Chiến lược xanh nâng cao năng lực cạnh tranh

Bước vào kỷ nguyên mới, mục tiêu phát triển bền vững không chỉ là xu thế mà là lựa chọn tất yếu để hiện thực hóa khát vọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong một bối cảnh đầy biến động hiện nay, với lựa chọn tất yếu này, Việt Nam cần thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ, tạo tiền đề phát triển mới cho đất nước.

 Việc ban hành “bộ tứ trụ cột” nghị quyết đã tạo động lực mới cho cộng đồng doanh nghiệp trong triển khai chuyển đổi xanh và thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững tại Việt Nam.
Việc ban hành “bộ tứ trụ cột” nghị quyết đã tạo động lực mới cho cộng đồng doanh nghiệp trong triển khai chuyển đổi xanh và thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững tại Việt Nam.

Cộng đồng doanh nghiệp không chỉ là nơi hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo, áp dụng mô hình kinh doanh mới, mà còn là động lực kiến tạo phát triển bền vững, là chủ thể dẫn dắt quá trình đổi mới công nghệ, triển khai các chuẩn mực trụ cột: môi trường-xã hội-quản trị (ESG) và đóng góp thiết thực vào việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) mà Việt Nam đã cam kết cùng cộng đồng quốc tế.

Việc đánh giá đúng vai trò đặc biệt quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp đã thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp để hiện thực hóa khát vọng phát triển bền vững của Việt Nam”.

Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc

Từ cam kết tới tầm nhìn chiến lược

Theo Báo cáo Phát triển Bền vững 2025 (Sustainable Development Report 2025 - SDR 2025) - báo cáo chính thức của Liên hợp quốc, do UN-DESA và Mạng lưới Giải pháp Phát triển Bền vững (SDSN) biên soạn, theo dõi tiến độ thực hiện SDGs toàn cầu đến năm 2030, hơn 40% diện tích đất toàn cầu đang bị suy thoái đã khiến khoảng một nửa GDP toàn cầu gặp rủi ro. Các vấn đề về an ninh tài nguyên, an ninh năng lượng, an ninh môi trường… đang trở thành vấn đề lớn đối với triển vọng phát triển kinh tế của toàn cầu. Chính vì vậy, đây là thời điểm lịch sử phải chuyển đổi mô hình kinh tế từ khai thác tiêu thụ tài nguyên sang kinh tế dựa vào tri thức, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, ít phát thải. Và phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại và từng bước đi vào chính sách và hành động cụ thể của các quốc gia.

Đối với Việt Nam, theo Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Phạm Tấn Công, với tầm nhìn chiến lược, nhãn quan nhạy bén, Đảng và Nhà nước đã xác định chủ trương và lộ trình hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để phát triển kinh tế xanh, kinh tế các-bon thấp, kinh tế tuần hoàn hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” như cam kết chính trị tại diễn đàn Hội nghị lần thứ 26 các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu. Đây cũng là cơ hội để Việt Nam cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa vào tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học công nghệ; đưa đất nước phát triển theo con đường “xanh” có thu nhập cao vào năm 2045.

Chia sẻ tại Diễn đàn Doanh nghiệp phát triển bền vững Việt Nam năm 2025 (VCSF-2025) được tổ chức tại Hà Nội mới đây, ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam, cũng cho biết, một nội dung được nhấn mạnh tại VCSF-2025 là tiến trình thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 của Liên hợp quốc. Điều này là minh chứng cho nhu cầu cấp bách về một bước chuyển đổi mạnh mẽ hơn, đồng bộ hơn và mang tính hệ thống để tăng tốc trong giai đoạn tới. Trong đó, vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế tư nhân, được xác định là vô cùng quan trọng.

