Cứu sông ngòi ô nhiễm - cách nào?

Sông ngòi bị ô nhiễm nặng nề là thực trạng nhức nhối diễn ra từ nhiều năm qua trên cả nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân. Dù đã có nhiều dự án cải tạo, cải thiện nguồn nước được triển khai, song, hầu hết các dự án đều chưa thật sự phát huy hiệu quả. Cách nào để các dòng chảy thật sự là nguồn sống trong lành cho môi trường và con người? Đó vẫn đang là câu hỏi lớn treo lơ lửng...
Sông Cầu đoạn chảy qua Bắc Ninh phải tiếp nhận nhiều nguồn nước thải chưa được xử lý từ các làng nghề. Ảnh: VĂN CHƯƠNG
Sông Cầu đoạn chảy qua Bắc Ninh phải tiếp nhận nhiều nguồn nước thải chưa được xử lý từ các làng nghề. Ảnh: VĂN CHƯƠNG

Kỳ 1: Khi dòng sông không... chảy

Sông ngòi, kênh rạch nghẽn dòng, sền sệt mầu đen và ngập rác thải... là hình ảnh có thể bắt gặp ở nhiều địa phương như Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam… Dẫu cơ quan chức năng đã thực hiện các giải pháp, song vẫn chưa đủ để “chữa bệnh” cho những con sông đang hấp hối.

Lững lờ những “dòng đen”

“Lâu lắm rồi chưa được thấy một ngày sông thôi nặng mùi”, ông Lê Văn Việt, người dân ở phường Láng Thượng (Đống Đa, Hà Nội) đã thốt lên như thế khi nói về Tô Lịch, con sông xưa kia từng đi vào thơ ca, nhạc họa. Trong các tài liệu địa chí, lịch sử đều viết rằng Tô Lịch là một tuyến sông quan trọng, là một cạnh của “tứ giác nước Thăng Long” bao quanh kinh đô Thăng Long xưa, vừa là nơi người dân đánh bắt cá, vừa là tuyến đường vận tải thủy. Vào thời cụ thân sinh ra bố ông Việt, người dân trong khu vực vẫn tắm táp, gánh nước về tưới cho những vườn rau húng xanh ngát. Giờ đây, Tô Lịch chẳng khác gì dòng sông chết, lúc nào cũng một mầu nước đen, dẫu ngày nắng hay ngày mưa.

Ở Hà Nội, sông Sét, Kim Ngưu, Nhuệ cũng có số phận tương tự. Đặc biệt, sông Nhuệ còn bị lấn chiếm, đổ phế thải, vật liệu xây dựng làm nghẽn đặc dòng nước. Ở địa phận tỉnh Hà Nam, sông Nhuệ cũng được “tiếp thêm” nguồn nước thải chưa được xử lý triệt để. Suốt nhiều năm, phóng viên đã làm việc với các cơ quan chức năng của huyện Thanh Oai, huyện Thanh Trì, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời chung chung. Đến nay vẫn chưa có một phương án tối ưu khơi dòng Nhuệ Giang.

Sông Đáy đoạn chảy qua Hà Nội bắt nguồn từ xã Vân Nam (huyện Phúc Thọ), qua một số quận, huyện của Hà Nội, chảy xuống Hà Nam, rồi thành ranh giới tự nhiên giữa Ninh Bình và Nam Định trước khi đổ ra Biển Đông tại cửa Đáy cũng chẳng khả quan hơn. Theo báo cáo của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam), nước sông Nhuệ và sông Đáy tại cống Nhật Tựu (huyện Kim Bảng) cho thấy nồng độ chất ô nhiễm amoni đều vượt ít nhất là 53 lần quy định, còn hàm lượng oxy hòa tan trong nước đều thấp hơn ít nhất 3,3 lần giới hạn cho phép.

Bắc Hưng Hải, công trình thủy lợi quan trọng, từng nổi tiếng một thời, đảm nhận việc tưới tiêu cho cả một vùng trồng hoa màu rộng lớn thuộc bốn địa phương Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương cũng đã bị “nhuộm mầu” đen kịt, ngập đầy rác thải.

