Bảo đảm nguồn lực và điều kiện thực hiện

Bộ Y tế đang chủ trì xây dựng đề án miễn viện phí nhằm từng bước giảm gánh nặng tài chính cho người dân, đặc biệt với các nhóm yếu thế, đồng thời nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Đề án đặt mục tiêu từng bước mở rộng quyền lợi và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân. (Ảnh: ĐẠT THÀNH)
Đề án đặt mục tiêu từng bước mở rộng quyền lợi và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân. (Ảnh: ĐẠT THÀNH)

Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế, Bộ Y tế (ảnh bên), chia sẻ cùng Nhân Dân cuối tuần chi tiết về tiến độ triển khai, giải pháp tài chính và phạm vi quyền lợi của chính sách này.

Đa dạng hóa nguồn tài chính, nâng cao năng lực hệ thống y tế

- Bộ Y tế được Chính phủ giao chủ trì xây dựng đề án từng bước thực hiện chính sách miễn viện phí. Xin bà cho biết, tiến độ xây dựng đề án đến thời điểm này?

- Đây là nhiệm vụ hết sức nặng nề mà Chính phủ giao cho Bộ Y tế chủ trì thực hiện. Đến nay, Bộ Y tế đã xây dựng khung chính sách miễn viện phí, cũng như đã tổ chức hội thảo xin ý kiến các bên liên quan và chuyên gia lần 1 về định hướng xây dựng đề án.

Đề án có năm nhóm mục tiêu: Từng bước mở rộng quyền lợi và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăm sóc sức khỏe nhân dân; giảm gánh nặng tài chính của người dân trong chi tiêu y tế, đặc biệt là một số đối tượng nhạy cảm như người nghèo, cận nghèo, đối tượng chính sách xã hội; tăng cơ hội và bảo đảm công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế; chuyển hướng sang phòng bệnh, sàng lọc bệnh từ xa, từ sớm, góp phần giảm bớt chi phí điều trị giai đoạn muộn; và bảo đảm nguồn lực lâu dài, bền vững.

Phạm vi của chính sách miễn viện phí là một nội dung rất khó. Chúng tôi đã mất 5 tháng tham mưu, xây dựng để bảo đảm khi đưa ra phải khả thi. Trong đó, chính sách phải dựa trên trụ cột là bảo hiểm y tế toàn dân; đồng thời giảm dần và tiến tới miễn tỷ lệ cùng chi trả.

Gói dịch vụ y tế cơ bản thuộc phạm vi miễn viện phí sẽ ban hành danh mục dịch vụ, bệnh, thuốc và thiết bị y tế, bao phủ các bệnh thông thường, ưu tiên những bệnh cần thiết trước, mở rộng dần theo yêu cầu chuyên môn và khả năng ngân sách Nhà nước, Quỹ Bảo hiểm y tế, kết hợp huy động xã hội hóa.

Chính sách sẽ xây dựng mức chi tối đa cho mỗi lượt khám, chữa bệnh dựa trên chi phí nội trú - ngoại trú bình quân toàn quốc, điều chỉnh theo năm hoặc giai đoạn, trừ các bệnh và kỹ thuật có chi phí lớn. Trước mắt, mô hình áp dụng tại cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu, tuyến cơ bản, bao gồm bệnh viện công và tư. Việc triển khai theo lộ trình, có thứ tự ưu tiên, phù hợp mức đóng, khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế và điều kiện kinh tế-xã hội từng thời kỳ.

- Theo các tính toán, việc thực hiện chính sách miễn viện phí sẽ cần nguồn lực tài chính rất lớn và có thể làm gia tăng đáng kể chi tiêu của Quỹ Bảo hiểm y tế. Vậy, Bộ Y tế có những giải pháp gì để bảo đảm khả năng cân đối tài chính?

- Theo đánh giá tác động, chi phí gia tăng tối đa giai đoạn đến 2027 (tăng mức hưởng lên tới 100% cho hộ cận nghèo và người cao tuổi từ 75 tuổi) ước tính từ 455 tỷ đến 2.793 tỷ đồng/năm và khoảng 21.500 tỷ đồng/năm vào năm 2030 khi miễn viện phí cơ bản cho toàn dân. Bộ Y tế đề xuất năm giải pháp, trong đó ưu tiên số 1 là giải pháp tài chính.

