Giặt chiếu cầu ao

“Giặt chiếu cầu ao” dường như đã trở thành “cổ tích”, giờ thì chẳng có ai đem chiếu ra cầu ao mà giặt. Giờ thì làng xóm cũng chẳng còn có mấy những chiếc ao bèo mà ở bên bờ luôn có một chiếc cầu ao, kha khá thì cầu ao xây gạch, giản dị thì cầu ao được bắc bằng mấy thanh tre ghép lại.

Ảnh: K.MINH
Ảnh: K.MINH

Quê tôi nằm cách Hà Nội không xa, chỉ hơn hai mươi ki-lô-mét nhưng vẫn là một làng quê bình dị. Thuở ấy, phải những gia đình vào loại khá giả mới có ao riêng của nhà. Còn những gia đình khác thường đều phải nhờ ao của “nhà giàu” trong làng để giặt giũ, rửa ráy chân tay, rửa rau vo gạo. Nhưng đã tới cầu ao thì vui phải biết. Bọn trẻ con í ới gọi nhau ra cầu ao vầy nước. Người lớn thì chậm rãi bước tới cầu ao để làm công việc của mình. Ở làng, đôi khi chỉ cần tới cầu ao là biết được nhà nào hôm nay ăn uống với những món ăn gì. Nhà nào khấm khá ra cầu ao mổ gà là hàng xóm biết ngay. Nhà nào túng thiếu nhiều hay ít, bữa ăn hằng ngày thế nào thì cứ tới cầu ao là biết. Có nhà quanh năm chỉ thấy ra cầu ao rửa mớ rau hái được trong vườn hay nhặt nhạnh ngoài bờ ruộng.

Tôi thích nhất là được mẹ giao ra cầu ao giặt chiếu. Đó là những hôm trời nắng chang chang, tôi vác hoặc là một hoặc là hai chiếc chiếu đi tới cầu ao nhà bà Chắt. Cầu ao nhà bà là đẹp nhất làng, nó được xây bằng gạch đỏ có trụ cầu và có những dăm bảy bậc. Trời mưa, nước đầy dâng lên tới tận bậc trên cùng của cầu ao. Trời nắng nóng nhiều ngày thì nước cạn chút ít làm lộ ra những bậc cầu ao tiếp theo.

Tôi gọi to “Bà Chắt ơi. Cho cháu giặt nhờ chiếc chiếu với ạ”. Dù không có tiếng đáp trả là đồng ý hay không đồng ý thì tôi vẫn bước xuống cầu ao. Chiếc chiếu được trải rộng trên mặt nước trong veo. Tôi cầm cán chiếc chổi tre để cọ mặt chiếu, cọ từng đoạn rộng khoảng ba mươi phân thì gập lại, cứ thế cầm chổi tre cọ qua cọ lại, cứ thế cọ xong từng đoạn thì gập chiếu theo kiểu cuốn vòng, cho đến đoạn cuối cùng thì cọ xong mặt phải của chiếu. Lật chiếu sang mặt trái, lại cọ chổi tre như khi cọ mặt phải.

Đó chưa phải là đã giặt xong chiếc chiếu. Công đoạn tiếp theo là lại trải rộng chiếu ra, tôi cầm chiếc gậy tre dài và đập mạnh nhiều phát lên mặt chiếu, hôm quên mang gậy tre thì gập chiếu lại, cầm một đầu và hất chiếu về phía sau lưng rồi vung mạnh về đằng trước cho chiếc chiếu đập mạnh xuống nước. Đập gậy tre hay đập chiếu kiểu vung xong thì bước lên bờ, hai tay vẫn giữ một đầu chiếc chiếu, đứng cỡ chục giây chờ cho nước chảy bơn bớt mới mang tới gác lên bờ cây bên cạnh. Lại giặt tiếp chiếc chiếu thứ hai.

Xong xuôi mới vác chiếu đã giặt lên vai, cất tiếng rõ to “Bà Chắt ơi. Cháu giặt chiếu xong rồi ạ”. Chọn chỗ nắng to nhất, tôi vắt chiếc chiếu lên bờ rào hoặc sào phai. Phơi từ sáng tới chiều nguội nắng lại ra sân mang chiếu vào nhà. Tôi trải chiếu lên giường, mùi chiếu được phơi dậy lên mùi thơm của nắng rất muốn hít hà. Đêm ấy, nằm trên chiếc chiếu mới giặt khô tôi đánh một giấc ngủ ngon lành.

Thời gian lùi xa, chuyện đem chiếu ra cầu ao giặt đã thành quá khứ, nếu kể lại cho con cho cháu nghe thì chúng lại bảo “Cứ như chuyện cổ tích ấy”. Ừ thì “cổ tích” thì đã sao. “Cổ tích” cứ mà vui, cứ mà nhớ là được.