Sông Cầu, Ngũ Huyện Khê trở thành nỗi nhức nhối của người dân ở Bắc Ninh mà bao năm không được “chữa trị” hiệu quả. Ở các địa phương khác, hệ thống sông ngòi, kênh rạch cũng đang oằn mình vì phải tiếp nhận nguồn nước ô nhiễm: sông Phó Đáy (Vĩnh Phúc), sông Trà Giang, sông Mã (Thanh Hóa), Kênh Ba Bò (Bình Dương), lưu vực sông Đồng Nai, kênh Tham Lương-Bến Cát-rạch Nước Lên chảy qua nhiều quận của Thành phố Hồ Chí Minh…

Hệ thống sông ngòi, kênh rạch có tầm quan trọng vô cùng to lớn đối với đời sống con người, nhưng vì sao từng ngày, từng giờ bị đầu độc? Theo ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó Cục trưởng Quản lý Tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường), có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng báo động như hiện nay, trong đó, nước thải sinh hoạt hiện được xác định là nguồn gây ô nhiễm chính đối với các nguồn nước, đặc biệt là các lưu vực sông quan trọng. Đây là nguồn ô nhiễm lớn nhất và khó quản lý nhất. Đối với nước thải công nghiệp, mới kiểm soát và xử lý khoảng 89% lượng nước thải trong tổng số 280 khu công nghiệp; đối với các cụm công nghiệp, tỷ lệ này vẫn đang ở mức thấp (chỉ có khoảng 16,8% trong tổng số 698 cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đi vào hoạt động). Một nguồn ô nhiễm khá nghiêm trọng bởi chứa nhiều hóa chất độc hại song lại hầu như chưa được xử lý là nước thải từ các làng nghề, được đổ trực tiếp ra hệ thống kênh rạch chung hoặc ra sông, tác động trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt và gây ô nhiễm không khí, làm giảm chất lượng sống của người dân nhiều địa phương có làng nghề.

Một thách thức lớn nữa, theo lãnh đạo Cục Quản lý Tài nguyên nước, đó là nước thải từ hoạt động chăn nuôi và trồng trọt. Đến hết năm 2023, cả nước có khoảng 3.308 trang trại trồng trọt, 12.349 trang trại chăn nuôi, 133 trang trại lâm nghiệp, 1.810 trang trại nuôi thủy sản, 2.060 trang trại tổng hợp. Lượng nước thải trong hoạt động chăn nuôi ước tính là 260,48 triệu m3 (tăng 4,5% so năm 2022). Đáng lo ngại, nước thải trồng trọt có chứa hóa chất bảo vệ thực vật, phân bón, là thành phần độc hại cho môi trường và sức khỏe con người. Ước tính mỗi năm có khoảng 70.000 kg và hơn 40.000 lít thuốc trừ sâu cùng khoảng 70.000 kg vỏ bao hóa chất không được xử lý xâm nhập vào môi trường, làm gia tăng mức độ ô nhiễm nguồn nước.

Cùng với sự gia tăng các nguồn gây ô nhiễm, theo nhiều chuyên gia phân tích, biến đổi khí hậu và việc thiếu các công trình có chức năng điều tiết, tạo dòng chảy cho các con sông làm cho tình trạng hạn hán, thiếu nước sông gia tăng, khiến cho ô nhiễm càng trở nên nghiêm trọng. Thêm vào đó, việc người dân thiếu ý thức xả chất thải bừa bãi vào các kênh mương, sông ngòi làm tắc nghẽn dòng chảy, khiến cho việc tiêu thoát nước càng khó khăn hơn.