Theo ông Nguyễn Quang Vinh, ở thời điểm 20 năm trước, chúng ta bắt đầu bàn về phát triển bền vững khi chưa có nhiều chiến lược và trụ cột. Bước vào kỷ nguyên mới, phát triển bền vững không chỉ là xu thế mà là lựa chọn tất yếu để hiện thực hóa khát vọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong một bối cảnh đầy biến động hiện nay, để hoàn thành được mục tiêu quan trọng này, Việt Nam cần thực hiện chuyển đổi mạnh mẽ, tạo tiền đề phát triển mới cho đất nước. Việc Bộ Chính trị đã ban hành “bộ tứ trụ cột” nghị quyết đã tạo động lực mới cho cộng đồng doanh nghiệp trong triển khai chuyển đổi xanh và thực hiện SDGs tại Việt Nam.

“Mục tiêu đó được thể hiện không chỉ qua những tiếng nói quan trọng của các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách, hay của cộng đồng doanh nghiệp và các đối tác phát triển, mà còn là nơi thắp sáng niềm tin, củng cố quyết tâm và lan tỏa tinh thần đổi mới, sáng tạo. Là những “chiến sĩ thời bình”, cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam cần ý thức sâu sắc trách nhiệm, nghĩa vụ đồng hành cùng dân tộc phát triển kinh tế theo hướng bền vững, bao trùm vì một Việt Nam hội nhập, hùng cường và thịnh vượng”, Chủ tịch VCCI Phạm Tấn Công tin tưởng.

Vai trò quan trọng của cộng đồng doanh nghiệp

Trong bối cảnh kinh tế hiện tại khiến người tiêu dùng trở nên thận trọng và nhạy cảm hơn đối với mỗi biến động bất thường, từ biến đổi khí hậu, rủi ro an ninh năng lượng, đến xung đột địa chính trị. Điều này tạo ra áp lực không nhỏ cho cộng đồng doanh nghiệp, cũng như ở tầm quản trị quốc gia. Và con đường phát triển bền vững cũng không còn là lựa chọn, mà là tất yếu nếu doanh nghiệp muốn tồn tại và tăng trưởng. Chính vì vậy, ông Nguyễn Quang Vinh nhận định, chúng ta cần xác định phát triển bền vững là con đường nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo giá trị lâu dài cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Trong đó, cộng đồng doanh nghiệp chính là động lực kiến tạo phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Ở góc độ doanh nghiệp, chia sẻ về kinh nghiệm thực tiễn khi doanh nghiệp xây dựng và triển khai chiến lược ESG thích ứng trước những biến động, cân bằng giữa áp lực kinh doanh và tăng trưởng bền vững, ông Lê Hoàng Minh - Giám đốc điều hành Sản xuất kiêm Trưởng dự án Net Zero Công ty Vinamilk cho biết, Vinamilk bắt đầu thực hiện những mục tiêu xanh hóa sản xuất, hướng đến phát triển bền vững từ những năm 2010. Suốt 15 năm qua, việc chuyển đổi năng lượng, áp dụng các giải pháp công nghệ mới, tích hợp dữ liệu, quản trị theo các tiêu chuẩn quốc tế giúp Vinamilk tạo dựng được một hệ sinh thái sản xuất bền vững và thống nhất. Hệ thống nhà kho tự động áp dụng nhiều giải pháp công nghệ tiên tiến trên diện rộng là một phần của hệ sinh thái sản xuất bền vững của Vinamilk. Điều này không chỉ giúp chính doanh nghiệp triển khai lộ trình phát triển bền vững “chuẩn” hơn, mà còn tạo ra thông lệ tốt trong cộng đồng doanh nghiệp.

Bắt nhịp xu thế tất yếu, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như Unilever đã sớm theo đuổi định hướng phát triển bền vững. Bà Lê Thị Hồng Nhi - Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững của Unilever Việt Nam cho biết, suốt hơn 30 năm hiện diện tại Việt Nam, Unilever luôn có những hành động cụ thể, gắn liền với mục tiêu quốc gia, hướng tới phát triển xanh và bền vững ở mọi chu trình đầu tư, vận hành các công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực xanh và bền vững cho đất nước.

