Người phụ nữ nặng lòng với thung lũng da cam

​Tại căn hộ chung cư nhỏ ở TP Hồ Chí Minh, tôi từng chứng kiến một hình ảnh cảm động. Có một bà cụ dáng người nhỏ bé, mái tóc bạc trắng, lưng còng gập xuống đến mức phải tựa hẳn vào chiếc xe đẩy mới có thể đứng vững.

Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.
Bà Đạm Thư chia sẻ những câu chuyện về A Lưới với bạn bè.

Đó là nhà báo Nguyễn Hạc Đạm Thư. Bà đến để nhờ những người hàng xóm quen biết trong khu chung cư ủng hộ thêm cho đủ 5 triệu đồng gửi về một gia đình nghèo ở các xã A Lưới (TP Huế).

Từ trí thức Việt kiều Pháp đến duyên nợ với A Lưới

Thật lạ lùng, dù đã rời xa bàn viết từ lâu, khi đôi mắt đã mờ đục, đôi tai nghễnh ngãng và bước chân phải cậy nhờ vào chiếc xe lăn, nhưng bằng cách nào đó bà Đạm Thư vẫn giữ được sợi dây liên lạc bền bỉ với những bản làng xa xôi ở A Lưới. Rồi mỗi khi có thông tin về một mảnh đời khốn khó nào đó, bà lại lụi cụi đi “gõ cửa” khắp nơi. Không chỉ là tiền mặt, bà tận dụng mọi mối quan hệ cả đời tích lũy được để kết nối việc khám bệnh, lo chuyện học hành cho đồng bào. Thậm chí, để dành tiền ủng hộ bà con, người phụ nữ 92 tuổi đã từ chối chuyến nghỉ dưỡng mà con cháu tặng.

​Bà Đạm Thư là một trí thức gốc Hà Nội, cùng gia đình hồi hương từ Pháp để xây dựng đất nước sau năm 1954. Với vốn tri thức uyên bác và lòng nhiệt thành, bà trở thành Phó Trưởng ban Quốc tế Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, một nhà báo sắc sảo của tờ báo Phụ nữ Việt Nam. ​Cái duyên đến với mảnh đất trên đại ngàn Trường Sơn bắt đầu khi bà tham gia công trình nghiên cứu quốc tế có tên “Sự hồi sinh của thung lũng A Lưới sau bom đạn Mỹ và chất độc da cam” cùng nhà xã hội học Pháp Jacques Maitre. Bảy lần đi điền dã, hàng trăm đêm thức trắng giữa bản làng, bà đã tận mắt chứng kiến nỗi đau tột cùng của thung lũng chết.

Giai đoạn 1961-1971, vùng đất từng là không gian bình yên của đồng bào các dân tộc Pa Kô, Tà Ôi, Bru Vân Kiều, Cơ Tu…, đã bị biến thành kho chứa và trạm nạp chất độc hóa học khổng lồ của quân đội Mỹ. Đặc biệt, khu vực sân bay A So (xã Đông Sơn cũ, nay là xã A Lưới 4) được ví như tọa độ chết bởi một khối lượng dioxin khổng lồ. Chất độc da cam ngấm sâu vào lòng đất, chảy vào mạch nước, biến A Lưới thành vùng rốn da cam lớn nhất Việt Nam.

​A Lưới trong ký ức của bà Đạm Thư là những cánh rừng trơ trụi vì chất độc hóa học, là những sân bay quân sự loang lổ vết thương chiến tranh và đau đớn hơn cả là những phận người bị di chứng da cam bào mòn. Bà kể cho tôi nghe về những người đàn bà góa phụ, về những đứa trẻ sinh ra đã không vẹn hình hài. Chính sự kiên cường của đồng bào các dân tộc nơi đây trong chiến tranh và trong cả thời bình giữa cái nghèo bám riết như sương núi đã khiến bà luôn đau đáu một tâm nguyện. Đó là phải làm điều gì đó cho vùng đất này. ​Năm 2023, ở tuổi 89, khi người ta chọn nghỉ ngơi bên con cháu, bà Đạm Thư lại thực hiện một chuyến đi không tưởng. Bà cùng con gái bay ra Huế, rồi ngược đường lên A Lưới để hoàn thành cuốn sách ảnh Tiếng vọng Trường Sơn.