Đoạn sông Nhuệ chảy qua huyện Thanh Trì vừa ô nhiễm, vừa bị lấn chiếm. Ảnh HẢI MIÊN

Đoạn sông Nhuệ chảy qua huyện Thanh Trì vừa ô nhiễm, vừa bị lấn chiếm. Ảnh HẢI MIÊN

Căn bệnh mạn tính và mục tiêu... trên giấy

Việc cải tạo, xử lý ô nhiễm các dòng sông, kênh rạch chưa bao giờ là dễ dàng. Nhiều con sông chỉ được “chẩn trị” một thời gian rồi bị bỏ rơi, lại có con sông càng được cải tạo thì càng ô nhiễm.

Có thể lấy câu chuyện của con sông Cầu là thí dụ. Ngày 28/7/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 174/2006/QĐ-TTg, phê duyệt “Đề án Tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái, cảnh quan lưu vực sông Cầu” (gọi tắt là Đề án bảo vệ sông Cầu) với quan điểm giữ gìn chất lượng nước đi đôi bảo đảm đủ khối lượng nước, mục tiêu đến năm 2020 đưa “sông Cầu trở lại trong sạch”. Ngay sau đó, Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Cầu được thành lập để chỉ đạo, điều phối liên ngành, liên vùng, thống nhất thực hiện Đề án.

Tại Hội nghị tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án bảo vệ sông Cầu tổ chức vào tháng 12/2020, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, ngoài những kết quả đạt được, vẫn còn không ít vướng mắc, như: vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Cầu vẫn diễn biến phức tạp; các đơn vị sản xuất, kinh doanh hoạt động vi phạm với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, nhằm đối phó với các cơ quan chức năng; ý thức trách nhiệm của một bộ phận lãnh đạo các cấp chính quyền còn chưa cao, còn nặng ưu tiên phát triển kinh tế mà xem nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường.

Cơ quan chức năng xác định, lưu vực sông Cầu có hơn 4.000 nguồn thải là cơ sở sản xuất, kinh doanh, cụm, khu công nghiệp, làng nghề, bệnh viện, riêng tỉnh Bắc Ninh có gần 1.000 nguồn thải và nước thải từ làng nghề là một trong những tác nhân chính gây suy giảm chất lượng môi trường nước mặt. Từ đó đến nay, nước mặt sông Cầu vẫn chưa được cải thiện, gây bức xúc cho người dân sinh sống tại Bắc Ninh. Ông Nguyễn Văn Lai, người dân làng nghề giấy Phong Khê (thành phố Bắc Ninh) chia sẻ: “Có lúc, vì ô nhiễm, ngột ngạt, tôi ao ước thôi không giàu nữa!”. Nhiều người dân chung nỗi niềm, khi hằng ngày phải sống trong cảnh khói bụi và sông Ngũ Huyện Khê ô nhiễm trầm trọng.

Tại Hà Nội, nhiều năm qua, các cơ quan chức năng thực hiện các biện pháp giảm ô nhiễm hệ thống sông, hồ nội đô như kè bờ, thu gom một phần nước thải sinh hoạt, song, cũng chưa đem lại hiệu quả rõ rệt. Lý giải nguyên nhân, ông Ngô Thái Nam, Phó Chi cục trưởng Bảo vệ môi trường Hà Nội (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội), cho biết:

Mỗi ngày, 90% của khoảng 400.000 m3 nước thải sinh hoạt và hơn 1.000 m3 rác thải không hề được xử lý, đổ thẳng vào các ao hồ, sông ngòi. Trong khi đó, Dự án nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (xây dựng tại địa bàn huyện Thanh Trì) dự kiến bàn giao năm 2022, hiện vẫn chưa đi vào hoạt động. Bốn dự án khác tại Hà Đông, Sơn Tây, lưu vực tả sông Nhuệ và Yên Sở mới chỉ ở giai đoạn triển khai thủ tục đầu tư.

Cũng theo ông Ngô Thái Nam, nguồn lực đầu tư cho cải thiện môi trường sông ngòi trên địa bàn thành phố còn hạn chế. Theo quy hoạch chung của thành phố có xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tập trung quy mô lớn, bảo đảm xử lý toàn bộ 100% lượng nước thải. Tuy nhiên, ngân sách của thành phố chưa đáp ứng được, nên những mục tiêu, công trình hết sức thiết yếu với đời sống dân sinh đó vẫn chỉ tồn tại trên... giấy!