Theo bà Nhi, những định hướng, mục tiêu phát triển mới được Đảng và Nhà nước đề ra trong Nghị quyết số 68-NQ/TW - một nghị quyết quan trọng trong “bộ tứ trụ cột”, cũng như với tầm nhìn năm 2045 đầy táo bạo của Chính phủ đã tạo ra niềm tin lớn cho cộng đồng doanh nghiệp. Niềm tin này là động lực để Unilever mạnh dạn triển khai nhiều đổi mới, sáng tạo tại các cơ sở sản xuất của mình. Đơn cử, chỉ một hệ thống ống truyền tải nối cấp trực tiếp vỏ chai nhựa từ xưởng sản xuất của một đối tác tới nhà máy của Unilever tại Bắc Ninh đã giảm được 4.000 tấn CO2/năm, giảm tới hơn 3.000 chuyến xe tải chở vỏ chai nhựa và giảm tới 120.000 hộp giấy đóng gói vỏ chai nhựa/năm...

Tương tự, Nestlé Việt Nam đã và đang chuyển dịch từ vai trò “nhà sản xuất” sang “đối tác phát triển”. Với hướng tiếp cận “tạo giá trị chung”, ông Binu Jacob - Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam chia sẻ, chiến lược Net Zero 2050 của Nestlé được hiện thực hóa qua từng mắt xích trong chuỗi giá trị. Nestlé Việt Nam không chỉ duy trì mục tiêu phát triển kinh doanh, đóng góp vào sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước mà còn triển khai nhiều sáng kiến, chương trình nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng chung của cộng đồng...

Bà Lê Thị Hồng Nhi cho rằng, đây là những minh chứng rõ nét cho nỗ lực tích hợp yếu tố phát triển bền vững phục vụ mục tiêu kinh doanh và tạo giá trị lâu dài cho xã hội, môi trường của cộng đồng doanh nghiệp. Và cũng có thể coi là những thí dụ điển hình cho nỗ lực hiện thực hóa chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước tại doanh nghiệp.

Đánh giá cao vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, tại Diễn đàn VCSF-2025, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc - Chủ tịch Hội đồng Quốc gia về Phát triển bền vững ghi nhận, trong tiến trình thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam, cộng đồng doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm. Do đó, cần chủ động, bản lĩnh và tiên phong trên hành trình phát triển và xây dựng giá trị bền vững thông qua đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, đầu tư mạnh vào phát triển công nghệ lõi, công nghệ nguồn theo hướng xanh và bền vững để có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu đang ngày càng áp dụng các tiêu chuẩn “xanh” nghiêm ngặt.

Có thể bạn quan tâm

Cán bộ kỹ thuật lấy mẫu cho quá trình nghiên cứu chiết tách. (Nguồn: Viện Công nghệ xạ hiếm)

Nền tảng của công nghiệp xanh

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng như cam kết lịch sử đưa mức phát thải ròng về “0”, đất hiếm nổi lên như một nhóm vật liệu chiến lược mang tính quyết định, không thể thay thế.

Ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Chế biến sâu và nâng tầm công nghệ

Chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần, ông Trần Bình Trọng, Cục trưởng Địa chất và Khoáng sản Việt Nam - Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chia sẻ: Trong quá trình cấp phép đầu tư, khai thác đất hiếm phải bảo đảm không chỉ dừng ở khai thác thô mà luôn gắn với chế biến sâu và chuyển giao, nâng tầm công nghệ.

Nếu không được kiểm soát, gánh nặng môi trường do khai thác khoáng sản có thể đè nặng lên vai của cộng đồng dân cư. (Ảnh Hoàng Tuân)

Gia cố “màng lọc” bảo vệ môi trường

Việc tồn tại nhiều điểm khai thác khoáng sản thiếu bền vững, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi sinh đòi hỏi công tác quản lý phải xem xét nghiêm túc, từ đó tìm ra giải pháp phù hợp trong khai thác, tách chế đất hiếm.

Ông Phạm Hùng Cát (trái) chia sẻ nỗi lo lắng khi môi trường bị đe dọa. (Ảnh NAM NGUYỄN)

Bài toán lãng phí kép từ một vụ vi phạm

Từng là một công trường khai thác sôi động, nhưng hiện giờ, khu mỏ đất hiếm thuộc thôn Yên Sơn, xã Xuân Ái (tỉnh Lào Cai) trở nên im lìm. Nhà xưởng bị bỏ hoang, máy móc hoen gỉ, tồn tại nguy cơ đe dọa môi trường nước trong khu vực.