​Bà chia sẻ với tôi: “Tôi nay gần đất xa trời, phải làm để người trẻ thấy được A Lưới ngày xưa và nay”. Cuốn sách ấy được viết bằng những đồng lương hưu ít ỏi, bằng những tấm ảnh tư liệu quý giá bà lưu giữ suốt hàng chục năm. Đó không đơn thuần là một cuốn hồi ký bằng hình ảnh mà là sự tri ân của bà dành cho những nhà khoa học quốc tế và những người con của A Lưới như Anh hùng Kan Lịch, ông Hồ Ngọc Mỹ. Ông Hồ Ngọc Mỹ là một thầy giáo, chiến sĩ cách mạng người miền xuôi. Ông sinh năm 1923 tại Quảng Điền, Thừa Thiên - Huế cũ, nổi tiếng với việc gieo chữ và truyền bá văn hóa cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã A Lưới. Ông còn được biết đến là người đầu tiên sử dụng bộ chữ Tà Ôi để viết bản tin ở A Lưới vào năm 1959.

​Đọc những lá thư từ Mỹ của bà Sally, hay từ Canada của chuyên gia môi trường Wayne Dwernychuk gửi cho bà Đạm Thư, tôi mới hiểu tầm vóc của người phụ nữ nhỏ bé này. Bà chính là nhịp cầu nối những tấm lòng nhân đạo từ khắp thế giới về với thung lũng A Lưới. Cuốn sách của bà không bán, nó được biên dịch sang tiếng Anh, được tặng cho bạn bè quốc tế để tiếng vọng của đại ngàn được lan tỏa, để mọi người hiểu được về một A Lưới đi qua bom đạn chiến tranh vẫn đang nỗ lực hồi sinh từng ngày.

52.jpg
Bà Nguyễn Hạc Đạm Thư và tác giả.

Đi theo “Tiếng vọng Trường Sơn”

Theo ký ức của bà Đạm Thư, tôi đã trực tiếp tìm về A Lưới. Và tại đây, tôi mới thấu hiểu tại sao bà Đạm Thư lại nặng lòng với vùng đất này đến thế.

​Tôi đến thăm nhà bà Kan Đơm, một nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân người Pa Kô từng lập chiến công lừng lẫy trong trận đánh Đồi Thịt Băm năm 1969. Nhưng trước mặt tôi giờ đây là bi kịch của thời hậu chiến. Mười người con, hai người nhiễm chất độc da cam teo cơ, các cháu không có điều kiện học hết cấp 3. Hai năm trước, vì quá đau khổ và bế tắc trước khoản nợ vay ngân hàng để chữa bệnh cho chồng cũng là nạn nhân chất độc da cam, bà Kan Đơm đã khóc đến mù lòa. Bà Kan Đơm chua xót bảo: “Ở A Lưới này, hầu như nhà nào cũng là gia đình chính sách, nhà nào cũng có sổ hộ nghèo hoặc sổ trợ cấp chất độc da cam”.

Thế nhưng, bên cạnh những mảng màu u tối của di chứng da cam mà có lẽ phải mất nhiều thế hệ nữa mới có thể gội rửa hết, A Lưới hôm nay đang mạnh mẽ chuyển mình trong một diện mạo mới. Tôi đã thấy những lớp người trẻ Tà Ôi, Pa Kô sau khi tiếp thu tri thức từ miền xuôi đã chọn quay về bản làng, mang theo công nghệ và tư duy hiện đại để xây dựng quê hương. Và cũng có cả những người chọn A Lưới làm quê hương thứ 2 để sinh sống.

Tôi mang những hình ảnh A Lưới hôm nay về cho bà Đạm Thư. Ánh mắt bà trở nên rạng rỡ hẳn. Đôi bàn tay nhăn nheo của bà run run nắm lấy tay tôi: "Bà còn 10 triệu đồng tiết kiệm, anh hãy nhờ mua một con bò giống tặng gia đình Kan Đơm giúp bà”. Rồi ​giọng bà nghẹn lại: “Giá như bà còn nhiều thời gian và sức khỏe hơn”.