Trước vấn đề này, PGS, TS Đào Trọng Tứ, Trưởng ban điều hành Mạng lưới sông ngòi Việt Nam lý giải thêm: Nguyên nhân chính là thiếu nguồn lực và sự quyết tâm của chính quyền địa phương. “Tôi xin nói rằng, nếu thành phố Hà Nội mà quyết tâm thì chắc chắn ít nhất sẽ cải tạo được sông Tô Lịch từ lâu rồi. Hà Nội là Thủ đô của cả nước, phải thực hiện trước. Chúng ta có hệ thống di sản sông, nhưng đã không gìn giữ và bảo vệ tốt để di sản ấy phát huy giá trị”.

(Còn nữa)

Kênh Bắc Hưng Hải bị ô nhiễm trầm trọng. Ảnh: THANH HÀ

Kênh Bắc Hưng Hải bị ô nhiễm trầm trọng. Ảnh: THANH HÀ

Kỳ 2: "Cắt ngọn" hay "cải tạo gốc"?

Có thể bạn quan tâm

Chí sĩ - nhà báo kiệt xuất Huỳnh Thúc Kháng, một đời Vì Nước Vì Dân.

KHÍ CHẤT BÁO CHÍ HUỲNH THÚC KHÁNG

Bức thư cụ Huỳnh Thúc Kháng viết trước khi mất gửi Hồ Chủ tịch có câu: “Tôi bệnh nặng chắc không qua khỏi. Bốn mươi năm ôm ấp độc lập và dân chủ, nay nước đã độc lập, chế độ dân chủ đã thực hiện, thế là tôi chết hả...”.

Tiếng chiêng không thể thiếu trong lễ cúng thần của người Pa Kô ở Quảng Trị.

Tiếng chiêng mang hồn núi

Với người Pa Kô, Vân Kiều trên đỉnh Trường Sơn, chiêng chưa bao giờ chỉ vang lên trong những ngày hội. Tiếng chiêng tiễn người về với núi, gọi người trở về với buôn làng, nối ký ức của người già với bước chân của lớp trẻ. Nghệ nhân dân gian Kôn Hơm (xã Tà Rụt, Quảng Trị) nói: Giữ được tiếng chiêng giữa đại ngàn là giữ lại một phần ký ức, hồn cốt của những bản làng nơi miền Tây Quảng Trị này.

Sản phẩm xuồng, ghe mi-ni người dân đóng bán cho du khách.

Mùa nước nổi ở làng nghề đóng xuồng trăm tuổi

Chúng tôi men theo các cánh đồng ngập nước tỉnh Đồng Tháp. Thỉnh thoảng xuất hiện vài chiếc xuồng đi đặt dớn, giăng lưới bắt cá. Giờ đây, khi các tuyến đường nhựa, đường bê-tông ngày càng được đầu tư, mở rộng, ghe xuồng tại các nhánh sông, trên đồng cũng thưa dần.

Việc lần đầu “sân khấu hóa” lòng hồ Nà Hang với chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp công nghệ và văn hóa bản địa cùng sự tham gia của người dân địa phương mở ra hướng mới trong phát triển sản phẩm du lịch cho vùng cao này.

Đánh thức “Long mạch” Nà Hang

Nà Hang (Tuyên Quang), cái tên gợi về một miền cao không còn quá xa vì cách trở địa lý, nhưng cũng chẳng thật gần bởi vẫn còn đó những vỉa tầng nguyên sơ và thu hút mà không dễ gì có thể khám phá trong một khoảng thời gian hữu hạn. Sắc màu văn hóa, cảnh quan kỳ vĩ và chút hư ảo từ truyền thuyết xưa tạo nên chất liệu quý giá để Nà Hang hôm nay kể câu chuyện riêng có theo cách thức kết nối được với thế giới.

