Cú "quay xe" ngoạn mục

Nghệ An là một trong những địa phương có nhiều lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Sau nhiều năm bôn ba xứ người, không ít cá nhân quyết định về nước lập nghiệp, trở thành những tấm gương làm kinh tế giỏi.

Anh Lê Lương Nguyên (ngoài cùng bên phải) trao đổi với lao động trong xưởng.
Anh Lê Lương Nguyên (ngoài cùng bên phải) trao đổi với lao động trong xưởng.

Từ người làm thuê trở thành đối tác

Năm 2007, nhờ thi đậu chứng chỉ tiếng Hàn, anh Lê Lương Nguyên (sinh 1982, xã Nam Đàn, Nghệ An) được nhận sang Hàn Quốc làm lao động phổ thông. Ngoài thời gian làm việc, tăng ca ở xưởng, anh còn dành thời gian học thêm và lấy được chứng chỉ tiếng Hàn ở Trung tâm Hỗ trợ lao động Việt Nam tại Hàn Quốc. Thu nhập mỗi tháng của Nguyên khoảng 1.200 USD, anh cũng được ông Park Je Min - Chủ tịch Tập đoàn thang máy Geo Chang - tin tưởng, quý mến. Anh Nguyên kể, so những lao động cùng lĩnh vực, anh được ông chủ trả lương cao hơn 200 USD, chưa kể khoản phụ cấp làm thêm giờ. Thế nhưng, anh vẫn ấp ủ dự định về nước lập nghiệp.

Năm 2010, trong một lần về quê, do đã có bằng đại học sư phạm kỹ thuật và chứng chỉ tiếng Hàn (đủ điều kiện để làm giáo viên dạy tiếng Hàn), anh Nguyên tham gia phỏng vấn tuyển dụng giảng viên Trường cao đẳng Kỹ thuật Công nghiệp Việt Nam-Hàn Quốc. Trúng tuyển, anh nhanh chóng quay lại Hàn Quốc giải quyết công việc để về lại quê hương. Mặc dù rất tiếc một người lao động giỏi chuyên môn kỹ thuật, nhưng ông Park Je Min đã ủng hộ quyết định của anh, kèm theo lời chúc may mắn.

Ở trong nước, ngoài giảng dạy tại trường, Nguyên còn mở trung tâm dạy tiếng Hàn. Có thời điểm, trung tâm của anh lên đến 200 học viên. Khi ông Park sang Việt Nam công tác, anh mạnh dạn đề nghị ông Park giúp mình trở thành nhà cung cấp bu-lông, ốc vít cho tập đoàn của ông. "Lúc đầu ông Park sợ tôi không làm được vì trong vùng thiếu nhà máy phụ trợ; hạn chế về nguồn nguyên liệu thép, nhất là thép có hàm lượng carbon cao; máy móc phải gửi từ Hàn Quốc về… Tôi đưa ra nhiều phương án, thuyết phục rằng sẽ cố gắng khắc phục khó khăn, lấy năng suất để tăng lợi nhuận. Cuối cùng được ông Park đồng ý".

Tháng 6/2013, Lê Lương Nguyên thành lập Công ty TNHH Strongplus Elevator Việt-Hàn với vốn điều lệ 2,1 tỷ đồng. Khoảng tám tháng sau, khi container hàng đầu tiên xuống tàu xuất cảng sang Hàn Quốc và vượt qua cuộc kiểm tra chất lượng của đối tác, anh mới có thể thở phào. Giữa năm 2015, từ nhà xưởng chỉ rộng 300 m2 ban đầu, anh đầu tư nhà xưởng mới rộng 1.800 m2 ở phường Vinh Hưng (Nghệ An). Trong lần đến thăm nhà xưởng của lao động cũ - nay đã là đối tác, chính ông Park đề xuất hỗ trợ máy móc gấp năm lần số anh Nguyên hiện có và tăng đơn hàng các sản phẩm cơ khí lên 4-5 container/tháng.

Ngoài sản xuất bu-lông, năm 2016, anh Nguyên lấn sân sang nhập khẩu và lắp đặt hệ thống thang máy, trở thành đại diện phân phối thang máy, thang cuốn của các hãng: Netis, Fuji, Mitsubishi, Hyundai, Nippon… tại thị trường Việt Nam. Từ năm lao động ban đầu, công ty của anh đang tạo việc làm thường xuyên cho gần 100 lao động, mức lương từ 9-16 triệu đồng.

"Tôi nghĩ, xuất khẩu lao động là cơ hội để thoát nghèo, nhưng mỗi người cần có một kế hoạch lâu dài. Sau khi hết hạn hợp đồng, cần tính toán những bước đi hợp lý để tiếp tục làm giàu trên quê hương mình", anh Nguyên chia sẻ.