Dù không phải là người lính cầm súng trên chiến trường A Lưới năm xưa nhưng bà Đạm Thư đã cho tôi thấy một tinh thần chiến binh, đã và đang chiến đấu trận chiến cuối cùng của đời mình, trận chiến hỗ trợ những nạn nhân từ hậu quả kéo dài sau cuộc chiến. ​Chia tay bà, tôi mang theo cuốn sách “Tiếng vọng Trường Sơn” và lời dặn dò tâm huyết: “Hãy giúp cho người trẻ A Lưới hiểu và sống có trách nhiệm hơn với vùng đất ấy”.

​Giữa thành phố rực rỡ ánh đèn, tôi dường như vẫn nghe thấy tiếng gió đại ngàn Trường Sơn thổi về, nghe thấy tiếng lòng của một người phụ nữ nhỏ bé đang hòa nhịp cùng hơi thở của thung lũng A Lưới. Cuộc đời mỗi con người thường gắn bó máu thịt với một vùng đất nào đó. Có thể không phải là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, cũng chẳng phải nơi ta gửi thân xác lúc cuối đời. Đó là vùng đất đã để lại những dấu ấn sâu đậm về cảnh vật, về những phận người, để rồi ta cứ mãi mang theo trong tâm khảm như một phần hơi thở. Với nhà báo Nguyễn Hạc Đạm Thư, A Lưới chính là nơi bà đã dùng cả cuộc đời tận tụy để yêu thương, để cống hiến và bù đắp.

Có thể bạn quan tâm

Anh hùng LLVTND Đinh Hữu Thuần trong một lần được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Từ canh trời Tổ quốc đến góc thiền giữa trời Tây Bắc

​Gặp lại người lính ra-đa năm nào, Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Đinh Hữu Thuần, giờ đây là Thiền sư Thích Chánh Tuệ giữa mù sương Sa Pa, chúng tôi hiểu rằng: Sau cùng, vinh quang lớn nhất không phải là tấm huy chương lấp lánh trên ngực áo, mà là sự tự tại, bao dung trong một tâm hồn đã dâng hiến trọn vẹn cho Tổ quốc.

Quay tời thả “cá sắt” xuống dòng sông Năng.

Lặng lẽ Đầu Đẳng

Tôi mượn ý của nhà văn Nguyễn Thành Long trong tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” cũng để nói về những người làm nghề “gác” trạm khí tượng thủy văn ở Đầu Đẳng. Đã hơn 50 năm, tác phẩm "Lặng lẽ Sa Pa" ra đời nhưng ở Trạm thủy văn Đầu Đẳng (xã Ba Bể, Thái Nguyên) vẫn “ba không”: Không đường, không điện, không nước sạch.

Nghệ nhân Váng Vần Séng (trái) chơi đàn lìn xìn.

Đàn lìn xìn còn vang trên núi non

Thèn Hồng Quân dẫn tôi tới nhà ông Váng Vần Séng ở thôn Cốc Coọc, xã Pà Vầy Sủ, tỉnh Tuyên Quang. Ông là nghệ nhân chế tạo đàn lìn xìn - loại nhạc cụ dùng đệm cho các khúc hát dân gian của người Nùng. Đã lâu lắm mới lại có người hỏi đàn, ông nhớ người mua đàn một, nhớ điệu hát, tiếng đàn đến mười phần.

Đường lên khu A Trạm radar 485.

Vượt dốc thăm nhà trên núi của lính biển

Chỉ còn đúng một chuyến tàu cao tốc ra đảo Trà Bản (đặc khu Vân Đồn, Quảng Ninh) lúc chúng tôi tới. Những con tàu gỗ chở khách khác đã nép mình nơi góc cảng Cái Rồng. Trời đổ mưa từ sáng, gió ngoài vịnh Bái Tử Long cũng bắt đầu trở mình.