Nhiều đoạn kênh của công trình Bắc Hưng Hải đang bị ô nhiễm nặng. Ảnh: Minh Khang

Bắc Hưng Hải - Khắc khoải ngày được hồi sinh

Những năm 60, 70 của thế kỷ trước, Bắc Hưng Hải được xây dựng, trở thành niềm tự hào của ngành thủy lợi với sứ mệnh đưa dòng nước ngọt về đánh thức những cánh đồng, góp sức làm nên những mùa vàng trù phú vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Tiếc rằng, giờ đây dòng nước mát lành ấy đang bị ô nhiễm, nhiều đoạn chỉ còn một màu nước đen kịt, rác thải bủa vây.

Một chiếc ví phủ bùn đất, có thể chứa những manh mối vô giá về các anh hùng liệt sĩ vô danh.

Hành trình kỷ vật từ lòng đất sâu

Ngày 26/7, trưa nắng trên khu vực lô cao-su 97 (xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai), Đại tá Nguyễn Thanh Phong, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Đồng Nai, thắp hương trước ba hầm mộ, rồi quay ra bảo: “Mong các chú các bác phù hộ cho thêm chỉ dẫn, tìm kiếm được thêm di vật, còn xác minh được danh tính đưa các liệt sĩ về với người thân”.

Nghệ nhân Lê Thị Kề (trái) hướng dẫn cách đan võng ngô đồng.

Thắp lại lửa nghề trên đảo ngọc

Cây ngô đồng, ngày càng sinh sôi, nảy nở quanh đảo Cù Lao Chàm, đã trở thành loài cây đặc hữu của xã đảo Tân Hiệp, thành phố Đà Nẵng. Song, nghề thủ công truyền thống đan võng ngô đồng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi tên vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, lại có thể trôi vào quá vãng, nếu không có biện pháp gìn giữ, phát huy.

Hợp tác xã Chè sạch Đông Trường Sơn hình thành vùng chè đặc sản và thay đổi diện mạo cao nguyên Kon Plông, Quảng Ngãi.

Khát vọng định danh trà Trường Sơn Đông ra thế giới

Vượt đèo Violắk, giữa mênh mang núi rừng Trường Sơn Đông, những đồi chè xanh trải dài theo triền dốc hiện ra giữa cao nguyên Kon Plông (tỉnh Quảng Ngãi). Gần tám năm gây dựng, cùng sức người bền bỉ, từ những gốc chè đầu tiên bén rễ nơi đất lạnh nay đang dần hình thành vùng chè đặc sản.

Chợ cá Tam Tiến, xã Tam Xuân nhộn nhịp nhờ nguồn lợi hải sản dồi dào. Ảnh: Anh Quân

Rạn Bà Đậu đang hồi sinh

Năm 2022, Tổ cộng đồng bảo vệ nguồn lợi thủy sản rạn Bà Đậu ở xã Tam Xuân, thành phố Đà Nẵng được thành lập theo cơ chế đồng quản lý của Luật Thủy sản 2017. Qua hơn bốn năm hoạt động, với sự tham gia chủ yếu của người dân địa phương, Tổ đã cùng chung tay bảo vệ, giữ gìn hơn 64 ha mặt nước. Nhờ thành quả ấy, đến nay, các bãi san hô nơi đây dần phục hồi và đón nhận sự trở lại cư ngụ của nhiều loại hải sản có giá trị.

Ông Hoàng Ngọc Bích bên tấm bia ghi danh sách các đồng đội ngã xuống tại chiến trường Quảng Trị. Ảnh: NVCC

Kỳ 2: Những đôi chân không mỏi

Hành trình trả lại tên tuổi cho những anh hùng, liệt sĩ hy sinh vì Tổ quốc đang được thực hiện gấp gáp, với tinh thần và trách nhiệm cao nhất. Trong nhiều năm, không ít thương, bệnh binh trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường cũng đã âm thầm tìm kiếm thông tin, kết nối, phối hợp cơ quan chức năng trả lại tên cho đồng đội, góp sức đưa hài cốt liệt sĩ về với quê hương, gia đình.