Để có nguồn tài chính bền vững, Bộ Y tế đề xuất tăng chi ngân sách và sử dụng một phần kinh phí chương trình Mục tiêu quốc gia về Y tế - Dân số giai đoạn 2026-2035, thể hiện trong tinh thần Nghị quyết 72-NQ/TW; đa dạng hóa các nguồn tài chính khác như bảo hiểm y tế bổ sung, bảo hiểm sức khỏe thương mại, hỗ trợ bệnh nhân, thí điểm thu từ các nguồn thuế đối với sản phẩm ảnh hưởng đến sức khỏe; đổi mới phương thức chi trả dịch vụ, nâng cao hiệu quả quản lý Quỹ Bảo hiểm y tế và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nguồn lực.

Bên cạnh giải pháp tài chính còn có giải pháp nâng cao năng lực hệ thống y tế, như cải thiện chất lượng dịch vụ, đầu tư nâng cao năng lực tuyến dưới để bảo đảm khám miễn phí phải chất lượng, thậm chí cao hơn khám thông thường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số vào khám, chữa bệnh; liên thông dữ liệu y tế để giảm chi phí xét nghiệm.

Cùng đó là giải pháp giám sát và đánh giá. Chúng ta bỏ ra khối lượng tài chính rất lớn nên phải chi tiêu hiệu quả, cần cơ chế giám sát chặt chẽ, minh bạch. Dữ liệu phải được thu thập đầy đủ để đánh giá chất lượng điều trị của dịch vụ khám miễn phí, hướng tới nâng cao chất lượng điều trị, phòng ngừa bất bình đẳng mới giữa các nhóm dân cư và phòng chống lạm dụng, lãng phí.

Chọn lọc mô hình, cách thức triển khai

- Hướng tới mục tiêu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân vào năm 2030, Bộ Y tế đánh giá như thế nào về khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế theo lộ trình miễn viện phí?

- Quỹ Bảo hiểm y tế cơ bản đã bao phủ công tác khám, chữa bệnh. Tuy nhiên, chính sách miễn viện phí không chỉ chi trả cho khám và điều trị mà còn cho dịch vụ phòng bệnh như sàng lọc bệnh và một số gói dịch vụ y tế cơ bản. Trong giai đoạn tới, cùng với Quỹ Bảo hiểm y tế, nguồn tài chính có thể lấy một phần từ chương trình mục tiêu, một phần từ ngân sách Nhà nước, là nguồn chủ đạo để thực hiện chính sách miễn viện phí.

Các quốc gia thực hiện chính sách miễn viện phí thường yêu cầu người dân đồng chi trả mức nhất định, để bảo đảm sử dụng tiết kiệm và có ý thức trách nhiệm. Bộ Y tế và cơ quan chức năng đang rà soát kinh nghiệm quốc tế, chọn lọc mô hình, cách thức triển khai miễn phí y tế trong phạm vi quyền lợi cơ bản, từ đó áp dụng phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội, cơ cấu chi phí y tế, đặc điểm sử dụng dịch vụ y tế và hệ thống y tế hiện có của Việt Nam.

- Bà có thể chia sẻ dự kiến thời điểm cụ thể mà người dân sẽ được khám, chữa bệnh miễn phí?

- Bộ Y tế đang hoàn thiện về mặt kỹ thuật và xây dựng văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện việc khám miễn phí cho người dân từ năm 2026. Chúng ta không kỳ vọng có thể triển khai ngay từ ngày 1/1/2026, mà sẽ có thời gian một năm để thực hiện chính sách.

Đây là chính sách lớn thực hiện trên quy mô toàn quốc, đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm đủ nguồn lực và điều kiện tổ chức. Bộ Y tế phấn đấu bảo đảm trong năm 2026 sẽ thực hiện khám sức khỏe định kỳ theo lộ trình cho người dân, như đã nêu trong Nghị quyết 72-NQ/TW. Trên cơ sở này, sẽ hoàn thành việc tạo lập hồ sơ sức khỏe điện tử ban đầu cho người dân.

Hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng gói chỉ tiêu, các chỉ số khám sức khỏe định kỳ, đồng thời xây dựng kế hoạch tổng thể, bao gồm xác định đối tượng khám, các chỉ tiêu khám và phân công trách nhiệm chủ đạo cho chính quyền địa phương trong việc tổ chức thực hiện.

Phạm vi quyền lợi của chính sách được thiết kế tập trung vào cấp khám, chữa bệnh ban đầu, y tế cơ sở, sau đó mở rộng lên cấp cơ bản, thực hiện theo lộ trình và gắn với các nhóm đối tượng ưu tiên. Lộ trình này sẽ phụ thuộc vào khả năng cân đối của Quỹ Bảo hiểm y tế, ngân sách Nhà nước và các nguồn xã hội hóa khác.

Trước mắt, chính sách ưu tiên một số nhóm đối tượng chính sách xã hội, bao gồm: người nghèo, cận nghèo, người có thu nhập trung bình, các đối tượng yếu thế khác và người cao tuổi. Về lâu dài, phạm vi quyền lợi sẽ được mở rộng dần theo thời gian và khả năng cân đối của ngân sách cũng như Quỹ Bảo hiểm y tế.

Chi phí khám miễn phí bước đầu ước tính khoảng 300.000 đồng/người, tùy theo đối tượng khám. Ngân sách Nhà nước sẽ chi trả bước đầu, người sử dụng lao động sẽ chi trả phần cho người lao động thuộc diện chính sách này. Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ hỗ trợ theo lộ trình, trước mắt dành cho học sinh và sinh viên.

Về quá trình tổ chức triển khai, từng tỉnh sẽ ban hành kế hoạch cụ thể tại địa phương để thực hiện từng bước. Khám bệnh miễn phí tại trạm y tế xã sẽ được phân luồng vào một số ngày nhất định, có sự hỗ trợ của y tế tuyến trên. Lịch khám sẽ được tuyên truyền rộng rãi để người dân nắm rõ, tránh lãng phí nguồn lực.

Để chi trả kinh phí cho các cơ sở y tế tổ chức khám bệnh miễn phí, dự kiến có hai hình thức, một là ngân sách Nhà nước chi trả trực tiếp cho các cơ sở, các cơ sở này sẽ dự toán theo phân cấp ngân sách; hai là Nhà nước chuyển kinh phí vào Quỹ Bảo hiểm y tế, khi người dân đến khám sức khỏe định kỳ, Quỹ Bảo hiểm y tế sẽ thanh toán trực tiếp cùng với kinh phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế hiện hành. Cách làm này sẽ tiết kiệm được khâu tổ chức thực hiện.

- Trân trọng cảm ơn bà!

Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế.

Bà Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế.

Bộ Y tế sẽ trình Thủ tướng sớm ban hành kế hoạch triển khai thực hiện chính sách miễn viện phí chung cho toàn quốc. Khi có kế hoạch, Bộ sẽ công khai để người dân biết, nắm được quyền lợi, nơi khám, chữa bệnh và cách thức thực hiện, bảo đảm người dân được khám, chữa bệnh theo đúng phạm vi quyền lợi như đã nêu trong Nghị quyết 72-NQ/TW.

Trần Thị Trang, Vụ trưởng Bảo hiểm Y tế

Có thể bạn quan tâm

Chất thải xây dựng phát sinh lớn trong quá trình phá dỡ công trình ở Hà Nội. Ảnh: Thành Đạt

Không để “tài nguyên” thành phế thải đô thị

Trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển hạ tầng được thúc đẩy mạnh mẽ, khối lượng chất thải xây dựng và phá dỡ công trình đang gia tăng áp lực lên các đô thị lớn. Nếu không sớm thay đổi tư duy quản lý và chuyển hướng sang tái sử dụng, nguồn tài nguyên thứ cấp khổng lồ này sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, biến thành gánh nặng cho hệ thống xử lý và gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường.

