Định hướng chính sách cho mục tiêu Net Zero

Thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, tại Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26), Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải khí nhà kính ròng bằng "0" (gọi tắt là Net Zero) vào năm 2050. Cam kết này đã được tái khẳng định tại Hội nghị COP28 vào đầu tháng 12/2023 vừa qua, thể hiện Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
Công nghiệp điện gió trở thành một trong năm trụ cột phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Ảnh: Hoàng Hà
Công nghiệp điện gió trở thành một trong năm trụ cột phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bạc Liêu. Ảnh: Hoàng Hà

Cam kết và định hướng chiến lược

Phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2016 khoảng 317 triệu tấn CO2 tương đương, ước tính 513 triệu tấn vào năm 2020. Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đã đề ra lộ trình đạt Net Zero, theo đó sẽ đạt phát thải đỉnh với khoảng 539 triệu tấn CO2 tương đương vào năm 2035; sau đó sẽ tiếp tục giảm, đến năm 2050 tổng lượng phát thải khí nhà kính ước đạt 185 triệu tấn CO2 tương đương và sẽ được hấp thụ hoàn toàn bởi các hệ sinh thái tự nhiên. Trong đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2022, Việt Nam cũng cam kết đến năm 2030 sẽ tự nguyện giảm 15,8% phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (BAU) và giảm 43,5% nếu có sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế.

Cũng như ở hầu hết các nước trên thế giới, trong cơ cấu phát thải khí nhà kính của Việt Nam năm 2016, năng lượng là lĩnh vực có tỷ trọng phát thải lớn nhất, chiếm khoảng 65% tổng lượng phát thải; sau đó là các lĩnh vực, các quá trình công nghiệp (14,6%), nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất (13,9%) và chất thải (6%). Mục tiêu Net Zero đã được cụ thể hóa, phân bổ theo các ngành, lĩnh vực, đồng thời các định hướng chính sách cũng đã được xác định để triển khai thực hiện.

Trong lĩnh vực năng lượng, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 55/NQ-TW về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, bên cạnh bảo đảm an ninh năng lượng để phát triển kinh tế-xã hội, cần từng bước hạn chế, dừng phát triển điện than từ sau năm 2030, chuyển sang năng lượng sạch, năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió, mặt trời. Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) đề ra mục tiêu phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9-39,2% vào năm 2030; đạt 47% nếu các cam kết theo Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) được các đối tác quốc tế thực hiện đầy đủ, thực chất; đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5-71,5%. Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, đủ khả năng tích hợp, vận hành an toàn, hiệu quả nguồn năng lượng tái tạo quy mô lớn; phát triển hệ sinh thái công nghiệp năng lượng tái tạo, hình thành hai trung tâm công nghiệp, dịch vụ năng lượng tái tạo liên vùng. Chương trình hành động về chuyển đổi năng lượng xanh ngành giao thông vận tải cũng đã đề ra định hướng đến năm 2040, từng bước hạn chế, tiến tới dừng sản xuất các loại xe sử dụng nhiên liệu hóa thạch; đến năm 2050, 100% số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ sử dụng điện, năng lượng xanh.

Bên cạnh đó, việc sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng cũng cần tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 đề ra mục tiêu đạt mức tiết kiệm từ 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng toàn quốc, đồng thời giảm mức tổn thất điện năng xuống thấp hơn 6,0%.

Trong lĩnh vực nông nghiệp, định hướng chính là thực hiện nông nghiệp sinh thái, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải carbon thấp; tiếp tục bảo vệ và phát triển rừng, quản lý rừng bền vững. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Kế hoạch hành động giảm phát thải khí methane đến năm 2030; Kế hoạch quốc gia triển khai tuyên bố Glasgow về rừng và sử dụng đất đến năm 2030. Đặc biệt, Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 là một hình mẫu trên thế giới về phát triển nông nghiệp carbon thấp. Các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát triển rừng cũng đã được phê duyệt với mục tiêu tỷ lệ che phủ rừng duy trì ổn định ở mức 42%; diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt hơn một triệu ha.