Hàng nghìn mẫu xương được bảo quản nghiêm ngặt trong phòng lưu mẫu.

Trả lại tên cho những người anh hùng

Hưởng ứng Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, những ngày này, các phòng thí nghiệm tại Trung tâm Giám định ADN thuộc Viện Sinh học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) luôn vận hành với nhịp độ khẩn trương.

Quy tập hài cốt liệt sĩ được tìm thấy tại Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh).

Kỳ I: Thần tốc với tất cả tấm lòng

Hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2027), với quy mô quốc gia, “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” (Chiến dịch 500 ngày đêm) đã và đang huy động sự vào cuộc đồng bộ từ quân đội, chính quyền địa phương và sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học, cựu chiến binh, thân nhân liệt sĩ…

Đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tỉnh Tuyên Quang đang thực hiện khoan phá đá tại điểm cao 685 vào sáng 13/7/2026. Nơi đây nghi là một cửa hang bị pháo đánh sập và có khả năng vùi lấp bộ đội của chúng ta.

Tìm đồng đội dưới "Lò vôi thế kỷ"

Hơn bốn thập kỷ đã trôi qua kể từ khi nổ ra cuộc chiến tranh biên giới, hành trình tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại chiến trường Vị Xuyên xưa (nay thuộc xã Thanh Thủy, tỉnh Tuyên Quang) vẫn đang được các cán bộ, chiến sĩ Đội tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ thuộc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Tuyên Quang (Quân khu 2) bền bỉ tiếp nối.

Đà Nẵng triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tại Nghĩa trang liệt sĩ Hòa Tiến.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Tháng 7, giữa những ngày nắng như đổ lửa ở Đà Nẵng, lực lượng thu nhận mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ vẫn miệt mài làm việc tại các nghĩa trang liệt sĩ. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là thêm một niềm hy vọng xác định danh tính các liệt sĩ còn thiếu thông tin, đưa các anh trở về với gia đình, quê hương. Đó cũng là ý nghĩa nhân văn sâu sắc của “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, góp phần tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Du khách nhí bên đầm sen ở Sơn Mỹ hôm nay. Ảnh: Hạnh Đỗ

Sen trên đất lửa

Mỗi sớm hè, đầm sen ở xóm Khê Thuận (xã Tịnh Khê, tỉnh Quảng Ngãi) lại rộn rã tiếng nói, cười. Người đến chụp ảnh. Người ngồi lặng bên bờ hít hương thơm còn vấn vít hơi sương. Thi thoảng có khách đường xa ngạc nhiên hỏi vì sao giữa vùng đất cát ven biển lại có một đầm sen rộng đến vậy. Rồi bất ngờ khi biết những bông sen đang xòe cánh này chỉ cách Khu chứng tích Sơn Mỹ chừng 1 km. Hơn nửa thế kỷ trước, trên vùng đất này là tiếng súng, tiếng khóc ai oán. Hôm nay, ở nơi từng là đất chết ấy, sen đang nở.

Hiện sản xuất của nông hộ thường nhỏ lẻ, phân tán và mang nặng tính kinh nghiệm. Ảnh: PHÚ TÂY

Hiểm họa từ “cái chết từ từ”

Có một câu hỏi, vì sao sau nhiều năm siết quản lý, thực phẩm không bảo đảm an toàn vẫn len lỏi từ ruộng đồng tới chợ, rồi xuất hiện trên mâm cơm người dân mỗi ngày?

Vẻ đẹp Lý Sơn, Quảng Ngãi. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

QUA MIỀN CỬA BIỂN

Người ta ví miền trung nước ta như cái ban-công của bán đảo Đông Dương nhìn ra biển, nơi có tuyến hàng hải đông đúc thứ nhì thế giới.

