Dưỡng chất cho mầm xanh nghệ thuật

Suốt hành trình 100 năm qua, Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam, tiền thân là Trường Mỹ thuật Đông Dương, dù trải qua nhiều biến động lịch sử lớn lao nhưng luôn giữ vững mục tiêu đào tạo nghệ sĩ-người sáng tạo trong lĩnh vực mỹ thuật.

Triển lãm các bài nghiên cứu hình hoạ của nhiều thế hệ sinh viên nhà trường, tháng 9/2025, thu hút sự quan tâm của đông đảo giới chuyên môn. Ảnh: Mai Loan
Triển lãm các bài nghiên cứu hình hoạ của nhiều thế hệ sinh viên nhà trường, tháng 9/2025, thu hút sự quan tâm của đông đảo giới chuyên môn. Ảnh: Mai Loan

Từ 1925 đến 1945, phương pháp đào tạo của Trường Mỹ thuật Đông Dương được xây dựng và triển khai theo mô hình đào tạo hàn lâm của Pháp.

Các môn học căn bản như hình họa, điêu khắc, trang trí, lịch sử nghệ thuật, giải phẫu học cơ thể người, luật phối cảnh là những môn học chiếm thời lượng lớn. Ngoài ra, các giờ học khảo sát kiến trúc, vẽ trực họa ngoài trời, làm các bài thực hành sáng tác, thực hành chất liệu mỹ thuật cũng là yêu cầu bắt buộc và là cơ sở để đánh giá năng lực người học.

Trường Mỹ thuật Đông Dương đã đặt nền móng quan trọng nhất cho sự hình thành nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại bằng phương pháp giảng dạy khoa học và công sức của những người thầy đầu tiên, như Hiệu trưởng Victor Tardieu…

Với truyền thống hiếu học, tài năng và tinh thần yêu đất nước, dân tộc, những thế hệ sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương giai đoạn này đã tạo dựng một diện mạo mỹ thuật Việt Nam hiện đại đầy tự hào, sớm được ghi nhận rộng rãi. Ngoài rèn luyện kỹ thuật cơ bản, phương pháp đào tạo chú trọng ngay từ đầu năng lực tự khảo sát, nghiên cứu, từ kiến trúc cho tới các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng cổ truyền, đã tạo ra lớp nghệ sĩ biết vận dụng kết hợp học thuật phương Tây với thẩm mỹ, chất liệu truyền thống Việt Nam, tạo nên nhiều thành tựu đặc sắc về nghệ thuật tranh lụa và sơn mài.

Trong các giai đoạn kháng chiến đầy khó khăn, dù phải thích nghi với hoàn cảnh nhưng nhà trường đã có những thay đổi cơ bản về phương pháp đào tạo mỹ thuật.

Đào tạo cán bộ mỹ thuật từng là mục tiêu được đề cao hàng đầu nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền bắc và đấu tranh chống đế quốc Mỹ, giải phóng miền nam. Thời kỳ này, phương pháp đào tạo mỹ thuật rất chú trọng gắn việc rèn luyện, sáng tác với hoạt động quân sự, lao động sản xuất. Thầy và trò trường mỹ thuật không chỉ thường xuyên đi thực tế (cùng sinh hoạt, lao động và sáng tác mỹ thuật) ở các công, nông trường, nhà máy, xí nghiệp, hoạt động ghi chép, sáng tác của các họa sĩ /chiến sĩ còn gắn liền với các chặng đường kháng chiến lịch sử cho tới ngày toàn thắng.

Phương pháp đào tạo mỹ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa của nhà trường còn nhận được sự hỗ trợ trực tiếp của các chuyên gia Liên Xô cũng như sự tăng cường đội ngũ giảng viên được đào tạo từ các quốc gia xã hội chủ nghĩa bè bạn. Giai đoạn này ghi dấu sự hoàn thiện về phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa và nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc được đào tạo bài bản từ nhà trường đã có những tác phẩm trở thành kinh điển về đề tài chiến tranh cách mạng, xây dựng đất nước.

Tới nay, Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam tiếp tục có nhiều thay đổi về chương trình và phương pháp đào tạo.

Nhu cầu và mục tiêu hội nhập với nghệ thuật quốc tế trong giai đoạn toàn cầu hóa là các yếu tố quyết định cho những thay đổi, cải cách về phương pháp đào tạo của trường. Từ những năm đầu thập kỷ 90, chính sách đổi mới đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động trao đổi hàn lâm giữa nhà trường và nhiều cá nhân, tổ chức đến từ các trung tâm nghệ thuật quốc tế. Các chương trình thỉnh giảng của giảng viên nước ngoài, hoạt động giao lưu, trưng bày nghệ thuật quốc tế ngày càng phổ biến tại Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, sách báo về nghệ thuật quốc tế cùng sự phát triển của internet… là tác nhân thúc đẩy việc triển khai các môn học, ngành học mới. Đặc biệt, nghệ thuật đương đại ở bình diện quốc tế với các hình thức rất mới mẻ nếu so hội hoạ, điêu khắc hiện đại, hàn lâm cũng đặt ra những thách thức cho mục tiêu hội nhập vào đời sống nghệ thuật toàn cầu. Nhiều hệ giá trị thẩm mỹ, tư tưởng nghệ thuật mới hình thành và mang tính đại diện cho thời đại đã tác động tới quyết định duy trì các phương pháp đào tạo cũ hoặc phải đổi mới về tư duy và định hướng đào tạo.

Mục tiêu và chủ trương đào tạo hiện nay của Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam là bản sắc-sáng tạo-nhân văn, tức là việc duy trì bản sắc gắn liền với tên tuổi của ngôi trường có nhiều thành tựu đào tạo quan trọng, đáng tự hào của nền mỹ thuật trong nước, cũng như bản sắc đi đôi với tính dân tộc trong dòng chảy chung của nhân loại. Sáng tạo hiển nhiên là tiêu chí của các cơ sở đào tạo nghệ thuật, tuy nhiên, sáng tạo cần sự phong phú, đa dạng và yếu tố tiên phong. Nhân văn là giá trị mà hoạt động sáng tạo cần thiết phải duy trì và hướng tới.

Tuy nhiên, trên vận trình xã hội mới với những tiềm năng và thử thách mới, để duy trì và phát huy vị thế đào tạo chuyên môn hàng đầu của đất nước, Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam vẫn cần xác lập lại mục tiêu rõ ràng hơn, tạo lập môi trường học tập chuyên nghiệp, có phương pháp và trình độ đào tạo bảo đảm cung cấp những kiến thức, kỹ năng quan trọng hướng đến sự xuất hiện của những tài năng sáng tạo. Đặc biệt, trường phải là nơi cung cấp mọi dưỡng chất cần thiết cho mỗi mầm xanh nghệ thuật nảy nở và phát triển.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.