Một dự án khai thác đất hiếm tại bang Alaska (Mỹ).

Điều quan trọng nhất không phải là trữ lượng

Sở hữu tiềm năng đất hiếm đứng thứ hai thế giới, Việt Nam đang nắm trong tay một lợi thế địa kinh tế quan trọng. Tuy nhiên, khoảng cách từ trữ lượng dưới lòng đất đến một ngành công nghiệp mang lại giá trị thực tiễn là một chặng đường dài.

LS Eco Energy (Hàn Quốc) công bố kế hoạch đầu tư hạ tầng tinh luyện đất hiếm tại Thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 12/2025. Nguồn LS Eco Energy

Tận dụng lợi thế chuỗi cung ứng

Với tiềm năng sẵn có, Việt Nam không chỉ cần khai thác đất hiếm một cách thông minh, mà còn cần xây dựng chuỗi cung ứng minh bạch, tận dụng được các lợi thế về tài nguyên.

Mô hình dự án đường sắt tốc độ cao Hà Nội- Quảng Ninh, với tổng mức đầu tư hơn 5,6 tỷ USD vừa chính thức khởi công tại Quảng Ninh. Ảnh có sử dụng đồ họa AI

ĐỘT PHÁ VỀ KẾT NỐI HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, nhiều nghệ sĩ trẻ cùng ekip đã chủ động có các đàm phán đa tầng trong chuyển quyền sử dụng có điều kiện, nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi của mình. Ảnh minh họa: KHIẾU MINH

Lấp đầy những khoảng trống ý thức

Bên cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, được ban hành lần đầu vào cuối năm 2005, có hiệu lực từ ngày 1/7/2006 và đến nay, đã qua nhiều lần sửa đổi để phù hợp với diễn tiến của xã hội, Việt Nam hiện có một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đầy đủ liên quan việc bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Khoảng cách công nghệ giữa đường sắt hiện hữu và đường sắt tốc độ cao là rất lớn, vì vậy Việt Nam cần chuẩn bị tốt việc đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu tiến tới làm chủ công nghệ. Nguồn VNR

Định hình mạng lưới vận tải quốc gia

Trong bối cảnh thế giới đẩy mạnh phát triển hạ tầng giao thông bền vững và hiện đại, đường sắt tốc độ cao không chỉ là biểu tượng của năng lực công nghệ, khả năng tổ chức và tầm nhìn chiến lược quốc gia.

Lớp học nâng cao trình độ về đường sắt tốc độ cao ngành Thi công và Bảo dưỡng công trình.

Mở rộng hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực mới

Một nhiệm vụ mang tính chiến lược, đóng vai trò then chốt trong xây dựng và vận hành đường sắt tốc độ cao, là phải đi trước một bước để đào tạo nguồn nhân lực có đủ năng lực, trình độ tiếp nhận, vận hành, khai thác, bảo trì và từng bước làm chủ các công nghệ tiên tiến, hiện đại đang được áp dụng với đường sắt tốc độ cao.

Ông Nguyễn Quốc Vượng, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (VNR).

Bài toán về tầm nhìn và khả năng làm chủ công nghệ

Được xác định là lĩnh vực ưu tiên chiến lược, hợp tác phát triển đường sắt, nhất là đường sắt tốc độ cao, của Việt Nam không chỉ là câu chuyện của một công trình hạ tầng, mà là bài toán lớn đặt ra yêu cầu làm chủ công nghệ, đào tạo nhân lực và năng lực nội sinh.

Hành khách xếp hàng lên chuyến tàu G8389 tại nhà ga ở thành phố Nam Kinh (Trung Quốc). (Ảnh Tân Hoa xã)

Kinh nghiệm của Trung Quốc - Quốc gia “đi sau, về trước”

Không chỉ hiện thực hóa được mục tiêu “đi sau, về trước”, nhờ có sự đầu tư bài bản, mà hiện Trung Quốc còn đang “dẫn đầu thế giới” trong phát triển hệ thống đường sắt tốc độ cao. Đây là thành công góp phần quan trọng vào những kỳ tích tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội ở quốc gia này.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Bà Phạm Thị Kim Oanh.