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Cấp bách bài toán an ninh năng lượng

Trước đòi hỏi đáp ứng mục tiêu tăng trưởng cao cùng những áp lực ngày một gia tăng bởi biến đổi khí hậu và những biến động địa chính trị trên toàn cầu, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam không chỉ đẩy mạnh xử lý các dự án chậm tiến độ mà quan trọng hơn, cần đến cuộc “đại phẫu” giàu tính chiến lược và khoa học cho ngành quan trọng này. Tốc độ hoàn thiện thể chế chính là yếu tố quyết định liệu chúng ta có về đích - bổ sung 90.000 MW còn thiếu cho hệ thống trong chưa đầy 5 năm tới hay không?

Công nhân EVNHANOI kiểm tra vận hành Hệ thống thiết bị đóng cắt hợp bộ tại trạm biến áp. Ảnh: Thành Đạt

Phát triển hạ tầng nguồn điện cho tăng trưởng hai con số

Trong tiến trình hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước, bảo đảm an ninh năng lượng là vấn đề tiên quyết. “Điện đi trước một bước” và càng phải “đi” nhanh hơn, trong quá trình chuyển dịch năng lượng đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn cầu.

TS Đỗ Minh Thắng. Ảnh: NVCC

“Quy hoạch dài hạn, dự báo chính xác và chuẩn bị nguồn lực từ sớm”

Những cảnh báo về nguy cơ xuất hiện Siêu El Niño vào thời gian tới đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo đảm đủ điện cho sản xuất và đời sống. Song, bảo đảm cung ứng điện không chỉ là chuyện của một mùa. Để góp phần tìm lời giải cho những thách thức mang tính cấu trúc của ngành điện, Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trò chuyện với TS Đỗ Minh Thắng, Trưởng bộ phận năng lượng, Công ty Meteodyn (Pháp).

Ngành điện Cao Bằng chủ động các biện pháp phòng ngừa để đồng hành doanh nghiệp trong mùa cao điểm thiếu điện. Ảnh: Hoàng Yến

Đối phó thiếu hụt cung ứng điện mùa khô

Năm 2026 được dự báo có mùa khô hạn khốc liệt, nguy cơ thiếu điện sản xuất là rất lớn. Thay vì bị động ứng phó tình thế, cơ quan quản lý, ngành điện và các doanh nghiệp hiện nay đã chuyển sang tư duy quản trị rủi ro từ sớm bằng hàng loạt giải pháp thực tế.

VINASOL triển khai nâng cấp Hệ thống BESS lưu trữ 260 kWh cho một nhà máy ở Thành phố Hồ Chí Minh.

Những khoảng cách cần sớm thu hẹp

Theo số liệu của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đến nay, hơn 23.000 MW điện gió và điện mặt trời đã được triển khai trong nước, chiếm khoảng 27% tổng công suất toàn hệ thống. Nếu so tổng công suất pin lưu trữ năng lượng (BESS) dự kiến hoàn thành trong năm 2026 trên cả nước ước đạt 900 MW sẽ thấy sự chênh lệch lớn giữa nhu cầu thực tế trước mắt và mục tiêu dài hạn về công suất lắp đặt hệ thống BESS tại Việt Nam.

Trung tâm dữ liệu DayOne tại Bang Johor (Malaysia) hoạt động với công suất 478 MW.

Chấp nhận trả giá trước hay sau?

Câu chuyện về nguồn cung năng lượng tại hai nước láng giềng Đông Nam Á của Việt Nam là Thái Lan và Malaysia có thể gợi lên nhiều điểm đáng lưu tâm.

Đọc sâu và thấu hiểu là một thách thức với giới trẻ ngày nay. Ảnh: THÀNH ĐẠT

Ươm mầm văn hóa đọc trong thời đại số

Công nghệ số đang làm thay đổi căn bản cách con người tiếp cận tri thức. Chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi cá nhân đều có thể tìm kiếm gần như mọi thông tin cần thiết trong vài giây.

