Định hướng chính sách cho mục tiêu Net Zero

Thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải khí nhà kính ròng bằng "0" (gọi tắt là Net Zero) vào năm 2050. Cam kết này đã được tái khẳng định tại Hội nghị COP28 vào đầu tháng 12/2023 vừa qua, thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
Công nghiệp điện gió trở thành một trong năm trụ cột phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Ảnh: Hoàng Hà
Công nghiệp điện gió trở thành một trong năm trụ cột phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Ảnh: Hoàng Hà

Cam kết và định hướng chiến lược

Phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2016 khoảng 317 triệu tấn CO2 tương đương, ước tính 513 triệu tấn vào năm 2020. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đã đề ra lộ trình đạt Net Zero, theo đó sẽ đạt phát thải đỉnh với khoảng 539 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2035; sau đó sẽ tiếp tục giảm, đến năm 2050 tổng lượng phát thải khí nhà kính ước đạt 185 triệu tấn CO2 tương đương và sẽ được hấp thụ hoàn toàn bởi các hệ sinh thái tự nhiên. Trong đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022, Việt Nam cũng cam kết đến năm 2030 sẽ tự nguyện giảm 15,8% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (BAU) và giảm 43,5% nếu có sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Cũng như ở hầu hết các nước trên thế giới, trong cơ cấu phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2016, năng lượng là lĩnh vực có tỷ trọng phát thải lớn nhất, chiếm khoảng 65% tổng lượng phát thải; sau đó là các lĩnh vực, các quá trình công nghiệp (14,6%), nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (13,9%) và chất thải (6%). Mục tiêu Net Zero đã được cụ thể hóa, phân bổ theo các ngành, lĩnh vực, đồng thời các định hướng chính sách cũng đã được xác định để triển khai thực hiện.

Trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 55/NQ-TW về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, bên cạnh bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển kinh tế-xã hội, cần từng bước hạn chế, dừng phát triển điện than từ sau năm 2030, chuyển sang năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, mặt trời. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) đề ra mục tiêu phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9-39,2% vào năm 2030; đạt 47% nếu các cam kết theo Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất; đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5-71,5%. Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, đủ khả năng tích hợp, vận hành an toàn, hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn; phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo, hình thành hai trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng. Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh ngành giao thông vận tải cũng đã đề ra định hướng đến năm 2040, từng bước hạn chế, tiến tới dừng sản xuất các loại xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch; đến năm 2050, 100% số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ sử dụng điện, năng lượng xanh.

Bên cạnh đó, việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng cũng cần tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 đề ra mục tiêu đạt mức tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc, đồng thời giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,0%.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, định hướng chính là thực hiện nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải carbon thấp; tiếp tục bảo vệ và phát triển rừng, quản lý rừng bền vững. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động giảm phát thải khí methane đến năm 2030; Kế hoạch quốc gia triển khai tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất đến năm 2030. Đặc biệt, Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một hình mẫu trên thế giới về phát triển nông nghiệp carbon thấp. Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát triển rừng cũng đã được phê duyệt với mục tiêu tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42%; diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt hơn một triệu ha.

Trong lĩnh vực các quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm công nghiệp, cần cải tiến, phát triển và ứng dụng công nghệ trong sản xuất vật liệu xây dựng; phát triển và sử dụng các loại vật liệu xanh; ứng công nghệ mới để giảm phát thải N2O trong công nghiệp hóa chất. Từng bước ứng dụng công nghệ thu giữ carbon; hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn để thúc đẩy phát triển tòa nhà xanh, khu đô thị xanh; giảm dần sử dụng các môi chất lạnh trong các hệ thống làm mát; thu hồi, tái sử dụng, tiêu hủy, tái chế môi chất lạnh.

Trong lĩnh vực chất thải, cần giảm phát sinh chất thải thông qua phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, thu phí theo khối lượng; đẩy mạnh tái chế thông qua cơ chế mở rộng trách nhiệm nhà sản xuất (EPR). Đồng thời, cần hạn chế chôn lấp, tăng cường xử lý chất thải kết hợp thu hồi năng lượng; sản xuất phân compost từ chất thải hữu cơ; đốt chất thải rắn để phát điện; sản xuất viên nén nhiên liệu từ chất thải rắn.

Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật trong thời gian tới

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn. Cần hướng dẫn và triển khai thực hiện hiệu quả các quy định về trách nhiệm, lộ trình và phương thức giảm phát thải khí nhà kính của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các văn bản dưới luật. Trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển thị trường carbon trong nước và mở rộng, kết nối với thị trường carbon quốc tế; thực hiện phân bổ hạn ngạch phát thải; xây dựng cơ chế trao đổi, bù trừ, cơ chế chứng nhận tín chỉ carbon; thiết lập sàn giao dịch tín chỉ carbon; xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) về giảm phát thải. Cần xây dựng và thực hiện các kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính các ngành, lĩnh vực; thực hiện kiểm kê và kế hoạch giảm phát thải trong các cơ sở phát thải lớn.

Đối với lĩnh vực chính là năng lượng, cần sửa đổi Luật Điện lực để hoàn thiện chính sách về đầu tư, quy hoạch, điều hành giá điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh; phát triển các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo; xây dựng cơ chế đấu giá, đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư kèm giá điện; cụ thể hóa chính sách xã hội hóa đầu tư lưới điện truyền tải; xây dựng hệ thống truyền tải điện thông minh; cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp. Xây dựng và ban hành Luật về năng lượng tái tạo để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới; triển khai thực hiện thành công Quy hoạch điện VIII. Sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 để thúc đẩy giảm cường độ năng lượng của nền kinh tế, ban hành chế tài và các tiêu chuẩn, quy chuẩn bắt buộc về sử dụng hiệu quả năng lượng.

Cần khơi thông các nguồn tài chính xanh để thu hút đầu tư thông qua việc ban hành các tiêu chí và cơ chế xác nhận dự án xanh, từ đó thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Cần tận dụng mọi cơ hội mà JETP mang lại, đồng thời, chú trọng tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, tăng cường năng lực quản trị, để có thể hấp thụ, sử dụng hiệu quả các khoản vay, đầu tư cho phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện chính sách để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực, là những yếu tố quan trọng cho quá trình chuyển đổi xanh.

Cam kết Net Zero là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song cam kết Net Zero đã và đang nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cũng sẽ giúp huy động nguồn lực, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội.

Đúc rút bài học thực tiễn, kiến tạo phát triển bền vững

Ông Trịnh Quang Dũng, Trưởng phòng Quản lý hoạt động quy hoạch, kiến trúc đô thị, Sở Quy hoạch-Kiến trúc Hà Nội chia sẻ: Để kiến tạo một Thủ đô phát triển bền vững xuyên thế kỷ, cơ quan chuyên môn không né tránh mà đi sâu nghiên cứu, bắt đúng bệnh...

Nhiều cuộc tọa đàm được tổ chức, nhằm đóng góp ý kiến cho chuyển đổi số quy hoạch đô thị tại Hà Nội. (Ảnh DIÊN KHÁNH)

“Bộ não số” cho đô thị thông minh

Thủ đô Hà Nội đang từng bước chuyển đổi, đầu tư hạ tầng công nghệ, tích cực chuyển đổi tư duy quản trị đô thị và quản lý quy hoạch, nâng cao chất lượng sống của người dân.

Các di tích, cảnh quan thiên nhiên, ao hồ cần có “đời sống của mình” trong không gian đô thị mới. (Ảnh VĂN HỌC)

Tích hợp yếu tố sinh thái vào từng lựa chọn

Ô nhiễm môi trường không chỉ là thách thức trước mắt, mà còn là lực cản lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững của Thủ đô. Vì vậy, quy hoạch tổng thể phải bảo đảm yêu cầu rất cao về phát triển xanh cũng như tạo dựng hệ sinh thái phong phú cho đô thị.

Lãnh đạo phường Hồng Hà giải đáp thắc mắc của người dân bị thu hồi đất tại hiện trường.

Thước đo của một Thủ đô vì con người

Hà Nội đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc đô thị mạnh mẽ. Song, phía sau những công trình mang tầm vóc quy hoạch là đổi thay trong đời sống của người dân, đặt ra yêu cầu phải giải quyết hài hòa bài toán phát triển và an cư.

Các yếu tố mang tính quyết định cho chuyển đổi xanh, như khoa học công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo… cần được đầu tư tương xứng. (Ảnh Thành Đạt)

Thế chân kiềng trong kỷ nguyên xanh

Lời toà soạn - Để đưa nông nghiệp Việt Nam bước vào kỷ nguyên xanh, điều cốt lõi là phải tái định hình vai trò của Nhà nước, doanh nghiệp và người nông dân trong một hệ sinh thái phát triển mới.