Đồng hành để hỗ trợ giới sáng tạo một cách tốt nhất

Nhân Dân cuối tuần có cuộc trao đổi với bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Bản quyền tác giả, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, về những nỗ lực của cơ quan quản lý nhà nước trong việc đồng hành, khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động nâng cao hơn nữa ý thức về bảo vệ quyền tác giả và các quyền liên quan quyền tác giả.

Đồi chè Mộc Châu. (Ảnh Huỳnh Văn Truyền)

Chủ động mở những lối đi

Nhiếp ảnh là một trong những lĩnh vực sáng tác mà việc vi phạm bản quyền xảy ra khá thường xuyên, ở nhiều phương thức, cấp độ khác nhau.

Ngành công nghệ cần đặt an toàn của trẻ em vào khâu thiết kế sản phẩm, thay vì coi đó là phần việc xử lý sau cùng. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Đồng hành để bảo vệ

Internet từ lâu đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống, kể cả với trẻ em. Tuy nhiên, mức độ hiện diện cao ấy không đồng nghĩa với việc thế hệ trẻ có đủ năng lực để tự bảo vệ mình.

Trung ương Đoàn luôn chủ động tạo ra các không gian cởi mở để kịp thời lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của trẻ em.

Lắng nghe đúng, hành động trúng

Trong thời đại kỷ nguyên số, không gian mạng không còn là một công cụ hỗ trợ, mà đã trở thành một môi trường sống song hành với đời sống của trẻ em.

Chiến dịch Không một mình, nằm trong chuỗi các hành động nhằm thực hiện Công ước Hà Nội, hướng tới đồng hành với giới trẻ trong phòng, chống bắt cóc online. Ảnh: Hiệp hội An ninh mạng

Nhật ký một ngày online

LTS - Không phải những con số thống kê khô khan, cũng không phải góc nhìn của người lớn, ký sự này được thực hiện bởi chính những “người trong cuộc” - nhóm phóng viên nhí của Tòa soạn Tiếng Xanh (hoạt động dưới sự hướng dẫn của UNICEF Việt Nam).

Thay vì ngăn chặn, Việt Nam đang hướng đến những giải pháp thân thiện, cùng đồng hành với trẻ trên không gian mạng. Trong ảnh: Trích từ cẩm nang “Tự tin chinh phục Vương quốc Social” của Toà soạn Tiếng Xanh.

Từ chính sách đến từng gia đình

Không gian mạng hôm nay đã là một phần của tuổi thơ Việt Nam. Vì thế, bài toán không còn là “có nên cho trẻ dùng mạng xã hội hay không”, mà là làm sao để trẻ em Việt Nam được lớn lên trong một môi trường số an toàn hơn, lành mạnh hơn và công bằng hơn.

Lần đầu tiên trong lịch sử quy hoạch đô thị Việt Nam, Thủ đô Hà Nội được Trung ương giao quyền lập đồ án Quy hoạch, phù hợp việc tổ chức lại địa giới hành chính, thực hiện chính quyền địa phương hai cấp. Ảnh Thành Đạt

Thách thức trong bước chuyển tư duy

Lời tòa soạn - Theo Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, thành phố sẽ phát triển với cấu trúc đô thị “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”, điểm nhấn xuyên suốt là văn hiến, văn minh, hiện đại, hạnh phúc, trong đó yếu tố “hạnh phúc” được đặt ở vị trí trung tâm.

Hà Nội định hình cấu trúc đô thị theo không gian phát triển mở “đa tầng, đa lớp, đa cực, đa trung tâm”. (Ảnh KHIẾU MINH)

Không để quy hoạch chỉ dừng ở bản vẽ

Quy hoạch Tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm (Quy hoạch) đã được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Quy hoạch cho thấy tầm chiến lược, có các phân kỳ, giai đoạn thực hiện, nhưng cũng cần giải quyết những khó khăn, thách thức để đi vào đời sống.