Có thể bạn quan tâm

Chung tay làm bánh của đồng bào dân tộc Thái. Ảnh: BẮC SƠN

“Nón lắp bo mi xẩu quyệt”

Trong tiếng Thái vùng núi Thanh Hóa, có một câu nói ví von đầy ý nhị nhưng cũng thật trần trụi về nhu cầu cơ bản của con người: "Kin khẩu bo mi kẻng cắp/Nón lắp bo mi xẩu quyệt". Dịch ra tiếng Kinh, nghĩa là: “Ăn cơm không có canh khác gì đi ngủ không có người ôm”.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Tin vào cánh đào xuân

Đầu giờ chiều, trên bãi đất trống ở trụ sở xã Yên Sơn đã đầy xe máy, xe đạp. Bụi đất đỏ vồng lên thành luồng theo một chiếc xe máy đi từ đường lớn vào sân.

Hát ru. Ảnh: NAM NGUYỄN

Mùa ca dao đã mất

“À ơi... Gió đưa cây cải về trời. Rau răm ở lại chịu lời đắng cay...”, phải chăng ký ức của mỗi người vẫn đang cất giữ những lời ru ầu ơ, vẫn như đang nghe thấy tiếng võng đưa kẽo kẹt…

Ảnh: HẢI ANH

Chợ gốc đa, những sớm mai ở lại

Sáng nào thức dậy sớm, tôi cũng đi bộ về phía gốc đa già nằm giữa đình Quán La và chùa Khai Nguyên (nay thuộc phường Xuân Đỉnh, Hà Nội). Cái chợ nhỏ ấy, họp chẳng cần biển hiệu, cũng không cần mái che, người dân quen gọi là chợ gốc đa.

Ảnh: NGUYỄN NAM

Hết Tết, lại nhớ khói chiều cuối năm

Những chiều cuối năm ấy luôn đến chầm chậm, không báo trước, chỉ bằng lớp nắng mỏng tang trên mái ngói và tiếng chổi quét sân nghe rõ từng nhịp. Chạm đến chiều ba mươi, trong tôi lại dâng lên một cảm giác vừa hồi hộp, vừa bình yên như làn khói mỏng bay từ gian bếp.

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày xuân ra phố mua cây

Ngày bé, có lần tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, vườn nhà mình rộng thế, sao mẹ không trồng lấy một khóm hoa”. Mẹ tôi ngần ngừ rồi bảo: “Mẹ không biết nữa, mẹ chỉ muốn trồng gì đó để cả nhà được ăn no”.

Tát ao ăn Tết

Tát ao ăn Tết

Cứ đến khoảng 20 tháng Chạp, các xóm trong làng bắt đầu rủ nhau tát ao lấy cá ăn Tết.

Bên dòng Oka của Yesenin

Bên dòng Oka của Yesenin

Trong hình dung của tôi, không thể ở tận thế kỷ 21 mà trên đời vẫn còn tồn tại một ngôi làng cũ xưa như Konstantinovo. Thế mà có thật. Nó xưa cũ thật sự và vì xưa cũ, cảm giác như trong những cơn gió lạnh vẫn thấy bóng Sergey Yesenin chạy trên những lối mòn.

Minh họa: KIM DUẨN

Màu của Tết

Mùi của Tết thường đến khi gian bếp thơm mùi bánh chưng sôi ùng ục, khi những chiếc áo cũ mẹ mang ra phơi vẫn vương mùi băng phiến, khi mùi trầm ngan ngát theo gió thổi qua mỗi gian nhà. Khi ấy, Tết đã cận kề. Nhưng màu của Tết thì đến sớm hơn nhiều…

Anh Hiển (hàng dưới) chụp hình lưu niệm cùng du khách tại homestay của mình.

Chuyện của Hiển

Ngồi ngẫm lại chuyện gần 10 năm trước, Dương Vĩnh Hiển, chủ homestay HT Ánh Trung tại Làng Văn hóa Du lịch Cộng đồng Dân tộc H'Mông (xã Mèo Vạc, tỉnh Tuyên Quang) vẫn thấy mình “Sao liều thế!”.

Chợ Tết. Ảnh: NGUYỆT ANH

Chợ tháng Chạp

Chợ tháng Chạp không giống bất kỳ phiên chợ nào trong năm. Ngay từ tinh mơ, khi sương còn lẫn vào mùi rơm ẩm và khói bếp, những con đường dẫn về chợ đã lấp ló bóng người.

Hoài niệm. Ảnh: HẢI ANH

Những món đồ ở lại cùng ký ức

Tết lại sắp về. Cái rét cuối năm chưa kịp chạm ngõ đã thấy trong nhà xôn xao chuyện dọn dẹp. Con cháu bảo nhau lau bàn thờ, sắp lại tủ, phân loại đồ đạc: Cái nào dùng, cái nào bỏ, cái nào “cho đi”. Trong danh sách ấy, có rất nhiều thứ mà người trẻ gọi là “đồ cũ”, còn người già thì gọi bằng một cái tên khác: Kỷ niệm.

