời, đến những giếng cổ nghìn năm và vườn chè cổ thụ độc đáo.

Nhà vườn Xuân Đài ở làng Thủy Biều.

Giữ khoảng rỗng cho đô thị Huế

Khái niệm rỗng và mở xoay quanh những làng cổ của thành phố Huế đã nhiều lần được các chuyên gia, nhà nghiên cứu tiến hành thảo luận, đánh giá. Với một thành phố đặc biệt như Huế, giá trị văn hóa, lịch sử đang cùng tồn tại, vừa tách biệt vừa gắn kết với quá trình đô thị hóa.

Không gian linh thiêng của đêm hội âm công bên ánh lửa bập bùng.

Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar của người Pa Kô

Bao đời nay, người Pa Kô tại xã Tà Rụt, tỉnh Quảng Trị vẫn gìn giữ những phong tục truyền thống tốt đẹp, giàu triết lý nhân sinh. Trong số đó, Lễ tạ ân Nữ thần Ku-môr Bar là nghi lễ cầu mong sự thịnh vượng, đồng thời là biểu tượng của lòng biết ơn, lối sống thiện lành và tinh thần đoàn kết cộng đồng.

Bạch Mã hướng tới mô hình khu bảo tồn đa chức năng kiểu mẫu theo chuẩn mực quốc tế.

Bạch Mã - hành trình thức giấc

Từ danh hiệu Vườn Di sản ASEAN đến mô hình quản trị rừng dựa trên công nghệ, từ phục hồi đa dạng sinh học đến kinh tế sinh thái bền vững, Bạch Mã đang từng bước khẳng định vị thế một khu bảo tồn kiểu mẫu của Việt Nam và khu vực Đông Nam Á.

Nghề làm nước mắm tại Phan Thiết.

Phát triển thương hiệu nước mắm Phan Thiết

Nước mắm Phan Thiết có lịch sử truyền thống hơn 300 năm, nổi tiếng với hương vị đậm đà, màu sắc đặc trưng và được xem là đặc sản trứ danh của vùng đất ven biển tỉnh Lâm Đồng. Thời gian qua, thương hiệu nước mắm Phan Thiết được xây dựng, phát triển thành sản phẩm OCOP nhằm quảng bá tại thị trường trong và ngoài nước.

Võ Ca Dao hướng dẫn cho du khách nước ngoài trải nghiệm in tranh mộc bản.

Kể Huế bằng những điều thương nhớ

Từ trải nghiệm cá nhân và ký ức về cố đô, Võ Ca Dao cố gắng chắt lọc thành 100 điều nên thử khi đến Huế. Đó không chỉ là gợi ý cho những ai mới tới đây du lịch lần đầu mà còn là một cách kể Huế bằng đời sống thường ngày.

Các sản phẩm OCOP thủ công mỹ nghệ ở thành phố Đà Nẵng được chú ý tại các hội chợ.

Tạo thêm hành lang pháp lý để sản phẩm OCOP vươn xa

Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, sản phẩm nông nghiệp nông thôn của các chủ thể OCOP (Chương trình mỗi xã một sản phẩm) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng tăng lên đáng kể về số lượng, mẫu mã. Bên cạnh tập trung vào những sản phẩm đã và đang có niên hạn, thành phố Đà Nẵng còn có riêng một nghị quyết để phát triển các sản phẩm OCOP theo hướng bền vững.