Cán bộ, chiến sĩ tàu 740 (Hải đoàn 129, Quân chủng Hải quân) được chở tới Nhà giàn DK1/20 để thực hiện bỏ phiếu sớm.

Lá phiếu chủ quyền trên sóng thềm lục địa

Những ngày đất liền vẫn đang trong giai đoạn chuẩn bị cho kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, thì trên Biển Đông, nhiều khu vực đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm. Năm nay, hành trình bỏ phiếu sớm cũng tiến hành ngay khi kỳ nghỉ Tết Nguyên đán vừa kết thúc.

Nhiệt huyết của những người lính ra khơi năm xưa còn chảy vào lớp người hôm nay ở Lý Sơn.

Nghĩa khí đất đảo hùng binh

Giữa mênh mang Biển Đông, hòn đảo vẫn lặng lẽ mà hiên ngang nơi đầu sóng ngọn gió, vừa là tiền đồn, vừa là chứng nhân cho hành trình mở cõi, giữ biển.

Những bản làng của đồng bào Pa Kô, Vân Kiều dọc đường biên giới.

Đi trong sương giá biên thùy

Có những chuyến đi để trở về, nhưng cũng có những chuyến đi để thấy mình “lớn” thêm trong sự nhỏ bé trước cuộc đời. Đêm 28 Tết Bính Ngọ, Hà Nội bắt đầu nồng nàn mùi nước lá mùi già, tôi lại chọn ngược gió, ngược sương để tìm về dải đất miền trung nắng cháy - nơi mà “Tết” là một khái niệm vừa thân thương, vừa xa xôi đến lạ lùng.

Kíp xuồng tàu Trường Sa 19 đang nhận hàng để đưa lên nhà giàn DK1/2 (bãi cạn Phúc Tần).

Đi về phía mặt trời (kỳ 1)

Từ cầu cảng KTQP Trường Sa (Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân, Thành phố Hồ Chí Minh) xuất phát, chúng tôi bắt đầu hải trình về nơi những bãi cạn trên thềm lục địa phía nam, trong chuyến thăm, chúc Tết theo thông lệ hằng năm. 

Trương Chấn Sang vẫn ngày ngày nỗ lực mang niềm tin và hy vọng đến cho những thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên khắp mọi miền Tổ quốc.

"Đi về phía nắng" từ bóng tối nghịch cảnh

Có những hạt mầm không may rơi vào kẽ đá, chịu đựng biết bao khắc nghiệt từ bão giông, nhưng khi vươn mình đón nắng lại trở thành nhành cây kiên cường nhất. Chàng trai sinh năm 1997 Trương Chấn Sang là một nhành cây như thế.

Anh Trần Thanh Quang (đứng giữa) lưu giữ nét tinh hoa ẩm thực Huế.

Ngọt thơm ký ức tìm về

Cứ độ Tết đến xuân về, trong mỗi gia đình xứ Huế luôn ngào ngạt hương thơm của các loại bánh mứt. Sự khéo tay, óc sáng tạo của người Huế được thể hiện qua từng đường nét và mùi vị bánh trái. Ánh nắng dịu nhẹ ở vùng đất cố đô xưa càng thêm bình yên qua từng câu chuyện về ẩm thực cung đình, bánh mứt dân gian.

Nhiều trẻ mắc chứng tự kỷ vui chơi với người thân tại khu vực Amehouse mà vợ chồng Vân Anh đã lập ra.

Giấc mơ về một khu vườn sáng

Vân Anh năm nay 40 tuổi, sống cách Hoàn Kiếm của Hà Nội chỉ hơn chục cây số. Chị từng là giám đốc điều hành của một công ty có hàng trăm nhân viên, quen với áp lực, nhịp sống gấp gáp và những quyết định lớn nhỏ mỗi ngày.

Biểu diễn trống đất kết hợp hát ví, hát giang của người Mường.