Cơ hội rộng mở với lao động hồi hương

Không chỉ anh Lê Lương Nguyên, nhiều lao động ở Nghệ An chọn trở về quê nhà gây dựng sự nghiệp sau khi đã tích góp được một số vốn trong tay sau bao năm làm việc nơi xứ người. Như anh Nguyễn Đình Quý, chủ xưởng nội thất gia đình ở xã Minh Châu, anh Lê Thanh Tuấn ở xã Hưng Nguyên mở siêu thị mini và đang làm ăn phát đạt…

Nghệ An từng là một trong những địa phương có nhiều người bỏ trốn sau khi hết hạn hợp đồng lao động ngoài nước, cư trú bất hợp pháp. Hàn Quốc từng tạm dừng cấp visa cho lao động xuất khẩu của địa phương này. Để giải quyết "điểm đen" này, các cơ quan chức năng tỉnh Nghệ An đã phối hợp Cục Quản lý lao động ngoài nước, có nhiều động thái tích cực để thuyết phục đối tác Hàn Quốc gỡ bỏ việc tạm dừng tuyển chọn lao động Nghệ An. Từ đó, những lao động đang ở trong nước có cơ hội được tiếp cận với chương trình EPS (chương trình cấp phép việc làm được Chính phủ Việt Nam và Hàn Quốc hợp tác để đưa người lao động Việt Nam sang làm việc hợp pháp tại Hàn Quốc).

Giai đoạn 2021-2025, tỉnh Nghệ An có 98.427 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Bà Đặng Thị Phương Thủy, Phó Trưởng phòng Việc làm-An toàn lao động, Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An, cho biết: Công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng tiếp tục được triển khai có hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động đúng hướng. Chất lượng lao động từng bước được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 66,4% năm 2021 lên 71,5% năm 2025.

Còn theo ông Đặng Huy Hồng, Giám đốc Trung tâm Lao động ngoài nước (Bộ Nội vụ), tuy chưa có thống kê chính thức về số người tìm được việc làm sau khi về nước, nhưng thông qua các phiên kết nối, nhiều lao động đã tìm được việc tại doanh nghiệp FDI Nhật Bản, Hàn Quốc. Có người giữ chức tổ trưởng, quản lý; hay có người trở lại Hàn Quốc, Nhật Bản theo diện lao động mẫu mực; hoặc khởi nghiệp, tự kinh doanh buôn bán.

Theo các chuyên gia, việc hỗ trợ lao động hồi hương có việc làm, khởi nghiệp không chỉ tận dụng được nguồn nhân lực có chất lượng, mà còn giúp gợi mở nghề nghiệp tương lai cho những lao động đã và chuẩn bị đi làm việc ở nước ngoài. Từ đó, họ có tâm lý thoải mái, học hỏi, lao động, tích lũy để khi hết hạn hợp đồng, có thể về nước tìm ra con đường đi dài hạn cho mình.

Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Nghệ An đã triển khai nhiều hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người lao động hoàn thành hợp đồng trở về nước. Tham dự các hội nghị, buổi tư vấn, phiên giao dịch việc làm, người lao động từng làm việc ở nước ngoài có cơ hội tiếp cận trực tiếp với các doanh nghiệp tuyển dụng, lựa chọn vị trí việc làm phù hợp với năng lực bản thân.

Có thể bạn quan tâm

Ông Trần Viết Lưu

Tuổi thọ tăng, cơ hội cũng phải tăng!

Việt Nam hiện có hơn 17 triệu người cao tuổi. Khi tuổi thọ trung bình tăng nhanh, nhóm dân số này cần được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển kinh tế-xã hội thay vì gánh nặng an sinh. Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Viết Lưu - Phó Chánh Văn phòng Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam khẳng định: Thay đổi nhận thức của xã hội chính là bước đi tiên quyết cho quá trình chuyển đổi này.

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam.

Mấu chốt là hoàn thiện thể chế và chuyển đổi tư duy quản lý

Đây là hai điểm quan trọng được TS Đặng Việt Dũng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (ảnh nhỏ) phân tích kỹ càng trong cuộc trả lời phỏng vấn của Nhân Dân cuối tuần, về các giải pháp biến chất thải xây dựng thành tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Dự án Vành đai 2,5 đoạn qua phường Yên Hòa, nhiều hạng mục đang thi công phát sinh bụi dày đặc.

Giải quyết căn cơ bài toán vì môi trường Hà Nội

Thành phố Hà Nội đang đồng loạt triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn, từ các tuyến đường vành đai, cầu vượt sông Hồng đến những khu đô thị mới. Đi cùng tốc độ giải phóng mặt bằng và tháo dỡ công trình là lượng chất thải xây dựng tăng đột biến. Theo ước tính, từ đầu năm 2026 đến nay, khối lượng chất thải phát sinh đã đạt khoảng 1,5 triệu tấn.

Ông Nguyễn Ngọc Tuấn cho biết: “Những doanh nghiệp tiên phong như Toàn Cầu không thể khai thác hết công suất do thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào”. Ảnh: Thành Đạt

Gỡ khó để doanh nghiệp dám đầu tư

Nguồn chất thải xây dựng phục vụ tái chế chưa ổn định và chưa được quản lý theo chuỗi chính là những rào cản lớn khiến cho doanh nghiệp tái chế chất thải xây dựng gặp nhiều khó khăn.

Một sản phẩm gạch tái chế từ chất thải xây dựng của Hà Lan. Ảnh: Chuyên gia cung cấp

Kích hoạt kinh tế tuần hoàn trong ngành xây dựng

Theo nhiều thống kê quốc tế, chất thải xây dựng hiện chiếm từ 25-40% tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở nhiều quốc gia. Ngày nay, tại nhiều nước phát triển, chất thải xây dựng đã được nhìn nhận như một tài nguyên thứ cấp có giá trị, góp phần quan trọng vào mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.