Các không gian đọc cộng đồng cần được quan tâm đầu tư thành những điểm hẹn văn hóa. Ảnh: TRANG PHI

Con đường đầu tư cho tương lai

Hình ảnh người ngồi đọc sách ở các địa điểm công cộng ngày càng trở nên hiếm gặp, song sẽ là phiến diện nếu cho rằng người Việt đang quay lưng với sách. Thực tế cho thấy nhu cầu đọc vẫn tồn tại dưới nhiều dạng thức. Mối bận tâm về văn hóa đọc, do đó, không phải là cộng đồng “có đọc hay không”, mà là chúng ta nên “đọc gì, đọc như thế nào và dành bao nhiêu thời gian cho việc đọc sâu”.

PGS, TS Nguyễn Văn Tùng

Từ phong trào đến tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục

Nhà trường có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành văn hóa đọc, bởi đây là môi trường giáo dục nền tảng, nơi hình thành thói quen, nhân cách và phương pháp học tập của mỗi con người. PGS, TS Nguyễn Văn Tùng, thành viên Hội đồng thành viên, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam chia sẻ với Nhân Dân cuối tuần về các giải pháp phát triển văn hóa đọc cho học sinh.

TS Nguyễn Mạnh Hùng (người ngồi bên trái) trò chuyện với kỹ sư Lê Thanh Hải. Ảnh: Tuyết Minh

Một cánh cửa mới

Từ trước đến nay, khi nói đến văn hóa đọc, chúng ta thường nghĩ đến việc đọc sách. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng nếu nhìn rộng hơn, đọc không chỉ là đọc chữ. Đọc còn là đọc con người, đọc cuộc đời, đọc thiên nhiên, đọc xã hội và cuối cùng là đọc chính mình.

Diễn giả Nguyễn Quốc Vương trong một lần chia sẻ về văn hóa đọc với các em học sinh. Ảnh: NVCC

Như mạch nước kiên trì lan tỏa

Năm nay đánh dấu 10 năm tôi theo đuổi con đường khuyến đọc. Trong 10 năm đó, tất cả công việc của tôi đều tập trung vào hoạt động khuyến đọc bao gồm viết, đọc, nói (diễn thuyết). Và thật sự, con đường này vẫn vô cùng gian nan.

Không ít bạn trẻ lướt mạng thay vì đọc sâu. Ảnh: VĂN HỌC

Dừng lại, suy ngẫm và chuyển hóa

Khi sự chú ý liên tục bị phân tán bởi các luồng thông tin ngắn, phản hồi tức thời, việc dành thời gian cho một cuốn sách, ý tưởng hay quá trình suy tư ngày càng trở nên khó khăn.

Mục tiêu không chỉ là sản xuất nhiều gạo hơn mà là sản xuất gạo chất lượng cao hơn, giảm phát thải hơn. Trong ảnh: Cánh đồng lúa chất lượng cao ở xã Gia Hòa, thành phố Cần Thơ. Ảnh: Phương Bằng

Nông nghiệp với ngã rẽ chuyển đổi tư duy

Biến đổi khí hậu cùng với các yêu cầu mới của thị trường toàn cầu về giảm phát thải khí nhà kính, sản xuất xanh và phát triển bền vững đang trở thành những tiêu chuẩn bắt buộc, để nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải chuyển đổi tư duy sản xuất, tập trung vào chất lượng, hiệu quả và khả năng thích ứng.

Châu thổ Cửu Long.

Kiến tạo động lực tăng trưởng bền vững

Trước câu hỏi, đâu là mô hình tăng trưởng phù hợp để vừa phát huy những lợi thế sẵn có vừa giữ gìn bản sắc văn hóa sông nước vùng châu thổ Cửu Long? Nhân Dân cuối tuần đã ghi lại những ý kiến trao đổi của lãnh đạo các địa phương.

Hàng loạt công trình hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia được đầu tư xây dựng, góp phần kiến tạo động lực để vùng Đồng bằng sông Cửu Long cất cánh. Trong ảnh: Thi công cao tốc trục ngang Châu Đốc - Trần Đề. Ảnh: Phương Bằng

Vận hội vươn mình trước làn sóng đầu tư

Sau nhiều thập niên là “vùng trũng” về hạ tầng giao thông và thu hút đầu tư, Đồng bằng sông Cửu Long đang đứng trước vận hội mới. Những tuyến cao tốc, trục dọc, đường ngang, đường vành đai ven biển, ven biên giới, nhiều cầu lớn vượt sông dần nên hình hài... góp phần vào việc thu hẹp khoảng cách kinh tế một cách nhanh chóng và tạo đà tăng trưởng mạnh mẽ.