Về đất Tổ nghe “Toòng Tửng” cùng trống đất

Trống đất không phải là một chiếc trống da như chúng ta hình dung bình thường, có thể mang đi, mà thật sự là nhạc cụ được tạo tác từ lòng đất. Còn Toòng Tửng là một nhạc cụ bộ gõ. Toòng Tửng đi cùng với trống đất mới tạo nên bộ nhạc cụ hoàn chỉnh.

Miến dong ở Côn Minh vẫn được phơi nắng theo phương pháp truyền thống.

Thương hiệu dong riềng trên đất sỏi

Khi sương muối giăng kín đỉnh Áng Toòng, đất Côn Minh (tỉnh Thái Nguyên) bừng tỉnh trong nhịp sống hối hả nhất của năm. Trên những sườn đồi cằn sỏi đá, cây dong riềng “ăn sương, uống gió” vẫn bung hoa đỏ. Những củ dong xù xì qua đôi bàn tay cần cù tạo nên những sợi miến dai ngon danh bất hư truyền.

Nghề nuôi thủy sản tại vịnh Xuân Đài đang gượng dậy sau thiên tai.

Bắt đầu lại với những điều chưa bao giờ

Chưa bao giờ người dân Phú Yên và Quy Nhơn cũ (nay là Gia Lai và Đắk Lắk) lại xuống giống vụ đông xuân muộn thế. Chưa bao giờ những chợ tôm hùm ở Sông Cầu (Đắk Lắk) mùa này vắng thế. Chưa bao giờ hai nơi này lại nhiều ngôi nhà phải xây sửa đến thế, dù đang vào mùa mưa...

Phạm nhân T.T.T. chạy lại đỡ mẹ già trên sân khấu chương trình.

Thắp sáng những ước mơ hoàn lương

Phía sau mỗi bản án đều là một cuộc đời. Khi sai lầm được nhận thức đúng và đủ, khát vọng làm lại sẽ thay thế những gam mầu tối trong tâm tưởng mỗi con người. Nhờ những chính sách khoan hồng của Nhà nước, ngày về trong giấc mơ mỗi đêm của phạm nhân T.T.T. đã không còn xa.

Giờ học tại điểm trường Coọc Mu.

Coọc Mu ngày ấy và bây giờ

Từng là “ốc đảo” bị lãng quên giữa đại ngàn, nơi ấy hơn 20 năm về trước, hàng chục số phận bị căn bệnh phong quái ác hành hạ, thôn Coọc Mu, xã Hoàng Trĩ (tỉnh Bắc Kạn cũ), nay là xã Đồng Phúc (tỉnh Thái Nguyên) đã hồi sinh.

Anh Ngô Quý Đức (bên trái) kiểm tra quy trình tạo tác liễn làng Chuồn.

Hồi sinh liễn làng Chuồn

Nhắc đến làng Chuồn (tên chữ là An Truyền) thuộc phường Mỹ Thượng, thành phố Huế, người ta thường nghĩ ngay đến một nét đẹp văn hóa độc đáo mà nay đã thất truyền, đó là nghề làm liễn Tết thủ công. Bằng sự tận tâm, tỉ mỉ của những người yêu văn hóa, từng bức liễn làng Chuồn đã được hồi sinh.

Điều còn lại sau chiến tranh

Điều còn lại sau chiến tranh

Cuộc đời lặng lẽ trong chờ đợi của người lính cuối cùng Trung đội Mai Quốc Ca, nhắc chúng ta rằng, lịch sử không chỉ được làm nên bởi những khoảnh khắc rực rỡ, mà còn bởi những năm tháng rất dài sau đó.

Khoảnh khắc bà Nguyễn Thị Bích cười tươi khi đón di ảnh của người bạn đời.

Niềm vui ngày các Anh về

Gần 60 năm đã trôi qua, ba cô con gái cũng đều đã lên chức bà nội, bà ngoại, nhưng chưa ngày nào cụ bà Nguyễn Thị Bích nguôi nỗi nhớ người bạn đời của mình. Năm 1967, anh Bí thư Đoàn Thanh niên xã Nam Ninh, huyện Nam Trực (tỉnh Nam Định cũ) Đặng Xuân Đạo tình nguyện lên đường “vào B” đánh giặc rồi mãi mãi không trở về.