Phố đông. Ảnh: NAM NGUYỄN

Bao dung phố mùa đông

Những cơn mưa dầm xuất hiện. Từng cơn gió lạnh ùa khắp các con đường. Mỗi chiều về ngang phố, thoảng nghe tiếng thì thầm của lá, tiếng chim kêu run rẩy. Ở phố, sự có mặt của mùa đông dường như ít nhận ra từ đặc trưng của thiên nhiên mà thường tạo nên bởi rung động, xôn xao của cảm xúc con người.

Minh họa: ĐOÀN ĐỨC HÙNG

Phúc nhà

Mẹ bàn với tôi Tết này xin phép nhà nội, bọn trẻ rồi vợ chồng con cái ở lại ăn Tết với mẹ, có gì để mẹ nói đỡ với ông bà bên ấy một tiếng. Sau bao nhiêu sóng gió vừa xô đến với gia đình tôi, tóc mẹ trắng như cước và lưng mẹ như oằn hẳn xuống.

Kẻ cắp ở cuối làng

Ở quê tôi ngày ấy, cái nghèo không chỉ là sự thiếu thốn vật chất, mà nó còn tồn tại một thứ định kiến vô hình, tàn nhẫn. Những gia đình sống ở cuối làng, nơi con đường đất cụt ngủn và cỏ dại mọc lút đầu gối, thường mặc nhiên bị coi là "vùng tối" của cả cộng đồng.

Các món chè. Ảnh: NAM NGUYỄN

Nhớ sao vị ngọt ngào thơ ấu

Một sáng cuối tuần, tôi ghé khu chợ nhỏ quen thuộc gần nhà. Đang mải miết suy nghĩ mua nguyên vật liệu gì thì tiếng rao lảnh lót “Ai chè đậu đỏ, đậu đen, đậu xanh, thập cẩm không?” của một người phụ nữ quẩy quang gánh trên vai đã làm tôi khựng lại.

Minh họa: ĐẶNG TIẾN

Người khách đến nhà

Nắng tháng 5 dát vàng mái phố. Ngôi biệt thự số 7 Rue Jean Soler nằm ngay góc giao với Rue Jauréguiberry dường như nổi bật thêm lên bởi mầu sơn vàng. Ông Duot Bertheur (Đuy ô), người chủ của ngôi biệt thự, dậy sớm, đứng trên ban-công tầng 2, để ngắm nắng sớm mai.

Nhà khoa học chân chính

Đó là biệt danh lũ chúng tôi đặt cho anh khi mon men lên Thư viện Quốc gia mượn sách. Giữa môi trường tri thức trăm phần trăm, giáo sư, tiến sĩ "đông như quân Nguyên", anh vẫn nổi bật bởi vẻ đắm đuối suy tư những điều cao siêu đến thoát tục.

Ảnh: SONG ANH

Mảnh vườn xưa

Tôi có thói quen khắc số năm sau ngày bà mất lên thanh xà ngang trong nhà vào mùa cây thay lá.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Xóm cầu thang

Cục diện bê-tông hóa đã thiết lập từ cao xuống thấp khi tòa nhà đi vào sử dụng. Cư dân ở đây tuyền ở quê lên, trong ký ức bùn theo chân lên tận giường, “hai xoa, ba đập” khuất mắt trông coi. Họ chỉ mong đoạn tuyệt được với bùn đất để làm người phố ra sáng vào bóng.

Ở Mường Nhé xa xôi cuối trời Tây Bắc chỉ cách đây chưa đầy 2 thập kỷ, con đường đất bằng phẳng thế này đã là mơ ước.

Người chờ trên đỉnh dốc

Đường sá lên cực tây Tổ quốc những ngày còn đang mở rộng và dần hoàn thiện thật sự là thử thách với bất kỳ một tay giang hồ ưa xê dịch nào. Và cái cuộc gặp mặt ăn Tết của Khụ Sự Trà với đồng bào Hà Nhì năm 2013 thật sự là cuộc gặp của nhiều kẻ yêu con người và thiên nhiên mạn ngược.

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Mùi ký ức lan tiêu đã chín

Có những buổi sáng, vừa mở cửa sổ, tôi chợt thấy thoang thoảng một làn hương dịu ngọt như mùi chuối chín. Hóa ra, cây lan tiêu nhà hàng xóm đã vào mùa. Mùi hương ấy không gắt gỏng, chẳng nồng nàn, chỉ như một hơi thở lướt qua.

Minh họa: NGUYỄN MINH

Ngựa hồng qua dốc mây

Ngày trước tôi đã lỡ cuộc đi bộ với Sương lên đỉnh núi, giờ là lúc tôi hoàn thành việc này, cũng để có cái nói với Sương lúc gặp lại.

Con đường mòn biên giới

Con đường nhỏ bắt đầu bằng một ngã rẽ men theo vườn nhà dân. Một người đàn ông ngồi ngay ngắn bên lối đi, thu của mỗi người qua lại vài đồng lẻ. Nếu không có chỉ dẫn, chẳng ai biết đến con đường này. Dốc mỗi lúc một gắt. Dòng người ngược chiều lặng lẽ đi xuống, lưng oằn gánh hàng, mồ hôi đổ thành vệt trên gò má lạnh.