Mai Lan sinh ra tại Quất Ðộng, gắn bó với nghề thêu. Nhưng sau này, cô gái trẻ theo nghề phóng viên. Phải rất lâu sau khi rời xa làng quê ấy, Mai Lan mới nhận thấy vẻ đẹp của thêu cổ truyền, và khả năng chinh phục thị trường của sản phẩm thêu. Mai Lan học lại nghề thêu để nắm vững kỹ thuật, cô cùng đồng nghiệp thiết kế mẫu mã và quảng bá sản phẩm của Quất Ðộng tới khách hàng, và đem những đơn hàng này để người thợ thêu ở Quất Ðộng thực hiện.
Sau hai năm hoạt động, tiệm thêu Tú Thị đã có lượng khách hàng ổn định và đang có cơ hội phát triển. Nhưng nếu chỉ nhìn bề ngoài, khó thấy hết những khó khăn trong nỗ lực tìm hướng đi cho nghề thêu. Mai Lan chia sẻ: “Một trong những trở lực lớn nhất trong khôi phục nghề truyền thống chính là tư duy. Khách hàng luôn yêu cầu lịch hẹn trả hàng. Nhưng người dân quê hầu như không quan tâm đến vấn đề này. Người thợ ở quê lâu nay vốn làm nghề nông nghiệp, nghề thêu được xem là “nghề phụ”. Bây giờ thực ra “nghề phụ” cho thu nhập cao hơn “nghề chính” rất nhiều, song lối tư duy kiểu “làng xã” vẫn không thay đổi”.
Tự tin rằng “có thể thêu cả thế giới”, Mai Lan lạc quan về triển vọng của nghề thêu Quất Ðộng. Chẳng hạn như có thể mở rộng sang tổ chức tua du lịch trải nghiệm nghề thêu. Tuy nhiên, điều cô lo ngại nhất, chính là làm sao để người dân hiểu được khái niệm “làm dịch vụ”. Ðể họ giữ được chữ tín, họ biết phục vụ khách từ những điều nhỏ bé như chén trà làm đầu câu chuyện, biết niềm nở mỉm cười ngay cả khi không thấy trước được lợi nhuận thu về.
Câu chuyện của Mai Lan cũng là nỗi lo của một người tâm huyết với làng nghề khác - họa sĩ Trần Mạnh Thiều ở làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ, Bắc Ninh). Trần Mạnh Thiều từng học hỏi kinh nghiệm làm ăn quốc tế của những thương hiệu gốm sứ lớn, cũng từng xuất khẩu được một số đơn hàng lớn. Nhưng có những “trở lực” rất khó vượt qua. Chẳng hạn như, đơn hàng hoàn toàn có thể bị đổ bể lịch giao hàng chỉ vì có đến bảy tám người làm trong xưởng gốm cùng đi ăn cưới hay ăn giỗ!?
Từ lâu, các nhà khoa học đã “giải mã” những điểm mạnh, điểm yếu của văn hóa tiểu nông - đặc trưng của xã hội Việt Nam một thuở. Tính tùy tiện sinh ra thói quen “giờ cao-su”, thiếu tôn trọng pháp luật khi tham gia giao thông là những điển hình. Song, đó là những thứ ở bề nổi dễ thấy. Lối sống tiểu nông đề cao giá trị cộng đồng làng xóm, họ hàng. Giá trị ấy thể hiện trong những dịp lễ hội, giỗ chạp, ma chay, cưới hỏi... Người dân quê rất coi trọng sự hiện diện của những thành viên khác trong những dịp làng xóm, hay gia đình “có việc”. Ở nhiều làng quê, dịp cuối năm, là “mùa ăn cỗ”, khi đủ loại cỗ cưới hỏi, cỗ giỗ, cỗ tổng kết việc họ, cho đến ma chay... Ðầu năm, là mùa hội. Hội làng mình, rồi người làng nọ mời người làng kia sang chơi hội. Ngôi làng xưa khép kín, năm hai vụ còn lại là tiết nông nhàn, lối sống đó phù hợp. Nhưng xã hội bây giờ đã khác. Hội nhập đòi hỏi những thay đổi nhất định trong nếp sống, nếu không muốn tụt hậu.
Phần lớn các làng nghề đang vật lộn để tìm hướng phát triển. Nhưng muốn phát triển, phải biết “vượt qua chính mình”. Tôi từng gặp nhiều doanh nghiệp làng nghề khác chung nỗi lo của Bùi Mai Lan hay Trần Mạnh Thiều. Họ không sợ thị trường, cũng không sợ mình không đủ khả năng. Nỗi lo lớn nhất là ở tư duy làng xã trong thời hội nhập.