Trong lĩnh vực các quá trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm công nghiệp, cần cải tiến, phát triển và ứng dụng công nghệ trong sản xuất vật liệu xây dựng; phát triển và sử dụng các loại vật liệu xanh; ứng công nghệ mới để giảm phát thải N2O trong công nghiệp hóa chất. Từng bước ứng dụng công nghệ thu giữ carbon; hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn để thúc đẩy phát triển tòa nhà xanh, khu đô thị xanh; giảm dần sử dụng các môi chất lạnh trong các hệ thống làm mát; thu hồi, tái sử dụng, tiêu hủy, tái chế môi chất lạnh.

Trong lĩnh vực chất thải, cần giảm phát sinh chất thải thông qua phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, thu phí theo khối lượng; đẩy mạnh tái chế thông qua cơ chế mở rộng trách nhiệm nhà sản xuất (EPR). Đồng thời, cần hạn chế chôn lấp, tăng cường xử lý chất thải kết hợp thu hồi năng lượng; sản xuất phân compost từ chất thải hữu cơ; đốt chất thải rắn để phát điện; sản xuất viên nén nhiên liệu từ chất thải rắn.

Giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật trong thời gian tới

Cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế tuần hoàn. Cần hướng dẫn và triển khai thực hiện hiệu quả các quy định về trách nhiệm, lộ trình và phương thức giảm phát thải khí nhà kính của Luật Bảo vệ môi trường 2020 và các văn bản dưới luật. Trong đó cần đặc biệt chú trọng phát triển thị trường carbon trong nước và mở rộng, kết nối với thị trường carbon quốc tế; thực hiện phân bổ hạn ngạch phát thải; xây dựng cơ chế trao đổi, bù trừ, cơ chế chứng nhận tín chỉ carbon; thiết lập sàn giao dịch tín chỉ carbon; xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV) về giảm phát thải. Cần xây dựng và thực hiện các kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính các ngành, lĩnh vực; thực hiện kiểm kê và kế hoạch giảm phát thải trong các cơ sở phát thải lớn.

Đối với lĩnh vực chính là năng lượng, cần sửa đổi Luật Điện lực để hoàn thiện chính sách về đầu tư, quy hoạch, điều hành giá điện, phát triển thị trường điện cạnh tranh; phát triển các nguồn điện sử dụng năng lượng tái tạo; xây dựng cơ chế đấu giá, đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư kèm giá điện; cụ thể hóa chính sách xã hội hóa đầu tư lưới điện truyền tải; xây dựng hệ thống truyền tải điện thông minh; cơ chế hợp đồng mua bán điện trực tiếp. Xây dựng và ban hành Luật về năng lượng tái tạo để khuyến khích các doanh nghiệp tham gia phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng mới; triển khai thực hiện thành công Quy hoạch điện VIII. Sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả năm 2010 để thúc đẩy giảm cường độ năng lượng của nền kinh tế, ban hành chế tài và các tiêu chuẩn, quy chuẩn bắt buộc về sử dụng hiệu quả năng lượng.

Cần khơi thông các nguồn tài chính xanh để thu hút đầu tư thông qua việc ban hành các tiêu chí và cơ chế xác nhận dự án xanh, từ đó thúc đẩy phát triển tín dụng xanh, trái phiếu xanh. Cần tận dụng mọi cơ hội mà JETP mang lại, đồng thời, chú trọng tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, tăng cường năng lực quản trị, để có thể hấp thụ, sử dụng hiệu quả các khoản vay, đầu tư cho phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Bên cạnh đó, cũng cần hoàn thiện chính sách để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực, là những yếu tố quan trọng cho quá trình chuyển đổi xanh.

Cam kết Net Zero là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với xu thế chung của thời đại. Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức, song cam kết Net Zero đã và đang nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, đồng thời cũng sẽ giúp huy động nguồn lực, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, góp phần quan trọng để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững trong thời gian tới.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.