Ông Vũ Kim Điều, chiến sĩ Điện Biên kể về trận đánh mở màn vào “cánh cửa thép Him Lam” trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Nén tâm hương dưới trời Tây Bắc

Cách trung tâm chỉ huy của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ 2,5 km về phía Đông Bắc, chính là nơi ghi dấu trận đánh mở màn của bộ đội ta trong Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử.

Các cựu tù trong một lần ra thăm Côn Đảo.

“Địa ngục trần gian” và vùng ký ức bi tráng

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong tâm trí những cựu tù Côn Đảo (nay thuộc Đặc khu Côn Đảo, Thành phố Hồ Chí Minh) ký ức về những năm tháng đói khổ, đớn đau vì bị giam cầm, tra tấn nơi “địa ngục trần gian” vẫn còn nguyên vẹn.

Anh Duyệt chia sẻ về hành trình sưu tầm những vỏ bom lớn.

Kể chuyện hòa bình bằng kỷ vật chiến tranh

Rất nhiều người đã lặng lẽ, dày công sưu tầm các hiện vật gắn với thời “mưa bom bão đạn”. Đó không chỉ là cách gìn giữ ký ức về tinh thần của cha ông ta trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại, mà còn hướng đến giáo dục thế hệ hôm nay biết trân trọng giá trị của hòa bình.

Sinh viên Đại học Sư phạm Hà Bắc trao đổi quà lưu niệm với sinh viên Việt Nam.

Hào khí thanh xuân trên dặm dài Hành trình đỏ

“Sui, sui, sui sui sui, suiii”… Cho tới thời điểm bước lên máy bay rời khỏi Côn Minh (Trung Quốc), trong đầu tôi vẫn âm vang tiếng hô của đoàn sinh viên Việt Nam, hòa cùng những người bạn dân tộc Di. Hào sảng, gắn kết và tràn ngập tiếng cười.

Nhà giàn thế hệ đầu tiên thiết kế dạng pông-tông đóng trên bãi cạn Phúc Tần. (Ảnh tư liệu)

Nhà giàn DK1 - Biểu tượng tinh thần thép

Gần 40 năm qua, hệ thống Nhà giàn DK1 sừng sững giữa biển trời như cột mốc khẳng định chủ quyền thềm lục địa thiêng liêng của Việt Nam. Trong chuyến vượt biển trước thềm xuân, chúng tôi đã có cơ hội tìm gặp những nhân chứng để ngược thời gian trở về giai đoạn ban đầu xây dựng nên “thành đồng” trên thềm lục địa phía nam Tổ quốc.

Chiến sĩ Nhà giàn DK1/11 đón đại biểu lên thăm và làm việc.

Những bông hoa trên sóng

Các Nhà giàn DK1 (Tiểu đoàn DK1) không chỉ là pháo đài, cột mốc trên biển mà còn là biểu tượng của ý chí và lòng yêu nước. Nơi đó, mỗi chiến sĩ luôn khắc cốt ghi tâm câu nói của cha anh đi trước: “Bão tố có thể bẻ cong sắt thép nhà giàn, nhưng không thể bẻ cong ý chí người lính DK1”.

Du khách tham gia chương trình du lịch học tập trên đồng muối Sa Huỳnh.

Tình người làng muối

Dọc ven biển, nơi nước gặp đất, sóng gặp phù sa, hàng vạn diêm dân vẫn lặng lẽ chắt chiu từng chút nước, lấy cái khắc nghiệt của thiên nhiên mà hóa thành hạt mặn cho đời. Không đơn thuần là một nghề, với họ muối là sự tiếp nối, là tình yêu và cách tri ân vùng đất đã nuôi dưỡng gia đình qua bao thế hệ.

GS Hồ Ngọc Đại và nhà giáo Nguyễn Trung Chính (bên phải) - hai người thầy tóc bạc vẫn hết lòng hướng về trẻ thơ.

Những người thầy tóc bạc

Mới đây, Nhân Dân cuối tuần nhận được một lá thư dài viết tay với nét bút gọn, khẳng khái của một nhà giáo ở thành phố Hải Phòng.