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Phát triển du lịch trải nghiệm: Hướng đến mục tiêu kép

Du lịch trải nghiệm (Experiential travel) hay còn có cái tên khác là du lịch hòa nhập (Immersive travel) đã và đang hiện diện ngày càng rõ ràng hơn trong nhiều loại hình sản phẩm khác nhau ở Việt Nam, với một điểm chung: Yếu tố trải nghiệm luôn được ưu tiên ở vị trí số một.

Du khách trải nghiệm làm rối nước tại thôn Bàn Thạch (tên nôm là thôn Rạch), phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình. Ảnh: LƯƠNG VĂN PHƯƠNG

Thước đo mới cho giá trị điểm đến

Là một xu hướng mới tại Việt Nam, đặc biệt từ sau đại dịch Covid-19, du lịch trải nghiệm khuyến khích du khách tối đa hóa các giá trị nhận lại từ điểm đến bằng cách hòa mình kết nối và trở thành một phần của đời sống, văn hóa địa phương, thay vì chỉ đóng vai trò quan sát, nhìn ngắm hời hợt.

Du khách học cách làm món đồ uống độc đáo cà-phê trứng của Hà Nội. (Nguồn ảnh: Dine With Locals)

Cách để “bán” câu chuyện cuộc sống

Truyền thống lịch sử lâu đời cùng địa lý đa dạng và nền văn hóa giàu bản sắc là nền tảng, điểm tựa để Việt Nam phát triển du lịch bền vững với phong phú yếu tố trải nghiệm. Chung quanh chủ đề này, Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số chuyên gia và người trực tiếp làm công tác quản lý, vận hành dịch vụ/ mô hình du lịch trải nghiệm ở Việt Nam.

Khách du lịch tham gia các hoạt động trải nghiệm trong tour Về làng học thêu tay. Ảnh: DÃ LIÊN

Tạo sức hút và năng lực cạnh tranh mới

Mô hình trải nghiệm làng nghề ở Hà Nội đã có từ lâu, như ở làng gốm Bát Tràng, song phần lớn đều dừng ở mức đơn giản, nặng tính “cưỡi ngựa xem hoa”, hoặc như một gia vị cho hoạt động tham quan. Thời gian gần đây, nhiều làng nghề đã đổi mới cách làm, từ đó tạo nên sức hút và năng lực cạnh tranh mới.

Trước mắt anh Phương Nam, Côn Đảo mở ra biết bao nhịp sống xanh, nguyên sơ, trong trẻo. Ảnh: MINH LÊ

Những “điểm chạm” nguyên sơ, trong trẻo

Côn Đảo lâu nay thường được nhắc đến như một vùng đất chứa đựng ký ức lịch sử bi tráng của dân tộc, với hệ thống nhà tù của thực dân và đế quốc cùng những trang sử đấu tranh của các chiến sĩ cách mạng. Nhưng đối với nhiều du khách, sau những “điểm chạm” vào thiên nhiên ở nơi này, Côn Đảo còn là biết bao nhịp xanh, nguyên sơ, trong trẻo.

Bên cạnh gia đình luôn là khoảng thời gian chất lượng để vun trồng một thế hệ hạnh phúc. Ảnh: UNICEF Việt Nam

Hôm nay, tôi đã lắng nghe con mình chưa?

Trong nhiều cuộc tiếp xúc với phụ huynh, rất nhiều cha mẹ chia sẻ với tôi một nguyện vọng rất thật: “Mong con được hạnh phúc”. Song, khi được hỏi: “Hạnh phúc là gì?”, nhiều người lại ngập ngừng.

Bà Nguyễn Phạm Duy Trang.

An toàn là nền móng của hạnh phúc!

Mùa hè không chỉ là khoảng thời gian nghỉ ngơi, vui chơi của trẻ em, mà còn là thời điểm đặt ra nhiều nỗi lo về an toàn, sức khỏe tinh thần và môi trường phát triển của các em trong bối cảnh xã hội hiện đại.